Trong đó, 119 trường THPT công lập không chuyên tuyển hơn 78.300 học sinh, trường chất lượng cao Phan Huy Chú – Đống Đa tuyển 400 em, 4 trường chuyên lấy hơn 2.700.
Tổng chỉ tiêu gần như tương đương năm ngoái, nhưng năm nay thủ đô có khoảng 147.000 học sinh tốt nghiệp THCS, tăng chừng 20.000 em. Vì thế, chỉ khoảng 55% có suất học lớp 10 công lập, thấp hơn gần 10%.
Con số này dự kiến tăng nhẹ khi một số trường dự kiến hoạt động từ năm tới chưa được giao chỉ tiêu, gồm THPT Hoàng Quán Chi (phường Yên Hòa), Vĩnh Hưng (phường Vĩnh Hưng), Việt Hùng (xã Đông Anh).
Chỉ tiêu lớp 10 của 119 trường THPT ở Hà Nội năm 2026 như sau:
TT
Trường
Chỉ tiêu 2026
Chỉ tiêu 2025
Tăng/giảm
1
THPT Phan Đình Phùng
720
720
0
2
THPT Phạm Hồng Thái
585
720
-135
3
THPT Nguyễn Trãi – Ba Đình
688
765
-77
4
THPT Tây Hồ
765
765
0
5
THPT Trần Phú
765
765
0
6
THPT Việt Đức
945
945
0
7
THPT Thăng Long
720
675
45
8
THPT Trần Nhân Tông
720
720
0
9
THPT Đoàn Kết – Hai Bà Trưng
675
675
0
10
THPT Đống Đa
675
720
-45
11
THPT Hoàng Cầu
540
–
–
12
THPT Kim Liên
765
765
0
13
THPT Lê Quý Đôn – Đống Đa
675
720
-45
14
THPT Quang Trung – Đống Đa
675
675
0
15
THPT Nhân Chính
585
585
0
16
Trần Hưng Đạo – Thanh Xuân
675
765
-90
17
THPT Khương Đình
675
765
-90
18
THPT Khương Hạ
450
400
50
19
THPT Cầu Giấy
720
720
0
20
THPT Yên Hòa
765
765
0
21
THPT Hoàng Văn Thụ
765
765
0
22
THPT Trương Định
675
675
0
23
THPT Việt Nam – Ba Lan
720
765
-45
24
THPT Đỗ Mười
675
–
–
25
THPT Ngô Thì Nhậm
720
675
45
26
THPT Ngọc Hồi
675
675
0
27
THPT Đông Mỹ
675
765
-90
28
THPT Nguyễn Quốc Trinh
765
720
45
29
THPT Nguyễn Gia Thiều
720
675
45
30
THPT Lý Thường Kiệt
675
675
0
31
THPT Thạch Bàn
765
765
0
32
THPT Phúc Lợi
765
765
0
33
THPT Cao Bá Quát – Gia Lâm
765
765
0
34
THPT Dương Xá
720
720
0
35
THPT Nguyễn Văn Cừ
765
720
45
36
THPT Yên Viên
720
720
0
37
THPT Đa Phúc
765
675
90
38
THPT Kim Anh
675
675
0
39
THPT Minh Phú
585
585
0
40
THPT Sóc Sơn
765
675
90
41
THPT Trung Giã
675
630
45
42
THPT Xuân Giang
630
630
0
43
THPT Bắc Thăng Long
720
675
45
44
THPT Cổ Loa
675
765
-90
45
THPT Đông Anh
675
720
-45
46
THPT Liên Hà
675
675
0
47
THPT Vân Nội
765
720
45
48
THPT Phúc Thịnh
675
–
–
49
THPT Mê Linh
540
630
-90
50
THPT Quang Minh
450
540
-90
51
THPT Tiền Phong
585
495
90
52
THPT Tiến Thịnh
540
495
45
53
THPT Tự Lập
540
540
0
54
THPT Yên Lãng
585
495
90
55
THPT Nguyễn Thị Minh Khai
675
765
-90
56
THPT Xuân Đỉnh
675
765
-90
57
THPT Thượng Cát
540
585
-45
58
THPT Đại Mỗ
720
720
0
59
THPT Trung Văn
585
520
65
60
THPT Xuân Phương
675
765
-90
61
THPT Mỹ Đình
765
765
0
62
THPT Hoài Đức A
630
720
-90
63
THPT Hoài Đức B
720
720
0
64
THPT Vạn Xuân – Hoài Đức
675
675
0
65
THT Hoài Đức C
585
540
45
66
