Mục Lục
ToggleGiám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội Bùi Thế Duy vừa ký quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn Hoàng Oanh giữ chức vụ Hiệu trưởng Trường đại học Việt Nhật – Đại học Quốc gia Hà Nội, hiệu lực từ ngày 12-4.
Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Oanh, 47 tuổi, quê Hải Phòng. Ông là tiến sĩ vật lý, tốt nghiệp tại Đại học Tsukuba, Nhật Bản năm 2010.
Trước đó, từ tháng 7 đến 9-2000, ông từng là nghiên cứu viên tại Viện Vật lý, Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Từ tháng 9-2000 đến 3-2015, ông là cán bộ giảng dạy, khoa vật lý, Trường đại học Khoa học tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội. Ông từng đảm nhận chức vụ Phó chủ nhiệm bộ môn tin học vật lý, trợ lý chủ nhiệm khoa, Phó chủ nhiệm khoa phụ trách đào tạo.
Từ tháng 3-2015 đến 8-2016, ông giữ chức vụ Phó trưởng ban phụ trách đào tạo và khoa học công nghệ, ban quản lý Trường đại học Việt Nhật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Từ tháng 8-2016 đến nay, ông là Phó hiệu trưởng Trường đại học Việt Nhật, Đại học Quốc gia Hà Nội (đảm nhiệm vai trò Phó hiệu trưởng thường trực từ năm 2023 đến nay).
Giáo Dục
Chất lượng giáo dục địa phương sau sáp nhập nhìn từ đối sánh điểm thi tốt nghiệp THPT

Thành công nổi bật của hoạt động đối sánh giai đoạn 2020-2025 là góp phần minh bạch chất lượng giáo dục phổ thông (GDPT). Thay vì chỉ dựa vào tỷ lệ tốt nghiệp hay số lượng điểm cao, dữ liệu đối sánh giúp nhận diện rõ hơn chất lượng thực của quá trình dạy và học. Nhờ đó, nhiều địa phương xác định được vị trí của mình trong tương quan cả nước (đối sánh ngang) và theo dõi được xu hướng tiến bộ hay thụt lùi qua các năm (đối sánh dọc).
Đối sánh cũng tạo ra áp lực cải tiến tích cực. Khi chênh lệch giữa điểm học bạ và điểm thi được chỉ ra, nhiều địa phương buộc phải rà soát lại công tác kiểm tra, đánh giá trong nhà trường. Một số nơi đã triển khai giải pháp nâng cao chất lượng và đạt kết quả rõ nét khi thứ hạng điểm trung bình thi (TBĐT) toàn quốc được cải thiện. Chẳng hạn, Nghệ An tăng hạng mạnh từ vị trí 38 năm 2020 lên hạng 2 năm 2025; Hà Tĩnh từ 24 lên 4; Vĩnh Phúc (cũ) không chỉ tăng hạng mà nhiều năm giữ vị trí dẫn đầu. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có xu hướng giảm hạng như Vĩnh Long, Đồng Tháp, Lâm Đồng, Đà Nẵng (cũ).
Từ góc độ quản lý, đối sánh góp phần hình thành tư duy sử dụng dữ liệu trong hoạch định chính sách và điều chỉnh hoạt động dạy và học. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất hiện nay là đặt tất cả địa phương vào cùng một "mặt bằng so sánh", trong khi điều kiện kinh tế - xã hội, nguồn lực giáo dục và chất lượng đầu vào rất khác nhau. Vì vậy, đối sánh theo nhóm các địa phương hoặc trường học có điều kiện tương đồng là cách tiếp cận hợp lý, giúp so sánh công bằng và hỗ trợ cải tiến chất lượng giáo dục.
Dữ liệu TBĐT kỳ thi tốt nghiệp THPT giai đoạn 2021–2025 cho thấy có sự phân hóa rõ rệt giữa 12 địa phương, gồm 6 thành phố trực thuộc T.Ư và 6 địa phương sáp nhập vào các thành phố này, như Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Hải Dương, Quảng Nam, Sóc Trăng và Hậu Giang.
