Giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Bí thư Thành ủy TP.HCM bác bỏ quan điểm cho rằng phụ nữ TP.HCM nói riêng, phụ nữ Việt Nam nói chung “lười sinh con”. Ông cho rằng đây là cách nhìn lệch bản chất, quy trách nhiệm cho phụ nữ thay vì nhìn thẳng vào những rào cản kinh tế – xã hội đang chi phối quyết định sinh con.
Ông nhận định phụ nữ hôm nay không quay lưng với thiên chức làm mẹ. Họ chỉ đang cân nhắc rất thực tế giữa khát vọng có con với áp lực cơm áo, nhà ở, công việc và chi phí nuôi dạy con: “Họ làm như vậy là đúng quy luật của cuộc sống hiện nay: không nuôi con được tử tế thì đừng sinh con, khác với quan niệm hơn 100 năm trước: trời sinh voi, trời sinh cỏ”.
Ông Nhân nhấn mạnh mức sinh thấp không phải do phụ nữ “lười sinh con”, mà vì nhiều gia đình chưa có đủ điều kiện tối thiểu để sinh và nuôi con tử tế.
Khi người lao động chưa có mức lương đủ sống – tức mức lương thấp nhất cho phép một gia đình có 2 người đi làm có thể nuôi 2 vợ chồng và 2 con đàng hoàng, cho con đi học đến 18 tuổi và học được một nghề – thì việc họ không sinh con hoặc chỉ sinh 1 con là điều dễ hiểu.
Ông phân tích, ở nhiều nước, chỉ khoảng 55 – 65% lao động đạt mức lương bằng hoặc cao hơn lương đủ sống; còn lại 35 – 45% ở dưới ngưỡng này. Với nhóm thu nhập đó, chuyện sinh và nuôi đủ hai con đến 18 tuổi gần như vượt quá khả năng. Khi thu nhập không theo kịp chi phí nhà ở, giáo dục, y tế và sinh hoạt, lựa chọn trì hoãn sinh con hoặc không sinh thêm không phải là sự ích kỷ, mà là một tính toán hợp lý.
Theo ông Nhân, phụ nữ còn bị ràng buộc bởi bất bình đẳng giới: thời gian làm việc kéo dài, gánh nặng việc nhà và chăm con vẫn chủ yếu dồn lên vai phụ nữ. Cùng với đó là nỗi lo việc làm bấp bênh, thu nhập tăng chậm, kết hôn muộn, sinh con muộn và môi trường lao động ở nhiều nơi chưa thật sự thân thiện với phụ nữ sinh con, nuôi con.
Dẫn lại khảo sát tại Nhật Bản, ông Nhân cho biết khi hôn nhân và sinh con đi kèm gánh nặng việc nhà, chăm con, chăm sóc cha mẹ lớn tuổi và nguy cơ ảnh hưởng con đường nghề nghiệp, nhiều phụ nữ sẽ suy giảm động lực kết hôn, sinh con. Bản chất của hiện tượng ấy không phải là “lười sinh con”, mà là phản ứng trước những áp lực xã hội và bất bình đẳng giới tích tụ trong thời gian dài.
Từ những phân tích đó, ông Nhân nhấn mạnh, đừng hỏi vì sao phụ nữ “lười sinh con”, mà phải hỏi vì sao xã hội vẫn chưa tạo đủ điều kiện để họ yên tâm sinh con.
Giáo sư Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh, nếu không giải được bài toán thu nhập thì rất khó kỳ vọng người dân sinh đủ 2 con, dù có thêm nhiều biện pháp hỗ trợ khác.
Ông phân tích, năm 2023, lương tối thiểu ở TP.HCM khoảng 4,96 triệu đồng/tháng; lương đủ sống khoảng 10 triệu đồng/tháng – tức cao gấp 2,14 lần lương tối thiểu. Khoảng cách này cho thấy mức lương sàn hiện nay về cơ bản chỉ đủ để một người lao động tự nuôi bản thân, không thể nuôi con cái.
Ông nhận định, muốn một gia đình đạt mức sinh thay thế (tức sinh đủ 2 con) thì mỗi người đi làm phải đạt mức lương đủ sống, nghĩa là một cặp vợ chồng cần tổng thu nhập khoảng 20 triệu đồng/tháng mới có cơ sở nuôi 2 con đến tuổi trưởng thành.