THPT Đan Phượng
675
675
0
67
THPT Hồng Thái
630
585
45
68
THPT Tân Lập
675
630
45
69
THPT Thọ Xuân
540
540
0
70
THPT Ngọc Tảo
765
720
45
71
THPT Phúc Thọ
675
720
-45
72
THPT Vân Cốc
585
585
0
73
THPT Tùng Thiện
765
765
0
74
THPT Xuân Khanh
675
630
45
75
THPT Ba Vì
630
630
0
76
THPT Bất Bạt
450
450
0
77
Phổ thông Dân tộc nội trú
140
140
0
78
THPT Ngô Quyền – Ba Vì
675
675
0
79
THPT Quảng Oai
675
675
0
80
THPT Minh Quang
540
540
0
81
THPT Bắc Lương Sơn
540
495
45
82
Hai Bà Trưng – Thạch Thất
675
675
0
83
Phùng Khắc Khoan – Thạch Thất
675
540
135
84
THPT Thạch Thất
765
675
90
85
THPT Minh Hà
450
450
0
86
THPT Cao Bá Quát – Quốc Oai
585
585
0
87
THPT Minh Khai
675
675
0
88
THPT Quốc Oai
675
675
0
89
THPT Phan Huy Chú – Quốc Oai
720
720
0
90
THPT Lê Quý Đôn – Hà Đông
765
765
0
91
THPT Quang Trung – Hà Đông
765
720
45
92
THPT Trần Hưng Đạo – Hà Đông
720
720
0
93
THPT Lê Lợi
720
–
–
94
THPT Chúc Động
675
765
-90
95
THPT Chương Mỹ A
675
720
-45
96
THPT Chương Mỹ B
720
720
0
97
THPT Xuân Mai
675
765
-90
98
THPT Nguyễn Văn Trỗi
720
720
0
99
THPT Nguyễn Du – Thanh Oai
675
765
-90
100
THPT Thanh Oai A
720
720
0
101
THPT Thanh Oai B
720
720
0
102
THPT Thường Tín
675
675
0
103
THPT Nguyễn Trãi – Thường Tín
540
630
-90
104
THPT Lý Tử Tấn
585
585
0
105
THPT Tô Hiệu – Thường Tín
585
630
-45
106
THPT Vân Tảo
630
585
45
107
THPT Đồng Quan
585
585
0
108
THPT Phú Xuyên A
675
675
0
109
THPT Phú Xuyên B
675
630
45
110
THPT Tân Dân
495
495
0
111
THPT Hợp Thanh
585
495
90
112
THPT Mỹ Đức A
720
675
45
113
THPT Mỹ Đức B
585
585
0
114
THPT Mỹ Đức C
675
585
90
115
THPT Đại Cường
450
450
0
116
THPT Lưu Hoàng
585
495
90
117
THPT Trần Đăng Ninh
585
540
45
118
THPT Ứng Hòa A
585
585
0
119
THPT Ứng Hòa B
585
540
45
Trong 119 trường THPT, hơn 30 trường tăng chỉ tiêu, phổ biến 45-90 học sinh, hơn 20 trường giảm, còn đa số ổn định.
THPT Phùng Khắc Khoan – Thạch Thất tăng 135 học sinh, trong khi THPT Phạm Hồng Thái giảm tương đương. Đây là hai trường có biến động chỉ tiêu nhiều nhất.
Với hệ chuyên, cả 4 trường đều giữ ổn định số lớp và chỉ tiêu như năm ngoái, tổng 2.730. Cụ thể, trường chuyên Hà Nội – Amsterdam tuyển 840 học sinh, chuyên Chu Văn An 665, chuyên Nguyễn Huệ 700 và chuyên Sơn Tây 525.
Chi tiết chỉ tiêu lớp 10 chuyên ở Hà Nội năm 2026
Thí sinh đang trong giai đoạn tập dượt đăng ký thi lớp 10 trực tuyến, trước khi đăng ký chính thức vào 10-17/4. Năm nay, các em có thể nhìn thấy số lượng nguyện vọng 1, 2 và 3 đặt vào từng trường theo thời gian thực, từ đó tính được tỷ lệ chọi.
Kỳ thi diễn ra ngày 30-31/5, thí sinh đăng ký trường chuyên sẽ thi thêm môn chuyên vào ngày 1/6. Dự kiến từ ngày 19 đến 22/6, Sở sẽ công bố điểm thi, điểm chuẩn lớp 10.