"TBĐT 5 năm" của mỗi địa phương được tính bằng trung bình cộng TBĐT từng năm của địa phương đó. Chẳng hạn, Bình Dương có TBĐT từng năm giai đoạn 2021-2025 lần lượt là 7,055, 7,021, 7,161, 7,320 và 6,480 thì "TBĐT 5 năm" của tỉnh này là 7,007.
Tính "TBĐT 5 năm" giai đoạn 2021–2025 của 12 địa phương cho thấy mức bình quân chung đạt 6,490 điểm. Lấy mốc này để so sánh, có 6 địa phương có điểm trung bình cao hơn, gồm: Bình Dương (7,007 điểm), Hải Phòng (6,765 điểm), Hải Dương (6,648 điểm), TP.HCM (6,625 điểm), Hà Nội (6,552 điểm) và Cần Thơ (6,525 điểm).
6 địa phương còn lại có điểm trung bình thấp hơn mức này, gồm: Bà Rịa – Vũng Tàu (6,474 điểm), Huế (6,453 điểm), Đà Nẵng (6,224 điểm), Quảng Nam (6,217 điểm), Hậu Giang (6,197 điểm) và Sóc Trăng (6,187 điểm).
Như vậy, trong 12 địa phương được so sánh, một nửa có kết quả cao hơn mức trung bình chung và một nửa thấp hơn.
Trong nhóm TP.HCM – Bình Dương – Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương nổi bật với điểm trung bình 7,007, luôn nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước. TP.HCM đạt 6,625 điểm, còn Bà Rịa – Vũng Tàu thấp hơn với 6,474 điểm.
Cặp Hải Phòng – Hải Dương có kết quả khá gần nhau (6,765 và 6,648 điểm), cho thấy chất lượng giáo dục trong vùng tương đối cân bằng.
Ở các nhóm còn lại, khoảng cách thể hiện rõ hơn. Đà Nẵng chưa tạo được chênh lệch đáng kể so với Quảng Nam (6,224 so với 6,217), dù điều kiện phát triển thuận lợi hơn. Tại ĐBSCL, Cần Thơ giữ vai trò trung tâm với điểm trung bình cao hơn nhiều so với Hậu Giang và Sóc Trăng, phản ánh sự chênh lệch về chất lượng giáo dục. TBĐT và thứ hạng của 12 địa phương được thể hiện ở bảng sau:
Đối sánh nhóm 6 thành phố lớn sau sáp nhập
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025 có nhiều thay đổi: thi theo Chương trình GDPT 2018, số môn thi giảm còn 4 (toán, ngữ văn và 2 môn tự chọn), ngoại ngữ chuyển từ bắt buộc sang tự chọn. Đồng thời, tuyển sinh ĐH không còn xét tuyển sớm, xét học bạ phải tính cả điểm học kỳ II lớp 12. Những điều chỉnh này đã làm thay đổi bức tranh kết quả thi giữa các địa phương, đặc biệt là 6 thành phố trực thuộc T.Ư.
Kết quả đối sánh năm 2025 cho thấy sự phân hóa khá rõ. Hà Nội dẫn đầu với 6,451 điểm, xếp thứ 5/34 toàn quốc. Hải Phòng đứng ngay sau với 6,346 điểm, xếp thứ 6/34, cho thấy chất lượng giáo dục ổn định. TP.HCM và Huế thuộc nhóm tiếp theo, lần lượt xếp thứ 8 và thứ 9.
Trong khi đó, Cần Thơ – sau khi sáp nhập thêm Hậu Giang và Sóc Trăng – xếp thứ 16/34, phản ánh những khó khăn đặc thù của giáo dục vùng ĐBSCL Cửu Long. Đà Nẵng đứng thứ 23/34, thấp nhất trong nhóm 6 thành phố. Đây không phải hiện tượng nhất thời mà là xu hướng kéo dài nhiều năm, khi Đà Nẵng và Quảng Nam thường nằm trong nhóm địa phương có điểm trung bình thấp.
