Mục Lục
ToggleSáng 7.4, UBND phường Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai (trước đây thuộc thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định) cho biết lực lượng chức năng đã tìm thấy thi thể nam sinh lớp 12 mất tích khi tắm biển.
Theo đó, thi thể nạn nhân được tìm thấy vào khoảng 4 giờ 30 sáng cùng ngày. Chính quyền địa phương đang hoàn tất thủ tục để bàn giao thi thể em H. cho gia đình lo hậu sự.
Trong nhiều giờ qua, chính quyền địa phương đã huy động lực lượng công an, bộ đội biên phòng cùng phương tiện tàu thuyền mở rộng phạm vi tìm kiếm trên biển. Ngư dân địa phương cũng chủ động đưa tàu cá ra hỗ trợ, thả lưới rà soát tại khu vực nghi có nạn nhân.
Như Báo Thanh Niên đã đưa tin, khoảng 17 giờ ngày 5.4, sau khi tham gia kỳ thi đánh giá năng lực, nhóm 6 học sinh Trường THPT chuyên Hùng Vương (phường Pleiku) rủ nhau xuống tắm biển tại khu vực đường Xuân Diệu (phường Quy Nhơn).
Trong lúc tắm, em H.Đ.A.H và em N.N.H không may bị sóng lớn cuốn ra xa. Phát hiện sự việc, người dân đã kịp thời cứu được em N.N.H, riêng em H.Đ.A.H bị cuốn mất tích.
UBND phường Quy Nhơn khuyến cáo người dân và du khách khi tắm biển cần tuân thủ các quy định an toàn, lựa chọn khu vực được phép, theo dõi thời tiết và chú ý cảnh báo từ lực lượng chức năng để tránh những sự việc đáng tiếc.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/tim-thay-thi-the-nam-sinh-mat-tich-tren-bien-quy-nhon-185260407080227644.htm

Buổi sáng đầu tháng 4, đứng bên con kênh ở phường Hải Dương, TP Hải Phòng, ông Lê Văn Sử buồn bã nhìn dòng nước đen đặc, ruồi nhặng bu vào một số con cá chết lập lờ trên mặt nước. Người đàn ông 85 tuổi không thể ngờ mạch sống của người dân Hải Dương cũng như nhiều tỉnh thành lân cận lại ô nhiễm đến thế.
Mười năm chín hạn
Trước khi công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng, cánh đồng của tỉnh Hải Dương cũ chỗ thì khô hạn kéo dài, chỗ lại ngập úng quanh năm. Nhà ông Sử ở xã Thanh Hồng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương cũ, vốn đông người, ruộng có nhưng nhiều vụ phải bỏ không vì thiếu nước hoặc vì nước ngập quá lâu không thể cấy lúa. Những mùa giáp hạt trở thành nỗi ám ảnh của ông.
"Cái đói kéo dài hết năm này sang năm khác, nhìn ai cũng gầy gò, ốm yếu, đen đúa", ông Sử nhớ lại những năm 1940-1950.
Vùng Bắc Hưng Hải là đồng bằng rộng hơn 214.000 ha, được bao bọc bởi bốn con sông lớn gồm sông Hồng, Đuống, Luộc và Thái Bình. Lưu vực hệ thống trải dài trên toàn bộ tỉnh Hưng Yên (cũ), phần lớn Hải Dương (cũ), cùng một phần Hà Nội và Bắc Ninh.
Địa hình tương đối thấp, cao trung bình chỉ khoảng 0,5-1 m so với mực nước biển, vốn rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp nếu có nguồn nước ổn định. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ trước đó, phần lớn ruộng đồng trong vùng vẫn phải phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nước mưa.
Những năm hạn hán, đất đồng nứt nẻ, lúa chết khô. Khi mưa lớn hoặc nước sông dâng cao, đồng ruộng lại ngập úng kéo dài khiến mùa màng thất bát. Người dân trong vùng vẫn truyền nhau câu nói "mười năm chín hạn" (10 năm thì hết 9 năm hạn hán) để nói về sự bấp bênh trong sản xuất nông nghiệp.
Nguồn nước sinh hoạt cũng không khá hơn. Ao làng có nước song chua đến mức người lội xuống lâu một chút là rụng cả lông chân. Bệnh ngoài da khá phổ biến. Ông Sử nhớ những lần đi thực tập về quê không dám rửa chân bằng nước ao làng, phải xách nước nuôi cá ở chỗ khác về rửa. Dân gian khi ấy còn truyền nhau câu nói khá nặng nề về vùng đất "sống ngâm da, chết ngâm xương".
