Mục Lục
ToggleKhánh Linh
Nguồn: https://vnexpress.net/quoc-ky-nuoc-nao-lau-doi-nhat-the-gioi-5058614.html
Giáo Dục
Đề xuất tăng lương giáo viên mầm non, kéo dài nghỉ thai sản lên 12 tháng

Hàng triệu lao động nữ phụ thuộc vào dịch vụ chăm sóc trẻ
Ngày 3/4, tại hội thảo “Hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục mầm non” do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam phối hợp với Vụ Giáo dục Mầm non và Ngân hàng Thế giới tổ chức, các chuyên gia đã đưa ra loạt khuyến nghị đáng chú ý.
Trình bày báo cáo tại hội thảo, bà Helle Buchhave, Trưởng nhóm toàn cầu về giới của Ngân hàng Thế giới, cho biết Việt Nam hiện có khoảng 4,8 triệu lao động nữ trong lĩnh vực sản xuất tại các khu công nghiệp, tương đương 19% số lao động nữ. Đây là nhóm chịu tác động trực tiếp từ sự thiếu hụt dịch vụ chăm sóc trẻ.
Dữ liệu cho thấy nhu cầu gửi trẻ, đặc biệt dưới 3 tuổi, đang rất lớn nhưng chưa được đáp ứng. Có tới 75% bà mẹ có con dưới 2 tuổi chưa sử dụng dịch vụ chăm sóc trẻ, dù sẵn sàng sử dụng nếu có dịch vụ phù hợp với chi phí hợp lý.
Trong khi đó, hệ thống công lập còn hạn chế, chỉ 23% cơ sở nhận trẻ dưới 2 tuổi. Ở khu vực ngoài công lập, nhiều cơ sở gặp khó khăn về nhân lực đạt chuẩn, nguồn lực tài chính và tiếp cận chính sách hỗ trợ.
Các chuyên gia nhấn mạnh, đầu tư vào giáo dục mầm non không chỉ là chính sách xã hội mà còn mang lại lợi ích kinh tế rõ rệt. Ước tính, việc phổ cập dịch vụ chăm sóc trẻ có thể mang lại tổng lợi ích kinh tế lên tới 3,02 tỷ USD, thông qua việc tăng tỷ lệ tham gia lao động của phụ nữ và nâng cao năng suất.
Bàn giải pháp nâng chất giáo dục mầm non ở địa bàn có khu công nghiệp
Trưởng nhóm toàn cầu về giới của Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh Việt Nam cần những điều chỉnh chính sách mạnh mẽ để giải quyết “điểm nghẽn” trong hệ thống chăm sóc trẻ nhỏ, đặc biệt tại khu đô thị và khu công nghiệp.
Báo cáo của Ngân hàng Thế giới đưa ra 3 nhóm giải pháp lớn. Một trong những giải pháp quan trọng là cải thiện chế độ cho đội ngũ giáo viên mầm non. Mức hỗ trợ hiện nay còn thấp, khiến thu nhập của giáo viên, đặc biệt ở khu vực ngoài công lập còn hạn chế.
Vì vậy, cần xây dựng chính sách tiền lương ở tầm quốc gia, đồng thời tăng lương theo lộ trình gắn với trình độ chuyên môn.
Đồng thời, cần tăng nguồn cung dịch vụ với chi phí hợp lý, trong đó nhấn mạnh mở rộng hệ thống mầm non công lập, đặc biệt cho trẻ dưới 3 tuổi; đồng thời cải cách mô hình hợp tác công – tư (PPP), giảm rào cản để thu hút các nhà đầu tư.
Đáng chú ý, chuyên gia Ngân hàng Thế giới cũng đề xuất điều chỉnh chính sách lao động theo hướng thân thiện hơn với gia đình, trong đó có việc kéo dài thời gian nghỉ thai sản lên 12 tháng. Phương án được đưa ra là mỗi phụ huynh nghỉ 6 tháng, nhằm san sẻ trách nhiệm chăm sóc con nhỏ.
Bà Buchhave chỉ ra khoảng trống lớn hiện nay: sau 6 tháng nghỉ thai sản, nhiều gia đình không có nơi gửi trẻ do phần lớn cơ sở mầm non công lập chưa nhận trẻ dưới 12 tháng tuổi. Điều này khiến không ít phụ nữ buộc phải rời bỏ thị trường lao động hoặc chấp nhận những lựa chọn không bền vững.
“Khung chính sách của Việt Nam đã có đủ các cam kết cần thiết để hành động”, bà nhấn mạnh.