Kết quả này cho thấy việc sáp nhập địa giới hành chính chủ yếu tạo ra không gian quản lý mới, còn mặt bằng chất lượng giáo dục giữa các vùng trong mỗi thành phố vẫn chưa thật sự đồng đều.
Xây dựng bản đồ chất lượng đến từng xã, phường, trường học
Để các "siêu đô thị" hình thành sau sáp nhập thực sự trở thành động lực nâng cao chất lượng giáo dục quốc gia, hoạt động đối sánh theo nhóm cần được xác lập như một công cụ phản hồi và điều chỉnh chính sách. Giá trị cốt lõi của đối sánh không nằm ở xếp hạng, mà ở khả năng chỉ ra khoảng cách, nhận diện nguyên nhân và gợi mở cải tiến phù hợp.
Trước hết, các đô thị cần xây dựng bản đồ chất lượng giáo dục đến từng xã, phường, từng trường, phản ánh đầy đủ điều kiện kinh tế - xã hội, quy mô trường lớp, đội ngũ giáo viên và kết quả học tập của học sinh. Đây sẽ là cơ sở để phân bổ nguồn lực theo nhu cầu thực tiễn, thay vì chia đều hay dựa vào địa giới hành chính. Kết quả khảo sát chất lượng học sinh lớp 12 của Hà Nội vừa mới đây đã cho thấy rõ tính cần thiết của giải pháp này.
Thứ hai, cần mở rộng quyền tự chủ cho các địa phương và nhà trường khi phạm vi quản lý rộng lớn hơn, đồng thời thiết kế các gói hỗ trợ có mục tiêu rõ ràng cho những khu vực còn yếu, gắn chặt trách nhiệm giải trình với kết quả đầu ra. Đối sánh theo nhóm giúp xác định cụ thể đối tượng cần hỗ trợ, mức độ hỗ trợ và thời gian hỗ trợ, qua đó hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải nhưng hiệu quả thấp. Các trường học từng bước trở thành tổ chức tự học hỏi và tự cải tiến qua đối sánh và kiểm định.
Thứ ba, phát triển đội ngũ giáo viên theo vùng trong nội bộ đô thị là giải pháp then chốt. Việc tạo cơ chế luân chuyển, chia sẻ giáo viên giỏi giữa khu vực trung tâm và vùng ven, vùng khó khăn sẽ góp phần thu hẹp chênh lệch chất lượng đã kéo dài nhiều năm, đồng thời tạo môi trường phát triển nghề nghiệp công bằng hơn cho đội ngũ nhà giáo.

Trong đó, 119 trường THPT công lập không chuyên tuyển hơn 78.300 học sinh, trường chất lượng cao Phan Huy Chú - Đống Đa tuyển 400 em, 4 trường chuyên lấy hơn 2.700.
Tổng chỉ tiêu gần như tương đương năm ngoái, nhưng năm nay thủ đô có khoảng 147.000 học sinh tốt nghiệp THCS, tăng chừng 20.000 em. Vì thế, chỉ khoảng 55% có suất học lớp 10 công lập, thấp hơn gần 10%.
Con số này dự kiến tăng nhẹ khi một số trường dự kiến hoạt động từ năm tới chưa được giao chỉ tiêu, gồm THPT Hoàng Quán Chi (phường Yên Hòa), Vĩnh Hưng (phường Vĩnh Hưng), Việt Hùng (xã Đông Anh).
