Trao đổi với PV Báo Thanh Niên ngày 9.4, ông Nguyễn Thái Hậu, Phó hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo (gọi tắt Hạt Kiểm lâm) cho biết đơn vị đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với ông Đ.V.T (36 tuổi, ở đặc khu Côn Đảo, TP.HCM) 3 triệu đồng và tịch thu 42 cây mai vàng.
Hôm 2.4, tổ tuần tra liên ngành (do Hạt Kiểm lâm chủ trì cùng Công an đặc khu Côn Đảo và Ban Chỉ huy phòng thủ Khu vực 6 đặc khu Côn Đảo) thực hiện kế hoạch kiểm tra, truy xuất nguồn gốc lâm sản tại địa chỉ số 36 Tôn Đức Thắng, khu 5, đặc khu Côn Đảo.
Tại đây, lực lượng phát hiện 42 cây mai vàng do ông T. cất giữ, chăm sóc. Ông T. khai nhận đã mua 45 cây từ đất liền vận chuyển ra đảo, trong quá trình chăm sóc có 3 cây bị chết, số còn lại 42 cây có tổng khối lượng 0,38 m³.
Theo ông Hậu, mai vàng là cây thân gỗ phân bố trong rừng tự nhiên tại Côn Đảo, đồng thời cũng được người dân trồng, nhân giống làm cây kiểng phục vụ làm cảnh tại nhà, mua bán ngoài thị trường.
Vậy, việc xử phạt trên đã đúng với quy định pháp luật chưa? Trao đổi với PV BáoThanh Niên, luật sư Lê Văn Hoan, Đoàn luật sư TP.HCM, dẫn định nghĩa lâm sản theo khoản 16 điều 2 luật Lâm nghiệp 2017 (được sửa đổi năm 2025): “Lâm sản là sản phẩm khai thác từ rừng bao gồm thực vật rừng, động vật rừng và các sinh vật rừng khác gồm cả gỗ, lâm sản ngoài gỗ, sản phẩm gỗ, song, mây, tre, nứa đã chế biến”.
Định nghĩa này chứa đựng một yếu tố quan trọng, đó là có nguồn gốc từ rừng. Một thực vật chỉ được xem là lâm sản khi nó được khai thác từ hệ sinh thái rừng. Đối với cây mai vàng, nếu đây là cây do người dân tự trồng trong vườn nhà, không phải đất rừng, hoặc được mua bán thương mại từ các nhà vườn kiểng có nguồn gốc rõ ràng, thì chúng mang bản chất một loại cây cảnh. Vì thế, đây là một tài sản dân sự, không phải là “lâm sản” theo định nghĩa của luật Lâm nghiệp.
“Tôi cho rằng việc Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo kết luận ông T. vi phạm khoản 6 điều 9 luật Lâm nghiệp về hành vi “tàng trữ… lâm sản trái quy định” mà chưa làm rõ các gốc mai này có nguồn gốc từ rừng là thiếu cơ sở”, luật sư Hoan nêu ý kiến.
Một trong những nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính được quy định tại khoản 1 điều 3 luật Xử lý vi phạm hành chính đó là người xử phạt phải có trách nhiệm chứng minh có hành vi vi phạm. Đây là nghĩa vụ của người xử phạt. Còn người bị xử phạt có quyền chứng minh mình không vi phạm. Việc chứng minh mình không vi phạm của người bị xử phạt là quyền chứ không phải nghĩa vụ, nghĩa là không bắt buộc.
“Nguyên tắc này không chỉ áp dụng trong xử lý vi phạm hành chính mà ngay cả trong lĩnh vực hình sự cũng vậy. Nghĩa là bên buộc tội phải có nghĩa vụ chứng minh hành vi phạm tội”, luật sư Hoan nhấn mạnh.
Cũng theo luật sư Hoan, việc ông T. cất giữ, chăm sóc gốc mai là một sự thật khách quan, nhưng sự thật đó chỉ trở thành “hành vi vi phạm” nếu cơ quan chức năng chứng minh được đối tượng đó là lâm sản bất hợp pháp. “Nếu không chứng minh được nguồn gốc từ rừng, thì không thể áp dụng các chế tài về lâm nghiệp để xử lý tài sản của công dân”, luật sư Hoan nói.