Để làm rõ vai trò của tiền lương, giáo sư dẫn số liệu tuyển dụng tại TP.HCM giai đoạn 2021 – 2024. Phần lớn việc làm vẫn tập trung ở nhóm thu nhập thấp, trong khi số vị trí có thu nhập cao chiếm tỷ lệ không nhiều. Từ mặt bằng lương đó, ông ước tính số con bình quân mà lực lượng lao động này có thể sinh và nuôi chỉ khoảng 1,4 – 1,45 con.
Đáng chú ý, mức sinh thực tế của TP.HCM từ 2021 – 2024 cũng chỉ quanh ngưỡng 1,4 con/phụ nữ. Theo ông Nhân, sự trùng khớp này cho thấy rất rõ: khi thu nhập chưa đạt mức lương đủ sống cho một gia đình 4 người, thì mức sinh của địa phương rất khó tăng.
Bên cạnh đó, giáo sư cho biết TP.HCM đang nỗ lực giải quyết tình trạng mức sinh thấp. Theo đó, thành phố đã triển khai chính sách hỗ trợ 5 triệu đồng cho phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi; đồng thời hỗ trợ 2 triệu đồng cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh thuộc hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, người sống tại xã đảo khi thực hiện tầm soát trước sinh và sơ sinh.
Theo ông, đây là sự khích lệ cần thiết. Tuy vậy, để cải thiện mức sinh một cách bền vững, cần đồng thời tiếp tục hoàn thiện các giải pháp nền tảng, nhất là những vấn đề đang tác động trực tiếp đến quyết định sinh con của người dân.
Từ kinh nghiệm của những nước có mức sinh thấp kéo dài như Nhật Bản, Hàn Quốc, ông chỉ ra nhiều quốc gia đã chi rất lớn để khuyến khích kết hôn, sinh con nhưng mức sinh vẫn tiếp tục giảm. Theo ông, nguyên nhân là người trẻ vẫn phải đối mặt với hàng loạt rào cản: thu nhập không đủ nuôi 2 con, giá nhà quá cao, thiếu trường mầm non công lập, bất bình đẳng giới trong việc nhà và môi trường lao động chưa thân thiện với phụ nữ có con.
Ở chiều ngược lại, tại Indonesia, khi lo ngại mức sinh ở các đô thị lớn như Jakarta đã xuống 1,8 và có nguy cơ giảm sâu thì Indonesia bắt đầu triển khai hàng loạt chính sách thân thiện với gia đình.
Indonesia đã phát triển 3.700 trung tâm gia đình bền vững để tư vấn làm cha mẹ, khuyến khích người cha chia sẻ chăm con và việc nhà, hỗ trợ bữa ăn miễn phí cho trẻ nhỏ và học sinh, đơn giản hóa thủ tục tiếp cận chính sách gia đình… Đồng thời, thúc đẩy chương trình xây 3 triệu căn nhà mỗi năm để giảm áp lực nhà ở cho người trẻ.
Từ những kinh nghiệm đó, giáo sư Nhân cho rằng muốn thay đổi mức sinh một cách bền vững thì không thể chỉ dừng ở hỗ trợ ngắn hạn, mà phải tạo được nền tảng sống đủ vững cho người trẻ: thu nhập đủ sống, nhà ở phù hợp, dịch vụ giữ trẻ, an sinh y tế – xã hội và môi trường làm việc thân thiện với phụ nữ sinh con, nuôi con.
Ngày 10/4, UBND tỉnh Quảng Ninh ban hành kế hoạch chi tiết nhằm hoàn thiện hồ sơ, thủ tục trình cấp có thẩm quyền quyết định thành lập TP Quảng Ninh trực thuộc Trung ương. Kế hoạch dựa trên cơ sở kết luận của Bộ Chính trị tại phiên họp ngày 3/4 về việc thống nhất chủ trương thành lập TP Quảng Ninh trên cơ sở toàn bộ địa giới hành chính của tỉnh hiện nay.