Chỉ tiêu lớp 10 của 119 trường THPT ở Hà Nội năm 2026 như sau:
TT
Trường
Chỉ tiêu 2026
Chỉ tiêu 2025
Tăng/giảm
1
THPT Phan Đình Phùng
720
720
0
2
THPT Phạm Hồng Thái
585
720
-135
3
THPT Nguyễn Trãi - Ba Đình
688
765
-77
4
THPT Tây Hồ
765
765
0
5
THPT Trần Phú
765
765
0
6
THPT Việt Đức
945
945
0
7
THPT Thăng Long
720
675
45
8
THPT Trần Nhân Tông
720
720
0
9
THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng
675
675
0
10
THPT Đống Đa
675
720
-45
11
THPT Hoàng Cầu
540
-
-
12
THPT Kim Liên
765
765
0
13
THPT Lê Quý Đôn - Đống Đa
675
720
-45
14
THPT Quang Trung - Đống Đa
675
675
0
15
THPT Nhân Chính
585
585
0
16
Trần Hưng Đạo - Thanh Xuân
675
765
-90
17
THPT Khương Đình
675
765
-90
18
THPT Khương Hạ
450
400
50
19
THPT Cầu Giấy
720
720
0
20
THPT Yên Hòa
765
765
0
21
THPT Hoàng Văn Thụ
765
765
0
22
THPT Trương Định
675
675
0
23
THPT Việt Nam - Ba Lan
720
765
-45
24
THPT Đỗ Mười
675
-
-
25
THPT Ngô Thì Nhậm
720
675
45
26
THPT Ngọc Hồi
675
675
0
27
THPT Đông Mỹ
675
765
-90
28
THPT Nguyễn Quốc Trinh
765
720
45
29
THPT Nguyễn Gia Thiều
720
675
45
30
THPT Lý Thường Kiệt
675
675
0
31
THPT Thạch Bàn
765
765
0
32
THPT Phúc Lợi
765
765
0
33
THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm
765
765
0
34
THPT Dương Xá
720
720
0
35
THPT Nguyễn Văn Cừ
765
720
45
36
THPT Yên Viên
720
720
0
37
THPT Đa Phúc
765
675
90
38
THPT Kim Anh
675
675
0
39
THPT Minh Phú
585
585
0
40
THPT Sóc Sơn
765
675
90
41
THPT Trung Giã
675
630
45
42
THPT Xuân Giang
630
630
0
43
THPT Bắc Thăng Long
720
675
45
44
THPT Cổ Loa
675
765
-90
45
THPT Đông Anh
675
720
-45
46
THPT Liên Hà
675
675
0
47
THPT Vân Nội
765
720
45
48
THPT Phúc Thịnh
675
-
-
49
THPT Mê Linh
540
630
-90
50
THPT Quang Minh
450
540
-90
51
THPT Tiền Phong
585
495
90
52
THPT Tiến Thịnh
540
495
45
53
THPT Tự Lập
540
540
0
54
THPT Yên Lãng
585
495
90
55
THPT Nguyễn Thị Minh Khai
675
765
-90
56
THPT Xuân Đỉnh
675
765
-90
57
THPT Thượng Cát
540
585
-45
58
THPT Đại Mỗ
720
720
0
59
THPT Trung Văn
585
520
65
60
THPT Xuân Phương
675
765
-90
61
THPT Mỹ Đình
765
765
0
62
THPT Hoài Đức A
630
720
-90
63
THPT Hoài Đức B
720
720
0
64
THPT Vạn Xuân - Hoài Đức
675
675
0
65
THT Hoài Đức C
585
540
45
66
THPT Đan Phượng
675
675
0
67
THPT Hồng Thái
630
585
45
68
THPT Tân Lập
675
630
45
69
THPT Thọ Xuân
540
540
0
70
THPT Ngọc Tảo
765
720
45
71
THPT Phúc Thọ
675
720
-45
72
THPT Vân Cốc
585
585
0
73
THPT Tùng Thiện
765
765
0
74
THPT Xuân Khanh
675
630
45
75
