Mục Lục
ToggleTrưa 6.4, trên quốc lộ 50, đoạn qua địa bàn tỉnh Đồng Tháp, xảy ra vụ tai nạn giao thông liên hoàn giữa 3 phương tiện làm 1 người tử vong và 1 người bị thương.
Theo người dân chứng kiến vụ tai nạn, khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày, xe ô tô tải mang biển kiểm soát tỉnh Tây Ninh lưu thông trên quốc lộ 50 theo hướng từ phường Mỹ Phong ra quốc lộ 1.
Khi đến đoạn thuộc địa bàn phường Đạo Thạnh, tỉnh Đồng Tháp, phương tiện này bất ngờ va chạm với xe máy mang biển kiểm soát tỉnh Đồng Tháp do người phụ nữ khoảng 56 tuổi điều khiển, chở theo một phụ nữ khác khoảng 70 tuổi, lưu thông cùng chiều.
Cú va chạm làm 2 người đi trên xe máy ngã xuống đường, người phụ nữ ngồi phía sau bị xe tải cán qua người tử vong tại chỗ, người còn lại bị thương nặng, được người dân đưa đến bệnh viện cấp cứu. Riêng xe máy bị trượt trúng vào chiếc xe ba gác do người đàn ông điều khiển đang lưu thông sát lề đường.
Nhận được tin báo, lực lượng Phòng CSGT Công an tỉnh Đồng Tháp kịp thời có mặt tại hiện trường, phối hợp các đơn vị nghiệp vụ liên quan điều tiết giao thông và điều tra nguyên nhân vụ tai nạn.
Thời Sự
Quốc hội chính thức thông qua giảm thuế xăng dầu về 0 đến hết tháng 6-2026

Sáng 12-4, với 460/460 đại biểu, bằng 100% đại biểu có mặt tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua nghị quyết của Quốc hội về việc ban hành một số quy định về thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay.
Theo nghị quyết của Quốc hội mới thông qua, mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng (trừ etanol), dầu diesel, dầu hỏa, dầu mazut và nhiên liệu bay là 0 đồng/lít.
Xăng, dầu diesel, dầu hỏa, dầu mazut và nhiên liệu bay thuộc đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng các loại là 0%.
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 16-4-2026 đến hết ngày 30-6-2026.
Nghị quyết nêu rõ: để đảm bảo việc điều hành thị trường xăng, dầu và nhiên liệu bay trong nước phù hợp với diễn biến giá trên thị trường thế giới, Quốc hội giao Chính phủ ban hành nghị quyết để quyết định các nội dung dưới đây và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Bao gồm điều chỉnh (rút ngắn hoặc kéo dài) thời gian có hiệu lực của nghị quyết này.
Trường hợp khẩn cấp, điều chỉnh quy định về thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt quy định tại nghị quyết này.
Trong thời gian nghị quyết này có hiệu lực thi hành, trường hợp có sự khác nhau giữa quy định tại nghị quyết này với các văn bản quy phạm pháp luật khác về thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt thì thực hiện theo quy định tại nghị quyết này.
Cơ sở kinh doanh, người nhập khẩu xăng, dầu diesel, dầu hỏa, dầu mazut và nhiên liệu bay không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng khi bán ra và ở khâu nhập khẩu.
Các nội dung về thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt không quy định tại nghị quyết này được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế, quản lý thuế và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Trước đó, trình bày báo cáo giải trình tiếp thu, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết qua thảo luận, đại đa số đại biểu đã đồng tình với việc ban hành nghị quyết.
Theo Bộ trưởng, Chính phủ đã rà soát, tiếp thu tối đa, giải trình thấu đáo và chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo nghị quyết tại Báo cáo tiếp thu, giải trình, chỉnh lý và hoàn thiện dự thảo gửi các đại biểu Quốc hội.
Đồng thời, Chính phủ cũng đã chỉ đạo cơ quan soạn thảo phối hợp với Bộ Tư pháp, một số Ủy ban của Quốc hội rà soát, chỉnh lý về mặt kỹ thuật dự thảo nghị quyết theo đúng các quy trình của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để trình Quốc hội xem xét thông qua.

Sáng 9/4, Quốc hội thảo luận tại tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng. Điểm đáng chú ý là đề xuất thu hẹp phạm vi các giao dịch bắt buộc phải công chứng.
Theo dự thảo, chỉ các giao dịch quan trọng, giá trị lớn và rủi ro cao mới bắt buộc công chứng, như mua bán, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp bất động sản giữa cá nhân với cá nhân hoặc với tổ chức không kinh doanh bất động sản. Một số trường hợp đặc biệt như di chúc của người không biết chữ hoặc bị hạn chế về thể chất cũng thuộc diện bắt buộc.
Ngược lại, các giao dịch giá trị nhỏ, rủi ro thấp sẽ không còn bắt buộc công chứng, mà có thể thực hiện theo cơ chế đơn giản hơn.