Đại thủy nông lớn nhất miền Bắc
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, nhu cầu đảm bảo nước cho sản xuất nông nghiệp trở thành cấp bách. Năm 1956, Chính phủ quyết định xây dựng hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải nhằm đưa nước từ sông Hồng vào tưới tiêu cho vùng đồng bằng rộng lớn.
Theo thiết kế, nước từ sông Hồng qua cống Xuân Quan (Hưng Yên), dẫn theo kênh trục chính rồi tỏa ra mạng lưới kênh nhánh trước khi thoát ra cống An Thổ (Hải Phòng), tạo thành tuyến thủy lợi dài hơn 230 km trên trục chính và hàng nghìn kilomet kênh mương nội đồng. Toàn bộ hệ thống có khoảng 1.900 công trình cống, trạm bơm các loại, đảm bảo khả năng tưới tiêu chủ động cho hơn 130.000 ha đất canh tác trong lưu vực Bắc Hưng Hải.
Trước khi chuẩn bị khởi công, ngày 20/9/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về nói chuyện với công nhân và nhân dân trên công trường Bắc Hưng Hải. Bác động viên người dân: "Nay Đảng và Chính phủ quyết định cùng nhân dân xây dựng công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải để đưa nước vào ruộng cho đồng bào. Cán bộ và đồng bào quyết tâm vượt mọi khó khăn, làm cho nhanh, cho tốt. Bây giờ chịu khó phấn đấu mấy tháng, sau này sẽ hưởng hạnh phúc lâu dài hàng trăm năm".
Ngày 1/10/1958, công trình khởi công. Hàng chục nghìn bộ đội, dân công, học sinh, sinh viên và cán bộ từ nhiều địa phương tham gia đào kênh, đắp đập và xây dựng các cống, trạm bơm điều tiết nước. Ở làng gốm Bát Tràng, gần 150 hộ dân tự nguyện dỡ nhà lấy đất đào tuyến kênh trục chính.
Sau khi cống Xuân Quan hoàn thành và đưa nước vào đồng ngày 30/10/1959, việc xây dựng toàn hệ thống được triển khai nhanh chóng. Giai đoạn đầu, 26 trạm bơm cố định và 26 trạm bơm thuyền được xây để cấp nước cho các khu ruộng cao và hỗ trợ tiêu thoát nước. Các tuyến sông tự nhiên như Kim Sơn, Đình Đào, Cửu An, Tứ Kỳ được cải tạo, nạo vét và kết nối với mạng lưới kênh đào mới, tạo thành hệ thống thủy lợi liên hoàn.
Sau 7 tháng thi công, hệ thống hoàn thành, trở thành công trình thủy lợi lớn nhất miền Bắc thời bấy giờ, còn được gọi là "Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải". Ông Sử bảo cuộc sống của gia đình ông và hàng triệu người đã thay đổi vì đại thủy nông này.
Từ mùa vàng bội thu đến dòng nước đổi màu
Năm 1962, sau khi tốt nghiệp đại học, ông Sử được phân công về làm việc tại Công ty Bắc Hưng Hải. Những chuyến đi kiểm tra hệ thống khi đó khiến ông không khỏi ngạc nhiên trước sự thay đổi của dòng nước trong vùng.
"Nước trong đến mức nhìn thấy đáy. Ai cũng có thể tắm giặt ngay trên kênh", ông nhớ lại.
Nguồn nước dồi dào nhanh chóng làm thay đổi sản xuất nông nghiệp. Những cánh đồng trước kia phụ thuộc vào nước mưa bắt đầu có thể gieo cấy hai vụ lúa mỗi năm, năng suất vụ đầu đã đạt 60-62 tạ/ha, tổng sản lượng lúa trong vùng hơn 1,2 triệu tấn. Nhiều địa phương trong lưu vực Bắc Hưng Hải dần trở thành những vùng sản xuất lúa trọng điểm của đồng bằng Bắc Bộ.
Nguồn nước từ hệ thống kênh mương còn tạo điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản. Ở xã Đại Thắng (Hải Phòng), ông Vũ Văn Kế đã gắn bó với nghề nuôi thủy sản trên kênh Bắc Hưng Hải gần nửa thế kỷ. Có thời điểm gia đình ông nuôi tới 4-5 lồng cá trên kênh. Nguồn nước sạch giúp cá sinh trưởng tốt.