Ghi nhận ở Trường ĐH Nha Trang, nhiều thí sinh đã có mặt từ 6 giờ 30 để chuẩn bị dự thi. Trần Thị Thùy An, học sinh lớp 12 Trường THPT Nguyễn Văn Trỗi (Nha Trang), thông tin rằng em đặt nhiều hy vọng ở đợt 1 thi V-ACT, bởi đợt 2 tổ chức vào cuối tháng này quá sát với lịch thi học kỳ 2 trên trường. "Em chỉ bắt đầu chú trọng V-ACT từ đầu năm vì trước đó phải tập trung thi lấy chứng chỉ IELTS", An nói.
Theo An, phần thi em thấy khó nhất trong đề V-ACT là toán, nhất là nội dung phân tích số liệu và toán phổ thông bởi đề không chỉ hỏi kiến thức của lớp 12 mà còn hỏi cả lớp 10, 11. "Do đó những bạn nào bị 'mất gốc' kiến thức hai khối trước sẽ đặc biệt khó khăn, trong đó có cả em", An bộc bạch. Ngược lại, nữ sinh không hề thấy thử thách ở phần thi tư duy khoa học, dù nội dung này có môn giáo dục kinh tế và pháp luật mà em chưa từng học qua.
"Em có đăng ký học thêm trực tuyến ở một trung tâm, ngoài ra còn tìm đề thêm trên TikTok và những trang mạng khác. Nếu kết quả thi lần này chưa tốt, em nghĩ mình sẽ dốc toàn lực vào kỳ thi tốt nghiệp THPT", nữ sinh đặt mục tiêu đạt từ 750-900 điểm chia sẻ.
Đứng cạnh bên, Hoàng Ngọc Khánh Trang, học sinh lớp 12 Trường THPT Hoàng Văn Thụ (Nha Trang), thẳng thắn: "Em chỉ mới được ôn được 3 ngày là đi thi luôn nên xác định lần này nhường hết 1.200 điểm cho đối thủ. Thực tế, lần này em chỉ muốn trải nghiệm là chính, sau đó chú trọng nhiều hơn vào đợt 2. Do xét tuyển vào ngành y nên em cũng coi trọng kỳ thi tốt nghiệp THPT hơn, xem đây chỉ là phương án dự phòng".
Nguyễn Anh Quân, học sinh lớp 12 Trường THPT Lý Tự Trọng, đã bắt đầu ôn tập từ hè năm trước, với mục tiêu đạt từ 900-1.000 điểm thi V-ACT. Dù có sự chuẩn bị dài hạn, Quân vẫn cảm thấy khó nhằn ở nội dung toán phổ thông ở phần thi toán, trong khi câu hỏi tư duy logic và phân tích số liệu "chỉ cần suy luận là ra nên rất dễ". Logarit và hàm số mũ là những điểm kiến thức được cho là thử thách nhất.
"Nội dung khó thứ hai là tiếng Việt, vốn bao hàm rất nhiều lý thuyết và khó phân biệt khiến em dễ bị nhầm không biết đâu là câu đúng, câu sai. Đặc biệt khó là câu phân tích biện pháp nghệ thuật và ý nghĩa trong ngữ liệu đã cho", nam sinh bộc bạch.
"Điểm V-ACT rất quan trọng và em dự kiến sẽ thi tiếp đợt 2 vì ĐH Kinh tế TP.HCM sẽ xét cả điểm này cộng với điểm thi tốt nghiệp THPT và những yếu tố khác", Quân nói thêm.
Lê Nguyễn An Thuyên, học sinh lớp 12 Trường THPT Hà Huy Tập (Nha Trang), cùng với Lê Nguyễn Thanh Tuyền, học sinh lớp 12 Trường THPT Lý Tự Trọng cũng đồng tình rằng toán là môn thi khiến các em "cảm thấy ám ảnh nhất". "Đề hỏi kiến thức rộng quá, nhất là những kiến thức cũ ở năm lớp 10, 11. Tiếng Anh cũng là một thử thách vì dù trường có dạy nhưng tụi em đều không quá chú tâm vào môn này", cả hai chia sẻ.
Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Hàn Quốc hồi đầu tháng mở cuộc điều tra về việc này. Các sinh viên nhập học vào kỳ thu năm ngoái, nhập cảnh vào Hàn Quốc bằng thị thực học nghề D-4, rồi chuyển sang thị thực du học hệ đại học chính quy D-2.