Nhiều đại biểu bày tỏ đồng tình với hướng sửa đổi này. Đại biểu Dương Đức Hải, Cục trưởng Cục Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và Cứu nạn cứu hộ, cho rằng chỉ nên bắt buộc công chứng với giao dịch có giá trị lớn, tác động mạnh đến quyền tài sản. Với giao dịch nhỏ như mua bán xe máy cũ vài triệu đồng, nên chuyển sang xác nhận hành chính đơn giản để giảm chi phí và bớt phiền hà cho người dân.
Chủ tịch Trung ương Hội Luật gia Việt Nam Nguyễn Khánh Ngọc cũng ủng hộ việc thu hẹp danh mục bắt buộc công chứng, nhằm bảo đảm quyền tự do thỏa thuận của cá nhân và doanh nghiệp. Ông đề nghị ở những nơi khó khăn như hải đảo, có thể giao UBND cấp xã thực hiện chứng thực với giá trị tương đương để người dân không phải đi lại xa.
Đại biểu Nguyễn Minh Tuấn, Giám đốc Công an tỉnh Phú Thọ, cho rằng cần tiếp tục cắt giảm thủ tục công chứng để đẩy mạnh cải cách hành chính. Cơ quan chức năng có thể nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, trong đó một số nước không bắt buộc công chứng với mọi giao dịch bất động sản mà dựa vào nghĩa vụ thuế để xác lập giao dịch.
Bên cạnh đó, một số ý kiến đề nghị làm rõ hơn quy định trong dự thảo. Đại biểu Võ Ngọc Thanh Trúc, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ TP HCM, cho rằng khái niệm "giao dịch có tính chất quan trọng" còn chung chung, dễ dẫn tới cách hiểu khác nhau. Bà đề nghị cần có tiêu chí cụ thể hoặc giao Chính phủ quy định khung để tránh áp dụng không thống nhất.
Các đại biểu cũng thống nhất rằng với giao dịch bất động sản, việc bắt buộc công chứng vẫn cần thiết nhằm phòng ngừa tranh chấp, bảo vệ người yếu thế và bảo đảm minh bạch thị trường. Đồng thời, cần đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh số hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng để tiến tới thực hiện công chứng trực tuyến.
Sơn Hà
Thời Sự
Dự báo dân số Việt Nam giảm mạnh: Đừng đổ lỗi cho phụ nữ ‘lười sinh con’

Giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Bí thư Thành ủy TP.HCM bác bỏ quan điểm cho rằng phụ nữ TP.HCM nói riêng, phụ nữ Việt Nam nói chung “lười sinh con”. Ông cho rằng đây là cách nhìn lệch bản chất, quy trách nhiệm cho phụ nữ thay vì nhìn thẳng vào những rào cản kinh tế - xã hội đang chi phối quyết định sinh con.
Ông nhận định phụ nữ hôm nay không quay lưng với thiên chức làm mẹ. Họ chỉ đang cân nhắc rất thực tế giữa khát vọng có con với áp lực cơm áo, nhà ở, công việc và chi phí nuôi dạy con: “Họ làm như vậy là đúng quy luật của cuộc sống hiện nay: không nuôi con được tử tế thì đừng sinh con, khác với quan niệm hơn 100 năm trước: trời sinh voi, trời sinh cỏ”.
Ông Nhân nhấn mạnh mức sinh thấp không phải do phụ nữ “lười sinh con”, mà vì nhiều gia đình chưa có đủ điều kiện tối thiểu để sinh và nuôi con tử tế.
Khi người lao động chưa có mức lương đủ sống - tức mức lương thấp nhất cho phép một gia đình có 2 người đi làm có thể nuôi 2 vợ chồng và 2 con đàng hoàng, cho con đi học đến 18 tuổi và học được một nghề - thì việc họ không sinh con hoặc chỉ sinh 1 con là điều dễ hiểu.
Ông phân tích, ở nhiều nước, chỉ khoảng 55 - 65% lao động đạt mức lương bằng hoặc cao hơn lương đủ sống; còn lại 35 - 45% ở dưới ngưỡng này. Với nhóm thu nhập đó, chuyện sinh và nuôi đủ hai con đến 18 tuổi gần như vượt quá khả năng. Khi thu nhập không theo kịp chi phí nhà ở, giáo dục, y tế và sinh hoạt, lựa chọn trì hoãn sinh con hoặc không sinh thêm không phải là sự ích kỷ, mà là một tính toán hợp lý.
Theo ông Nhân, phụ nữ còn bị ràng buộc bởi bất bình đẳng giới: thời gian làm việc kéo dài, gánh nặng việc nhà và chăm con vẫn chủ yếu dồn lên vai phụ nữ. Cùng với đó là nỗi lo việc làm bấp bênh, thu nhập tăng chậm, kết hôn muộn, sinh con muộn và môi trường lao động ở nhiều nơi chưa thật sự thân thiện với phụ nữ sinh con, nuôi con.