Theo kế hoạch, đề án thành lập TP Quảng Ninh sẽ được hoàn thiện trong tháng 4, đồng thời ban hành kế hoạch, tổ chức lấy ý kiến người dân tại các xã, phường, đặc khu. Tháng 5/2026, đề án được báo cáo các cấp ủy Đảng và trình HĐND tỉnh thông qua, sau đó trình lên Chính phủ để Bộ Nội vụ thẩm định và báo cáo Quốc hội. Dự kiến tháng 6, đề án được trình lên Quốc hội xem xét.
Tỉnh Quảng Ninh sẽ báo cáo Chính phủ cho phép không áp dụng một số quy định về phân loại đô thị thông thường để phù hợp với tính chất đặc thù khi chuyển đổi toàn bộ địa giới hành chính thành thành phố trực thuộc Trung ương
Năm 2025, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GRDP) của Quảng Ninh ước đạt 11,89%, cao nhất cả nước, quy mô nền kinh tế trên 368.445 tỷ đồng. Tổng thu ngân sách nhà nước lần đầu tiên đạt 84.500 tỷ đồng, đứng thứ 6 cả nước.
Du lịch là ngành kinh tế thế mạnh của Quảng Ninh, năm 2025 tỉnh đã tiếp đón 21,28 triệu lượt khách, tăng 12% so với cùng kỳ, trong đó khách nội địa đạt 16,78 triệu, khách quốc tế 4,5 triệu lượt. Tổng doanh thu du lịch đạt 57.000 tỷ đồng.
Năm 2026, Quảng Ninh đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng GRDP đạt trên 12,5%, GRDP bình quân đầu người từ 11.800 USD trở lên, tổng thu ngân sách nhà nước đạt 100.000 tỷ đồng.
Cả nước hiện có 6 thành phố trực thuộc Trung ương là Hà Nội, Hải Phòng, TP Huế, Đà Nẵng, TP HCM, Cần Thơ. Cuối tháng 3, Trung ương Đảng đồng ý chủ trương đưa Đồng Nai lên thành phố trực thuộc Trung ương.
Ngày 15/4, Bộ đội Biên phòng tỉnh Tây Ninh tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm hoạt động của tổ chức quân sự địa phương khi thực hiện hệ thống chính quyền địa phương 2 cấp.
Dự hội nghị có Thiếu tướng Võ Tiến Nghị, Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng; ông Nguyễn Hồng Thanh, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Tây Ninh, cùng đại diện các cơ quan chức năng, địa phương khu vực biên giới.
Sau khi sáp nhập từ lực lượng của hai tỉnh Long An và Tây Ninh, Bộ đội Biên phòng tỉnh Tây Ninh quản lý 19 xã biên giới với chiều dài gần 369km. Đây là địa bàn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp như tội phạm ma túy, buôn lậu, gian lận thương mại, xuất nhập cảnh trái phép.
Trước yêu cầu nhiệm vụ, đơn vị đã nhanh chóng kiện toàn tổ chức, vận hành hiệu quả cơ chế chỉ huy, điều hành; đồng thời rà soát, bổ sung các phương án, kế hoạch sát thực tế địa bàn.
Từ ngày 1/7/2025 đến nay, lực lượng đã xác lập, phá thành công 5 chuyên án, xử lý 4.757 vụ với 5.544 đối tượng vi phạm. Tang vật thu giữ gồm: 6,2kg ma túy, gần 800kg pháo nổ, hơn 64.000 bao thuốc lá ngoại cùng nhiều tài sản có giá trị.
Ngoài ra, đơn vị đã khởi tố 31 vụ, xử phạt hành chính hơn 4.700 vụ, nộp ngân sách trên 13 tỷ đồng; tiếp nhận hơn 1.000 công dân do phía Campuchia bàn giao.
Công tác quản lý cửa khẩu, kiểm soát xuất nhập cảnh và đối ngoại biên phòng được duy trì chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giao thương.
Bên cạnh đó, Bộ đội Biên phòng tỉnh còn phối hợp với các địa phương triển khai nhiều hoạt động an sinh xã hội, hỗ trợ người dân khu vực biên giới phát triển kinh tế, ổn định đời sống.