Tuy nhiên, chuyên gia của Ngân hàng Thế giới cũng cho biết đây là những chiến lược dài hạn. Tuy nhiên, bà cũng chỉ ra một số hành động cần thực hiện trong ngắn hạn như: Tăng số lượng chỗ học cho trẻ dưới 3 tuổi tại cơ sở mầm non công lập, nới lỏng trần biên chế, kéo dài giờ hoạt động ở trường, loại bỏ rào cản hành chính đối với người di cư, đồng bộ chính sách chăm sóc trẻ em với chính sách nghỉ phép của cha mẹ và làm việc linh hoạt…
Áp lực lớn tại các đô thị, khu công nghiệp
Tại hội thảo, bà Lê Thuỵ Mỵ Châu, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT TPHCM, cho biết thành phố hiện có hơn 1.800 cơ sở mầm non với trên 520.000 trẻ, hơn 47.000 giáo viên, cán bộ quản lý - quy mô lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, áp lực về chỗ học, đặc biệt cho con em công nhân và lao động nhập cư, vẫn rất lớn.
Nhiều mô hình linh hoạt đã được triển khai như giữ trẻ ngoài giờ, trường do doanh nghiệp đầu tư hay cơ sở mầm non tại khu lưu trú công nhân, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động, quản lý. Dù vậy, bài toán về nguồn lực, quy hoạch và chất lượng vẫn còn nhiều thách thức.
Ở góc độ quản lý, bà Hoàng Thị Dinh, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Mầm non, Bộ GD&ĐT, nhấn mạnh sự cần thiết của việc triển khai đồng bộ chương trình quốc gia, đặc biệt tại các địa phương có khu công nghiệp lớn.
Bà cho rằng cần tăng cường phân cấp, trao quyền cho địa phương trong việc tham mưu và triển khai giải pháp phù hợp với thực tiễn.
Đồng thời, các địa phương cần chú trọng mở rộng quy mô, tăng tỷ lệ trẻ đến trường, nhất là nhóm trẻ nhà trẻ, vốn còn nhiều hạn chế so với bậc mẫu giáo.
Đại diện Bộ GD&ĐT cho biết đang triển khai chương trình nâng cao chất lượng giáo dục mầm non tại khu đô thị, khu công nghiệp, với mục tiêu đến năm 2035, 100% trẻ từ 6 đến 36 tháng tuổi là con công nhân, người lao động có nhu cầu sẽ được đến trường.
Theo GS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, giáo dục mầm non cần được nhìn nhận không chỉ là lĩnh vực giáo dục mà còn là câu chuyện chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ trẻ trong những năm đầu đời.
Theo ông Vinh, đây là giai đoạn nền tảng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của mỗi con người. Những gì trẻ được tiếp cận trong giai đoạn này sẽ ảnh hưởng lâu dài đến kết quả học tập, khả năng học tập suốt đời và năng suất lao động khi trưởng thành.
"Giáo dục mầm non phải là câu chuyện của tiếp cận sớm, cơ hội sớm và đầu tư sớm, không chỉ trong ngành giáo dục mà trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội", ông Vinh nhấn mạnh.

Tọa đàm "Funding & Networking for Your Academic Future" (tạm dịch: Nguồn tài trợ và cơ hội kết nối cho tương lai học thuật) do Cơ quan trao đổi hàn lâm Đức (DAAD) và Đại học Bách khoa Hà Nội tổ chức ngày 10/4.
Ông Felix Wagenfeld, Giám đốc Văn phòng DAAD tại Hà Nội, cho hay có 5 loại học bổng của cơ quan này mà học viên cao học (thạc sĩ, nghiên cứu sinh và nhà nghiên cứu mới) có thể ứng tuyển.
Trong đó, tài trợ nghiên cứu dành cho các tiến sĩ mới lấy bằng trong 4 năm trở lại đây. Các nhà nghiên cứu kỳ cựu hơn có thể ứng tuyển chương trình GROW.
Chi tiết về điều kiện của từng loại có trên website của DAAD. Ứng viên cần kết quả học thuật tốt (tốt nghiệp bằng giỏi), có khả năng dùng tiếng Anh (lý tưởng là IELTS 6.5) và định hướng học tập/đề cương nghiên cứu thuyết phục.
Ngoài học bổng chính phủ, sinh viên nước ngoài có thể xin tài trợ từ các tổ chức học thuật như quỹ Học bổng Alexander von Humboldt, DFG, Viện Max Planck, Hiệp hội Helmholtz, Leibniz,...