THPT Ba Vì
630
630
0
76
THPT Bất Bạt
450
450
0
77
Phổ thông Dân tộc nội trú
140
140
0
78
THPT Ngô Quyền - Ba Vì
675
675
0
79
THPT Quảng Oai
675
675
0
80
THPT Minh Quang
540
540
0
81
THPT Bắc Lương Sơn
540
495
45
82
Hai Bà Trưng - Thạch Thất
675
675
0
83
Phùng Khắc Khoan - Thạch Thất
675
540
135
84
THPT Thạch Thất
765
675
90
85
THPT Minh Hà
450
450
0
86
THPT Cao Bá Quát - Quốc Oai
585
585
0
87
THPT Minh Khai
675
675
0
88
THPT Quốc Oai
675
675
0
89
THPT Phan Huy Chú - Quốc Oai
720
720
0
90
THPT Lê Quý Đôn - Hà Đông
765
765
0
91
THPT Quang Trung - Hà Đông
765
720
45
92
THPT Trần Hưng Đạo - Hà Đông
720
720
0
93
THPT Lê Lợi
720
-
-
94
THPT Chúc Động
675
765
-90
95
THPT Chương Mỹ A
675
720
-45
96
THPT Chương Mỹ B
720
720
0
97
THPT Xuân Mai
675
765
-90
98
THPT Nguyễn Văn Trỗi
720
720
0
99
THPT Nguyễn Du - Thanh Oai
675
765
-90
100
THPT Thanh Oai A
720
720
0
101
THPT Thanh Oai B
720
720
0
102
THPT Thường Tín
675
675
0
103
THPT Nguyễn Trãi - Thường Tín
540
630
-90
104
THPT Lý Tử Tấn
585
585
0
105
THPT Tô Hiệu - Thường Tín
585
630
-45
106
THPT Vân Tảo
630
585
45
107
THPT Đồng Quan
585
585
0
108
THPT Phú Xuyên A
675
675
0
109
THPT Phú Xuyên B
675
630
45
110
THPT Tân Dân
495
495
0
111
THPT Hợp Thanh
585
495
90
112
THPT Mỹ Đức A
720
675
45
113
THPT Mỹ Đức B
585
585
0
114
THPT Mỹ Đức C
675
585
90
115
THPT Đại Cường
450
450
0
116
THPT Lưu Hoàng
585
495
90
117
THPT Trần Đăng Ninh
585
540
45
118
THPT Ứng Hòa A
585
585
0
119
THPT Ứng Hòa B
585
540
45
Trong 119 trường THPT, hơn 30 trường tăng chỉ tiêu, phổ biến 45-90 học sinh, hơn 20 trường giảm, còn đa số ổn định.
THPT Phùng Khắc Khoan - Thạch Thất tăng 135 học sinh, trong khi THPT Phạm Hồng Thái giảm tương đương. Đây là hai trường có biến động chỉ tiêu nhiều nhất.
Với hệ chuyên, cả 4 trường đều giữ ổn định số lớp và chỉ tiêu như năm ngoái, tổng 2.730. Cụ thể, trường chuyên Hà Nội - Amsterdam tuyển 840 học sinh, chuyên Chu Văn An 665, chuyên Nguyễn Huệ 700 và chuyên Sơn Tây 525.
Chi tiết chỉ tiêu lớp 10 chuyên ở Hà Nội năm 2026
Thí sinh đang trong giai đoạn tập dượt đăng ký thi lớp 10 trực tuyến, trước khi đăng ký chính thức vào 10-17/4. Năm nay, các em có thể nhìn thấy số lượng nguyện vọng 1, 2 và 3 đặt vào từng trường theo thời gian thực, từ đó tính được tỷ lệ chọi.
Kỳ thi diễn ra ngày 30-31/5, thí sinh đăng ký trường chuyên sẽ thi thêm môn chuyên vào ngày 1/6. Dự kiến từ ngày 19 đến 22/6, Sở sẽ công bố điểm thi, điểm chuẩn lớp 10.