Phát biểu chỉ đạo, lãnh đạo UBND tỉnh Tây Ninh và Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng ghi nhận nỗ lực của đơn vị trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; đồng thời nhấn mạnh vai trò nòng cốt, chủ trì, phối hợp với các lực lượng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Thiếu tướng Võ Tiến Nghị yêu cầu đơn vị tiếp tục hoàn thiện quy chế, quy trình công tác; tăng cường phối hợp với các lực lượng, địa phương để quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, không để xảy ra bị động, bất ngờ.
Đại thủy nông Bắc Hưng Hải - hệ thống từng cung cấp nước tưới cho 130.000 ha đất nông nghiệp vùng đồng bằng Bắc Bộ, đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến hàng chục triệu dân. Phải làm gì để hồi sinh hệ thống là câu hỏi khiến cả nhà quản lý và chuyên gia sông ngòi phải tính toán thấu đáo.
Tổng điều tra và đánh giá lại toàn bộ hệ thống
Bắc Hưng Hải gồm hơn 230 km kênh trục chính, hàng nghìn km kênh mương nội đồng cùng khoảng 1.900 cống, trạm bơm. Với mạng lưới quy mô lớn, trải dài qua Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh và Hải Phòng, PGS.TS Đào Trọng Tứ, Trưởng ban điều hành Mạng lưới sông ngòi Việt Nam, cho rằng muốn cải tạo phải bắt đầu từ tổng điều tra và đánh giá lại toàn bộ hệ thống.
Bắc Hưng Hải được thiết kế trong bối cảnh cơ cấu sử dụng đất, nhu cầu nước tưới rất khác so với hiện nay. Nhiều năm qua, một phần lớn diện tích đất nông nghiệp trong lưu vực đã được chuyển đổi sang đô thị, khu công nghiệp hoặc các loại hình sử dụng đất khác. Điều này khiến nhu cầu cấp nước và tiêu thoát nước của hệ thống thay đổi đáng kể so với thiết kế chỉ phục vụ tưới tiêu ban đầu.
"Cần xem lại năng lực tưới tiêu thực tế của hệ thống hiện nay đã thay đổi như thế nào, diện tích đất nông nghiệp còn bao nhiêu và nhu cầu cấp nước ra sao. Trên cơ sở đó mới có thể tính toán phương án cải tạo phù hợp", ông Tứ nói và nhận định việc đánh giá lại toàn bộ hiện trạng hệ thống là bước quan trọng để xác định quy mô đầu tư hợp lý, bảo đảm hiệu quả lâu dài của dự án cải tạo.
Cấp bách kiểm soát nguồn thải
Sau bước đánh giá toàn bộ hệ thống Bắc Hưng Hải, ông Nguyễn Tùng Phong, Cục trưởng Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho rằng phải cấp bách kiểm soát nguồn thải. Cùng với quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp nhanh của khu vực, lượng nước thải từ các khu công nghiệp, làng nghề và khu dân cư đổ vào Bắc Hưng Hải ngày càng tăng, tạo áp lực lớn đối với chất lượng nước.
Theo tính toán, hiện tổng lượng nước thải xả vào Bắc Hưng Hải khoảng 538.838 m3 mỗi ngày đêm, phân bố rộng khắp trên toàn lưu vực. Trong đó, Hưng Yên chiếm tỷ lệ lớn nhất 31%, tiếp đến là Hải Phòng 21%, Hà Nội 13%, Bắc Ninh hơn 9%. Nhiều nguồn xả thải vẫn chưa được kiểm soát hoặc xử lý đạt yêu cầu khiến nhiều đoạn kênh rơi vào tình trạng ô nhiễm kéo dài.
Cũng cho rằng phải kiểm soát nguồn thải, ông Lương Xuân Chính, Phó giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải, phân tích khả năng tự làm sạch của kênh chỉ tồn tại trong giới hạn nhất định. Khi lượng nước thải vượt quá khả năng chịu tải, chất lượng nước sẽ suy giảm nhanh.
"Bổ sung nguồn nước chỉ giúp pha loãng ô nhiễm trong một số thời điểm, còn muốn xử lý tận gốc thì phải kiểm soát được nguồn thải", ông Chính nói.
Tuy nhiên, kiểm soát nguồn thải trên mạng lưới như Bắc Hưng Hải là bài toán rất tốn kém, có thể vượt quá nguồn lực của địa phương, theo GS.TS Trần Đức Hạ, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cấp thoát nước và Môi trường. Bởi chi phí xây dựng và vận hành các nhà máy xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn cao rất lớn, trong khi nhiều địa phương chưa hoàn thiện hệ thống thu gom nước thải đô thị.