Không chỉ cá nuôi lồng, nhiều loại thủy sản tự nhiên cũng phát triển mạnh. Có những vụ, riêng rươi ông Kế thu hoạch được hơn 2 tấn. "Cá mè, cá chép nhiều vô kể. Riêng khu vực cống Xuân Quan có lần kéo lưới lên được hàng chục tấn cá", ông Kế nhớ lại. Nguồn lợi thủy sản dồi dào khiến nhiều gia đình sống ven kênh có thêm sinh kế ngoài trồng lúa.
Tuy nhiên, từ cuối những năm 1990 trở lại đây, dòng kênh từng trong xanh bắt đầu thay đổi. Những đoạn nước đục và có mùi hôi xuất hiện trước tiên ở khu vực gần khu dân cư và làng nghề, sau đó lan dần ra nhiều tuyến kênh trong hệ thống, ông Sử nhớ lại.
"Nguồn nước ô nhiễm trầm trọng từ năm 2000. Mỗi lần thả lưới xuống đánh cá, nếu thu được 5 kg cá thì tôi phải mất tới 3 ngày để gỡ hết túi nylon mắc trên lưới", ông Kế kể.
Quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp trong lưu vực khiến lượng nước thải đổ vào hệ thống ngày càng lớn. Hiện Bắc Hưng Hải phải tiếp nhận nước thải từ khu dân cư, làng nghề và nhiều khu công nghiệp nằm dọc tuyến kênh.
Theo Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mỗi ngày tổng lượng nước thải xả vào hệ thống khoảng 538.830 m3, trong đó phần lớn chưa được xử lý triệt để. Khi lượng nước thải vượt quá khả năng tự làm sạch của dòng chảy, chất lượng nước bắt đầu suy giảm.
Báo cáo tháng 2/2026 của Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường cho biết tình trạng ô nhiễm tập trung chủ yếu tại các điểm Xuân Thụy, Bình Lâu và Ngọc Đà. Các chỉ tiêu dinh dưỡng và hữu cơ trong nước tại đây đều vượt xa quy chuẩn môi trường nước mặt.
Đơn cử nồng độ amoni cho phép chỉ khoảng 0,3 mg/l, nhưng tại trạm Xuân Thụy (Hưng Yên) lên 25,6 mg/l, cao gấp hơn 85 lần. Hàm lượng oxy hòa tan chỉ khoảng 2 mg/l, thấp hơn nhiều so với mức tối thiểu 4 mg/l cần thiết để duy trì hệ sinh thái thủy sinh. Tại trạm Bình Lâu (Hải Phòng), nồng độ amoni trung bình khoảng 22 mg/l, cao gấp hơn 70 lần quy chuẩn.
Dọc nhiều tuyến kênh, nước chuyển màu đen, bọt trắng nổi dày và mùi hôi bốc lên nồng nặc. Những lồng cá từng mang lại thu nhập cho gia đình ông Kế buộc cũng phải tháo dỡ. Nước bẩn, cá, rươi nuôi không nổi vì năng suất giảm bảy, tám lần. Cả gia đình con cái ngày trước quây quần làm thủy sản, giờ phải phân tán đi làm công ty, ông Kế kể.
Chứng kiến các dòng kênh trong hệ thống Bắc Hưng Hải đang chết dần, ông Kế, ông Sử không khỏi xót xa. Không dám hy vọng có những mùa cá bội thu như trước, họ chỉ mong dòng kênh trở lại trong xanh.
"Mong ước đó không biết có viển vông quá không?", ông Sử tự hỏi.
Gia Chính - Mộc Miên
Tin Gốc: https://vnexpress.net/bac-hung-hai-tu-dai-thuy-nong-den-dong-song-chet-5050257.html

Sáng 15.4, cuộc đấu giá quyền khai thác Dự án Không gian ven biển phía đông đường Hồ Xuân Hương đã diễn ra với 2 doanh nghiệp tham gia đấu giá.
Kết quả, Công Ty TNHH xuất nhập khẩu Thuận An Foods (có địa chỉ tại P.Sầm Sơn, Thanh Hóa) đã trúng đấu giá, với số tiền 70,168 tỉ đồng cho quyền khai thác dự án trong 5 năm. Trong khi, giá khởi điểm của dự án là hơn 51 tỉ đồng.
Như vậy, sau 4 năm kể từ ngày Tập đoàn FLC ngừng khai thác, dự án đã có nhà đầu tư mới, hy vọng sẽ làm mới không gian dọc bãi biển Sầm Sơn kể từ mùa du lịch biển này.