Học bổng
Giá trị
Thời gian áp dụng
Thạc sĩ ngành STEM
992 euro/tháng
Toàn chương trình học
Tiến sĩ toàn thời gian tại Đức hoặc được đồng hướng dẫn bởi một giáo sư người Việt
1.400 euro/tháng
Toàn bộ thời gian ở Đức
Trao đổi tiến sĩ giữa DAAD-Đại học Bách khoa Hà Nội
Tối đa 2.150 euro/tháng
2 tuần - 3 tháng
Tài trợ nghiên cứu (dành cho bậc tiến sĩ và sau tiến sĩ)
1.400 euro/tháng
2-12 tháng (nghiên cứu sinh), 2-6 tháng (sau tiến sĩ)
GROW
1.400 - 2.150 euro/tháng
1-6 tháng
Đại diện của DAAD cho hay thuận lợi với các nhà nghiên cứu là Đức có mạng lưới nghiên cứu rộng: ngoài 420 trường đại học, nước này có 1.000 viện nghiên cứu công cùng 29.000 công ty nghiên cứu. Năm 2023, Đức đầu tư 130 tỷ euro cho nghiên cứu, tương đương 3,1% GDP, nhiều hơn bất kỳ nước châu Âu nào. Nước này cũng sản sinh nhiều tiến sĩ nhất EU, đứng thứ 5 thế giới về số lượng đơn đăng ký bằng sáng chế, tập trung vào trí tuệ nhân tạo, công nghệ lượng tử, vi điện tử, công nghệ sinh học, giao thông và năng lượng trung hòa khí hậu.
PGS. TS. Nguyễn Đắc Trung, Trưởng Ban Hợp tác và Kết nối, Đại học Bách khoa Hà Nội, nhìn nhận các cơ sở nghiên cứu của Đức có chất lượng, phương pháp và thói quen nghiên cứu thực chất, có tính ứng dụng cao, đồng thời sẵn sàng chia sẻ cơ hội để sinh viên nước ngoài học và thực hành các công nghệ lõi - điều mà không nhiều môi trường có.
Các kênh thông tin chính thống về du học Đức
Đức hiện có 2,9 triệu sinh viên, du học sinh chiếm 16%. Năm học 2024-2025, 420.000 sinh viên quốc tế đổ tới Đức - đông nhất từ trước đến nay, biến quốc gia này thành một trong những điểm đến nóng nhất ngoài Mỹ, Canada, Australia và Anh. Ước tính 7.000 người Việt đang du học bậc đại học trở lên tại đây, theo DAAD.
Khánh Linh

Từ luận văn tốt nghiệp của sinh viên Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM), một nghiên cứu về kỹ thuật mới giúp AI trả lời câu hỏi trắc nghiệm ổn định hơn được đăng trên tạp chí quốc tế Q1.
Khởi nguồn từ một luận văn tốt nghiệp đại học, công trình nghiên cứu của thầy trò khoa khoa học và kỹ thuật máy tính của trường này đã được công bố trên tạp chí quốc tế hàng đầu về trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục sau khi trải qua nhiều vòng phản biện.
Bài báo Enhancing Large Language Model Performance for Automatic Zero-Shot Multiple-Choice Question Answering via Single-Token Logit Prompting của nhóm tác giả từ Việt Nam đã được công bố trên tạp chí Computers and Education: Artificial Intelligence.
Đây là tạp chí mở thuộc Nhà xuất bản Elsevier, hiện xếp hạng Q1, đứng đầu lĩnh vực giáo dục (Education), hạng 4 trong lĩnh vực khoa học máy tính ứng dụng (Computer Science Applications) và hạng 5 lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI- Artificial Intelligence), theo SCImago.
Nhóm tác giả gồm Đặng Phú Quốc - cựu sinh viên Trường ĐH Bách khoa (đồng tác giả chính), Trần Trương Tuấn Phát - giảng viên Trường ĐH Bách khoa (đồng tác giả chính), TS Vũ Đức Lý (giảng viên Trường ĐH Quốc tế Miền Đông), Nguyễn Song Thiên Long và Võ Thị Như Quỳnh cùng là sinh viên năm thứ ba Trường ĐH Bách khoa, được PGS.TS Quản Thành Thơ - Trưởng khoa khoa học và kỹ thuật máy tính Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM) hướng dẫn.