"Cần kết hợp nhiều biện pháp, từ kiểm soát nguồn thải, điều tiết dòng chảy đến tận dụng khả năng tự làm sạch của hệ thống sông kênh", ông Hạ đề xuất.
Phối hợp liên tỉnh
So sánh với việc cải tạo sông Tô Lịch, PGS.TS Đào Trọng Tứ cho rằng bài toán của Bắc Hưng Hải phức tạp hơn nhiều. Tô Lịch nằm hoàn toàn trong phạm vi Hà Nội, hệ thống Bắc Hưng Hải lại trải dài qua nhiều tỉnh với hàng loạt nguồn thải. Nếu mỗi địa phương làm một kiểu, không có cơ chế điều phối thống nhất thì rất khó đảm bảo các hạng mục cải tạo được triển khai đồng bộ và phát huy hiệu quả.
TS Trần Đức Hạ cũng cho rằng thách thức lớn nhất hiện nay là làm sao thiết lập được cơ chế quản lý thống nhất cho toàn hệ thống Bắc Hưng Hải. Nếu không có cơ chế điều phối đủ mạnh ở cấp vùng, việc xử lý ô nhiễm hay cải tạo hạ tầng sẽ khó đạt hiệu quả lâu dài.
Bởi Bắc Hưng Hải không chỉ là công trình thủy lợi phục vụ nông nghiệp như trước đây. Nó đang phải gánh thêm nhiều chức năng mới như tiêu thoát nước cho đô thị, khu dân cư và khu công nghiệp; tiếp nhận nước thải và là khung sinh thái cảnh quan cho khu vực.
"Cần có cơ quan đầu mối đủ thẩm quyền để điều phối chung toàn bộ hệ thống, từ đầu tư hạ tầng đến kiểm soát nguồn thải", ông Hạ kiến nghị.
Chờ đề án cải tạo quy mô lớn
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng đề án xử lý ô nhiễm và phát triển tổng thể hệ thống Bắc Hưng Hải, mục tiêu từng bước phục hồi chất lượng nước, nâng cao năng lực tưới tiêu và điều tiết nước, đồng thời thích ứng với quá trình đô thị hóa nhanh trong lưu vực.
Đề án tập trung vào ba nhóm giải pháp chính. Đầu tiên là nâng cấp và hiện đại hóa hệ thống công trình thủy lợi, cải tạo các công trình đầu mối, nạo vét tuyến kênh trục và kênh nhánh, đồng thời lắp đặt trạm quan trắc tự động để theo dõi chất lượng nước và điều tiết dòng chảy.
Nhóm giải pháp thứ hai là kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất lượng nước, thông qua việc xây dựng các công trình kiểm soát nguồn thải tại vị trí xả lớn, từng bước thu gom và xử lý nước thải trước khi đổ vào hệ thống. Cuối cùng là khai thác tổng hợp không gian hai bên kênh, kết hợp chỉnh trang cảnh quan, phát triển các tuyến đô thị sinh thái và dịch vụ.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường tính toán tổng kinh phí dự kiến để cải tạo toàn diện hệ thống khoảng 38.500 tỷ đồng. Trong đó, khoảng 6.000 tỷ đồng vốn đầu tư công để hoàn thiện hạng mục chính của hệ thống, gồm 4.505 tỷ nâng cấp hạ tầng thủy lợi, 100 tỷ hiện đại hóa công tác quản lý vận hành và khoảng 1.394 tỷ cải tạo các tuyến kênh trục. Các địa phương tham gia đầu tư nhiều hạng mục liên quan kiểm soát ô nhiễm và chỉnh trang hệ thống kênh.
Với quy mô lớn và lịch sử vận hành hơn nửa thế kỷ, chuyên gia và nhà quản lý cho rằng việc hồi sinh Bắc Hưng Hải không chỉ là chuyện cải tạo hệ thống thủy lợi mà là bài toán quản lý tổng hợp cả lưu vực rộng lớn. Nó đòi hỏi sự chung sức của nhiều địa phương, bộ ngành và người dân trong lưu vực.