Hồ sơ của nhóm sinh viên này bị nghi ngờ sử dụng bằng tốt nghiệp từ các trường cao đẳng đã bị tước giấy phép hoặc không được công nhận từ 20 năm trước ở Mỹ. Toàn bộ 112 sinh viên liên quan đã rời khỏi Hàn Quốc.
Theo quy định, công dân Trung Quốc cần làm hợp thức hóa lãnh sự giấy tờ như bằng cấp, bảng điểm mới có thể xin thị thực du học ở nước này. Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh từ chối giải thích lý do vì sao họ cho rằng giấy tờ của nhóm sinh viên bị làm giả. Cuộc điều tra dự kiến xem xét liệu Đại học Honam có liên quan hoặc cố tình bỏ qua các hồ sơ đáng ngờ của sinh viên quốc tế hay không.
Một quan chức trong trường cho biết không thể xác minh tài liệu bị làm giả hay không vì không có thẩm quyền.
"Sinh viên cũng có thể đã bị lừa đảo bởi các bên mạo danh cơ sở giáo dục được công nhận tại Mỹ. Chúng tôi vẫn đang nỗ lực xác định chính xác bối cảnh sự việc", người này cho biết.
Theo Viện phát triển giáo dục Hàn Quốc, tính đến tháng 4/2024, Đại học Honam có 1.753 sinh viên quốc tế, hơn 84% đến từ Trung Quốc.
Trường đang bị chỉ trích vì hệ đào tạo chuyển tiếp 3+1. Chương trình cho phép sinh viên Trung Quốc đã hoàn thành ba năm tại các trường cao đẳng chuyển tiếp và lấy bằng cử nhân chỉ sau một năm học thêm tại trường.
Trường tiểu học và trung học Sasayama, từng nổi tiếng với tên gọi dài nhất tại Nhật Bản, đã chính thức đóng cửa từ đầu tháng 4, khép lại lịch sử hơn 70 năm, do số lượng học sinh theo học ngày càng ít.
Tên chính thức của trường là “Trường tiểu học và trung học cơ sở Sasayama thuộc Liên hiệp các trường tiểu học và trung học Sasayama do thị trấn Ainan, quận Minamiuwa, tỉnh Ehime và thành phố Sukumo, tỉnh Kochi quản lý” (tên gọi tắt là Trường tiểu học và trung học Sasayama). Ngôi trường này nổi tiếng vì có tên dài nhất tại Nhật Bản.
Ngôi trường tọa lạc ở thị trấn Ainan, tỉnh Ehime, sát con sông Shinogawa là ranh giới giữa hai tỉnh Ehime và tỉnh Kochi. Cách đây 70 năm, cư dân ở thị trấn hai bên bờ sông thường xuyên qua lại và cùng nhau thống nhất thành lập trường trung học vào năm 1949, trường tiểu học vào năm 1952 và đặt tên gọi mang dấu ấn của cả hai địa phương.
Theo thông lệ của trường, học sinh sau khi nhập học đều phải thường xuyên luyện đọc tên trường trong các giờ ra chơi đến khi thuộc lòng.
Mặc dù với những người khác việc đọc tên trường quá dài là một phiền toái, nhưng đối với không ít cựu học sinh của trường thì đây lại là niềm tự hào, là “điểm nhấn” khi giới thiệu về bản thân.
Vào thời kỳ cao điểm nhất là cuối những năm 50 của thế kỷ trước, trường có khoảng 300 học sinh theo học, nhưng sau đó số lượng giảm dần. Đến năm học 2025 chỉ còn 9 học sinh, trong đó có 3 học sinh tiểu học và 6 học sinh trung học.
Điều này khiến việc duy trì vận hành trường gặp nhiều khó khăn.
Hiện phía tỉnh Kochi không còn học sinh nào theo học và từ tháng 4, các học sinh còn lại của trường sẽ chuyển sang các trường khác trong thị trấn Ainan, với khoảng 110 học sinh tiểu học và 60 học sinh trung học.
Việc đóng cửa ngôi trường nhiều năm tuổi để lại không ít tiếc nuối cho những người dân từng gắn bó từ khi còn nhỏ. Tuy nhiên điều này cũng phản ánh một thực trạng tỉ lệ sinh giảm ngày càng nghiêm trọng tại Nhật Bản, đặc biệt là tại các địa phương vùng sâu, vùng xa, khiến nhiều trường học khó duy trì đủ số lượng học sinh cần thiết và buộc phải sáp nhập với các trường khác.