Công trình tập trung vào đề xuất kỹ thuật viết lời nhắc (prompting) mới mang tên Single-Token Logit (STL) nhằm nâng cao độ chính xác và tính ổn định của các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) khi tự động trả lời câu hỏi trắc nghiệm (MCQ). Tác giả Đặng Phú Quốc cho biết nghiên cứu xuất phát từ luận văn tốt nghiệp đại học của anh.
"Ban đầu mình chỉ đặt mục tiêu giải quyết tốt một bài toán chuyên môn về mô hình ngôn ngữ lớn, chứ không kỳ vọng sẽ được công bố trên tạp chí thứ hạng cao. Sau khoảng 28 tháng kể từ khi bắt tay nghiên cứu, đến tháng 3-2026 công trình đã được đăng trên tạp chí Computers and Education: Artificial Intelligence", anh Quốc chia sẻ.
Thông tin thêm, anh Trần Trương Tuấn Phát cho hay nhóm đã trải qua nhiều vòng phản biện kín hai chiều. Mỗi vòng đều yêu cầu những cải tiến đáng kể như bổ sung thí nghiệm, làm rõ cách diễn giải, củng cố định hướng nghiên cứu và tái cấu trúc bản thảo.
Việc lựa chọn nơi nộp bài được nhóm thực hiện theo gợi ý của Nhà xuất bản Elsevier. Chỉ sau khi được chấp nhận, nhóm mới có thông tin đây là tạp chí đứng đầu thế giới trong lĩnh vực giáo dục (Education). "Đó là kết quả đặc biệt mà chính nhóm tác giả cũng không ngờ tới", PGS.TS Quản Thành Thơ nói thêm.
Từ thực tế nghiên cứu, nhóm nhận thấy hiện tượng gọi là giới hạn Multiple-Choice Symbol Binding (MCSB) làm giảm đáng kể độ tin cậy của LLM, nhất là khi ứng dụng vào chấm bài hay xây dựng ngân hàng câu hỏi của lĩnh vực giáo dục. Vì thế, nhóm đề xuất kỹ thuật Single-Token Logit (STL).
Thay vì đưa toàn bộ đáp án và yêu cầu mô hình chọn A - B - C - D như thông thường, STL tách từng đáp án riêng biệt và yêu cầu mô hình đánh giá theo dạng đúng - sai cho từng lựa chọn.
Hệ thống lần lượt hỏi "Đáp án này có đúng không?" và sử dụng xác suất của token "yes" để đánh giá mức độ phù hợp. "Cơ chế này giúp mô hình xác minh từng lựa chọn một cách độc lập, không bị chi phối bởi vị trí hay nhãn đáp án, khắc phục trực tiếp hạn chế của giới hạn MCSB", anh Phát nói về ưu điểm của nghiên cứu.
Nghiên cứu còn tích hợp kỹ thuật Retrieval-Augmented Generation (RAG) cho phép mô hình truy xuất kiến thức bên ngoài khi cần, giúp tăng độ chính xác theo ngữ cảnh cũng như kiểm tra độ ổn định của giải pháp trong các điều kiện khác nhau.
Khi thử nghiệm trên ba bộ dữ liệu khoa học chuẩn gồm ARC, OpenBookQA và SciQ, STL cho kết quả ngang bằng hoặc vượt trội so với nhiều phương pháp phổ biến với mức cải thiện lên tới 11 điểm phần trăm trong một số cấu hình, đồng thời giảm đáng kể chi phí tính toán.
Về tiềm năng ứng dụng, kỹ thuật STL có thể hỗ trợ giáo viên rà soát đề thi, tự động gợi ý đáp án cho câu hỏi chưa có lời giải, hỗ trợ chấm bài và phát triển các hệ thống học tập thông minh có khả năng giải thích kết quả đánh giá.
Theo PGS.TS Quản Thành Thơ, công bố không chỉ đóng góp xuất sắc về mặt giá trị học thuật đối với các nghiên cứu trong lĩnh vực LLM mà còn cho thấy việc nâng cao độ tin cậy của AI không nhất thiết phải đến từ mô hình lớn hơn hay kiến trúc phức tạp. "Đôi khi chỉ một thay đổi nhỏ trong cách thiết kế lời nhắc (prompt) cũng có thể tạo ra khác biệt lớn trong ứng dụng thực tế", ông Thơ nhận định.
Tin Gốc: https://tuoitre.vn/sinh-vien-bach-khoa-dua-luan-van-ai-len-tap-chi-q1-20260412080023156.htm