Thanh Hằng
Nguồn: https://vnexpress.net/chi-tieu-lop-10-tat-ca-truong-thpt-cong-lap-ha-noi-2026-5058617.html

Chiều 7.4, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM tổ chức tọa đàm với chủ đề "Đánh giá năng lực học sinh lớp 9: Thước đo chuẩn hóa và cầu nối chuyển cấp theo chương trình giáo dục phổ thông".
GS-TS Huỳnh Văn Sơn, Hiệu trưởng nhà trường, cho hay Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã chính thức được triển khai và đến nay đang bước vào một giai đoạn rất đặc biệt. Những học sinh đầu tiên học theo chương trình mới từ lớp 1 đến lớp 12 đã hoàn thành chương trình vào năm học 2024–2025, đánh dấu một chu kỳ triển khai quan trọng. Đây không chỉ là cột mốc về mặt thời gian, mà còn là thời điểm cần thiết để chúng ta có những nhìn nhận, đánh giá sâu sắc hơn về hiệu quả của chương trình, đặc biệt là về việc đánh giá năng lực học sinh – một trong những trụ cột cốt lõi của chương trình giáo dục mới.
Cũng theo GS Huỳnh Văn Sơn, khác với cách tiếp cận trước đây chủ yếu dựa trên việc kiểm tra, đánh giá kiến thức, chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hướng đến phát triển phẩm chất và năng lực người học. "Tuy nhiên, trên thực tế, việc hiểu đúng và triển khai đúng đánh giá năng lực vẫn còn nhiều thách thức. Không ít nơi, việc đánh giá vẫn mang nặng tính kiểm tra, chấm điểm, chưa thực sự phản ánh được năng lực vận dụng, tư duy và khả năng giải quyết vấn đề của học sinh", GS Huỳnh Văn Sơn nói.
Chính vì vậy, theo GS Huỳnh Văn Sơn, việc củng cố nhận thức đúng đắn về đánh giá năng lực là hết sức cần thiết, không chỉ đối với đội ngũ giáo viên mà còn đối với cán bộ quản lý giáo dục các cấp. Đánh giá năng lực không chỉ là "đo lường" kết quả học tập, mà bản chất sâu xa của nó là một hoạt động học tập, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của học sinh, giúp người học hiểu rõ mình, định hướng phát triển và thích ứng với các yêu cầu học tập tiếp theo.
Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm TP.HCM cũng cho hay từ năm 2022, trường đã tổ chức kỳ thi đánh giá năng lực chuyên biệt dành cho học sinh THPT. Trên cơ sở đó, trường tiếp tục mở rộng hướng nghiên cứu ở cấp THCS, đặc biệt là đối với học sinh lớp 9 – giai đoạn chuyển tiếp quan trọng từ THCS lên THPT. Từ đầu năm 2025, trường đã thành lập các nhóm nghiên cứu chuyên môn, tiến hành xây dựng định dạng bài thi và ngân hàng câu hỏi nhằm đánh giá năng lực chuyên biệt của học sinh lớp 9. Dự kiến từ năm học 2026–2027, hoạt động đánh giá này sẽ được triển khai rộng rãi, từng bước trở thành một công cụ hỗ trợ hữu hiệu cho việc đánh giá năng lực của học sinh khi tốt nghiệp THCS và chuyển cấp.
Tại tọa đàm, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM giới thiệu bài thi đánh giá năng lực chuyên biệt dành cho học sinh lớp 9 do trường nghiên cứu và phát triển, bao gồm định dạng bài thi, cấu trúc đề thi và cách thức xây dựng ngân hàng câu hỏi theo hướng chuẩn hóa, hiện đại. Đồng thời, thảo luận về khả năng triển khai và sử dụng kết quả đánh giá năng lực, đặc biệt trong việc hỗ trợ tuyển sinh, phân luồng và định hướng học tập cho học sinh trong giai đoạn chuyển cấp.