Không gian ven biển phía đông đường Hồ Xuân Hương được xem là linh hồn của biển Sầm Sơn. Đó là không gian, cảnh quan dọc bờ biển, cung cấp các dịch vụ giải khát, tắm tráng, ăn nhanh, vui chơi... cho hàng triệu lượt khách du lịch mỗi năm.
Dự án Không gian ven biển phía đông đường Hồ Xuân Hương có phạm vi nằm dọc bờ biển Sầm Sơn, kéo dài từ chân núi Trường Lệ đến khu du lịch Vạn Chài resort (không bao gồm khu vực công trình cửa biển, sân khấu, nhà liên ngành, tượng đài anh hùng Nguyễn Thị Lợi, các lối lên xuống cho du khách tiếp cận bãi cát và 3 khu vực bến thuyền). Chiều rộng của không gian khoảng 30 m, từ bờ kè chắn cát (mép phía đông đường Hồ Xuân Hương) ra khu vực bãi biển.
Các công trình chính gồm 14 hubway (công trình dịch vụ bar - giải khát); khu tắm tráng nước ngọt (có thu phí); khu tắm tráng nước ngọt miễn phí; không gian khuôn viên cây xanh, cảnh quan; và các công trình phụ trợ
Công trình do Tập đoàn FLC xây dựng, khai thác (theo hợp đồng BOT) từ năm 2016, với vốn đầu tư hơn 100 tỉ đồng, nhằm cung cấp cho du khách các dịch vụ quầy bar - giải khát, đồ ăn nhanh, massage, chăm sóc y tế, tắm tráng, khu vui chơi trên biển, quảng trường, khu vườn trò chuyện, quảng trường nhạc nước, vườn hoa bốn mùa, vườn cây tạo hình, không gian điêu khắc, khu vui chơi trẻ em và nhiều tiện ích khác.
Tuy nhiên, đến năm 2022, Tập đoàn FLC có văn bản tự nguyện bàn giao cho chính quyền địa phương mà không phải hoàn trả lại kinh phí, dù thời gian khai thác chưa hết theo hợp đồng (hợp đồng khai thác 29 năm).
Kể từ khi dự án được bàn giao cho địa phương quản lý, các hạng mục, công trình hầu như không được tu bổ, sửa chữa nên đến nay nhiều công trình đã xuống cấp, hư hỏng.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 10.4, Đội Quy tập hài cốt liệt sĩ Quân đoàn 34 (Gia Lai) cho biết đã phát hiện và quy tập 12 hài cốt liệt sĩ tại khu vực làng Doch 1, xã Ia Ly.
Trước đó, tại khu vực núi Chư Pa (làng Doch 1, xã Ia Ly), người dân phát hiện trong một hang đá có nhiều vật dụng sinh hoạt liên quan đến bộ đội nên trình báo cơ quan chức năng. Tiếp nhận thông tin, từ ngày 6 - 8.4, Đội Quy tập hài cốt liệt sĩ Quân đoàn 34 triển khai lực lượng đến hiện trường, tổ chức tìm kiếm và cất bốc các hài cốt liệt sĩ.
Tại hang đá, lực lượng chức năng phát hiện nhiều di vật đi kèm như tăng võng, vải dù, bút sắt, băng đạn AK, cúc áo, đế dép cao su, dây thông tin, bàn chải đánh răng, lọ thuốc, quân hiệu…
Sau khi cất bốc, 12 hài cốt liệt sĩ được đưa về hội trường xã Ia Kreng (cũ), nay là xã Ia Ly, để tổ chức lễ dâng hương, chăm sóc hương khói theo nghi thức quân đội.
Theo Đội Quy tập hài cốt liệt sĩ Quân đoàn 34, căn cứ các tài liệu, khu vực này từng là nơi hoạt động của các đơn vị thuộc Trung đoàn 609, Trung đoàn 66, Trung đoàn 24, Trung đoàn 320 cùng các đơn vị Phòng Tham mưu, Phòng Hậu cần thuộc Mặt trận Tây nguyên (B3) trong giai đoạn 1966 - 1969.
Từ năm 2020 đến 2025, riêng tại khu vực núi Chư Pa, Đội Quy tập hài cốt liệt sĩ Quân đoàn 34 đã tìm kiếm, quy tập tổng cộng 46 hài cốt liệt sĩ, góp phần từng bước đưa các anh về với đất mẹ, đáp ứng nguyện vọng của thân nhân và thể hiện đạo lý "uống nước nhớ nguồn".
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/tim-thay-12-hai-cot-liet-si-o-gia-lai-185260410175524851.htm