Dẫn lại khảo sát tại Nhật Bản, ông Nhân cho biết khi hôn nhân và sinh con đi kèm gánh nặng việc nhà, chăm con, chăm sóc cha mẹ lớn tuổi và nguy cơ ảnh hưởng con đường nghề nghiệp, nhiều phụ nữ sẽ suy giảm động lực kết hôn, sinh con. Bản chất của hiện tượng ấy không phải là “lười sinh con”, mà là phản ứng trước những áp lực xã hội và bất bình đẳng giới tích tụ trong thời gian dài.
Từ những phân tích đó, ông Nhân nhấn mạnh, đừng hỏi vì sao phụ nữ “lười sinh con”, mà phải hỏi vì sao xã hội vẫn chưa tạo đủ điều kiện để họ yên tâm sinh con.
Giáo sư Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh, nếu không giải được bài toán thu nhập thì rất khó kỳ vọng người dân sinh đủ 2 con, dù có thêm nhiều biện pháp hỗ trợ khác.
Ông phân tích, năm 2023, lương tối thiểu ở TP.HCM khoảng 4,96 triệu đồng/tháng; lương đủ sống khoảng 10 triệu đồng/tháng - tức cao gấp 2,14 lần lương tối thiểu. Khoảng cách này cho thấy mức lương sàn hiện nay về cơ bản chỉ đủ để một người lao động tự nuôi bản thân, không thể nuôi con cái.
Ông nhận định, muốn một gia đình đạt mức sinh thay thế (tức sinh đủ 2 con) thì mỗi người đi làm phải đạt mức lương đủ sống, nghĩa là một cặp vợ chồng cần tổng thu nhập khoảng 20 triệu đồng/tháng mới có cơ sở nuôi 2 con đến tuổi trưởng thành.
Để làm rõ vai trò của tiền lương, giáo sư dẫn số liệu tuyển dụng tại TP.HCM giai đoạn 2021 - 2024. Phần lớn việc làm vẫn tập trung ở nhóm thu nhập thấp, trong khi số vị trí có thu nhập cao chiếm tỷ lệ không nhiều. Từ mặt bằng lương đó, ông ước tính số con bình quân mà lực lượng lao động này có thể sinh và nuôi chỉ khoảng 1,4 - 1,45 con.
Đáng chú ý, mức sinh thực tế của TP.HCM từ 2021 - 2024 cũng chỉ quanh ngưỡng 1,4 con/phụ nữ. Theo ông Nhân, sự trùng khớp này cho thấy rất rõ: khi thu nhập chưa đạt mức lương đủ sống cho một gia đình 4 người, thì mức sinh của địa phương rất khó tăng.
Bên cạnh đó, giáo sư cho biết TP.HCM đang nỗ lực giải quyết tình trạng mức sinh thấp. Theo đó, thành phố đã triển khai chính sách hỗ trợ 5 triệu đồng cho phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi; đồng thời hỗ trợ 2 triệu đồng cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh thuộc hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, người sống tại xã đảo khi thực hiện tầm soát trước sinh và sơ sinh.
Theo ông, đây là sự khích lệ cần thiết. Tuy vậy, để cải thiện mức sinh một cách bền vững, cần đồng thời tiếp tục hoàn thiện các giải pháp nền tảng, nhất là những vấn đề đang tác động trực tiếp đến quyết định sinh con của người dân.
Từ kinh nghiệm của những nước có mức sinh thấp kéo dài như Nhật Bản, Hàn Quốc, ông chỉ ra nhiều quốc gia đã chi rất lớn để khuyến khích kết hôn, sinh con nhưng mức sinh vẫn tiếp tục giảm. Theo ông, nguyên nhân là người trẻ vẫn phải đối mặt với hàng loạt rào cản: thu nhập không đủ nuôi 2 con, giá nhà quá cao, thiếu trường mầm non công lập, bất bình đẳng giới trong việc nhà và môi trường lao động chưa thân thiện với phụ nữ có con.
Ở chiều ngược lại, tại Indonesia, khi lo ngại mức sinh ở các đô thị lớn như Jakarta đã xuống 1,8 và có nguy cơ giảm sâu thì Indonesia bắt đầu triển khai hàng loạt chính sách thân thiện với gia đình.
Indonesia đã phát triển 3.700 trung tâm gia đình bền vững để tư vấn làm cha mẹ, khuyến khích người cha chia sẻ chăm con và việc nhà, hỗ trợ bữa ăn miễn phí cho trẻ nhỏ và học sinh, đơn giản hóa thủ tục tiếp cận chính sách gia đình… Đồng thời, thúc đẩy chương trình xây 3 triệu căn nhà mỗi năm để giảm áp lực nhà ở cho người trẻ.
Từ những kinh nghiệm đó, giáo sư Nhân cho rằng muốn thay đổi mức sinh một cách bền vững thì không thể chỉ dừng ở hỗ trợ ngắn hạn, mà phải tạo được nền tảng sống đủ vững cho người trẻ: thu nhập đủ sống, nhà ở phù hợp, dịch vụ giữ trẻ, an sinh y tế - xã hội và môi trường làm việc thân thiện với phụ nữ sinh con, nuôi con.