Cơ quan chức năng đang dựa vào việc ông T. không có bảng kê lâm sản theo quy định tại Thông tư 26 năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, được bổ sung bởi Thông tư 84 năm 2025 Bộ Nông nghiệp và Môi trường (về truy xuất nguồn gốc lâm sản) để làm căn cứ xử phạt. Tuy nhiên, về vấn đề này, luật sư cho rằng cần xem xét kỹ đối tượng phải lập bảng kê.
Bởi tại khoản 9 điều 3 Thông tư 26 quy định: “Bảng kê lâm sản là bảng kê khai, mô tả thông tin chi tiết về: gỗ nguyên liệu, sản phẩm gỗ, cây thân gỗ; thực vật rừng ngoài gỗ; động vật rừng, sản phẩm của động vật rừng; thực vật rừng ngoài gỗ; động vật, sản phẩm của động vật, thực vật ngoài gỗ, sản phẩm của thực vật ngoài gỗ thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm, Phụ lục CITES. Bảng kê lâm sản không áp dụng đối với giống cây trồng lâm nghiệp và loài thủy sản thuộc Phụ lục CITES”.
Theo kiểm lâm, ông T. vi phạm khoản 6 điều 9 luật Lâm nghiệp năm 2017 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025). Đồng thời, tại biên bản vi phạm hành chính lập ngày 2.4, ông T. có đề nghị sẽ cung cấp hóa đơn chứng từ mua bán số mai trên cho Hạt Kiểm lâm vào ngày hôm sau. Nhưng đến nay, ông T. không cung cấp được hóa đơn, chứng từ, bảng kê lâm sản hợp lệ theo quy định. Do đó, Hạt Kiểm lâm quyết định xử phạt theo Nghị định số 35 năm 2019 (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 07 năm 2022). Theo luật sư Hoan, cần phải xem xét lại vấn đề này.
“Gốc rễ vấn đề trong trường hợp này là Hạt kiểm lâm phải có nghĩa vụ chứng minh 42 gốc mai đó là lâm sản. Chỉ khi nào chứng minh được thì mới có căn cứ áp dụng chế tài như xử phạt hành chính và tịch thu tang vật”, luật sư Hoan chia sẻ.
Nếu 42 gốc mai của ông T. là mai vườn, được trồng và bứng từ đất thổ cư hoặc đất vườn của hộ gia đình (không phải đất rừng), thì không có cơ sở xử phạt.
Trường hợp không chứng minh được 42 gốc mai là lâm sản, thì phải mặc định đó là tài sản dân sự hợp pháp. Do đó, việc tịch thu tang vật là 42 gốc mai và phạt ông T. 3 triệu đồng khi chưa chứng minh được tính chất “lâm sản” là không đảm bảo tính pháp lý.
Đồng tình với luật sư Hoan, luật sư Hoàng Hà (Đoàn luật sư TP.HCM) cho rằng kiểm lâm muốn chứng minh 42 cây mai là lâm sản để xử phạt thì cần phải thực hiện nhiều bước nghiệp vụ.
“Việc xác minh phải thể hiện bằng văn bản và có thể trưng cầu giám định. Vì vậy trong vụ này, kiểm lâm không thể chỉ dừng ở việc ghi nhận ông T. không xuất trình được bảng kê lâm sản, rồi suy ra ngay hành vi tàng trữ lâm sản trái pháp luật”, luật sư Hoàng Hà nói.
Lẽ ra, việc kiểm lâm phải làm là xác định đúng đối tượng quản lý. Muốn áp dụng chế tài lâm nghiệp thì phải có căn cứ cho thấy 42 cây mai thuộc loại “thực vật rừng ngoài gỗ”. Tức là lâm sản theo luật Lâm nghiệp và Thông tư 26 năm 2025.
Nếu còn lấn cấn giữa “mai rừng” và “mai vườn” thì cơ quan xử lý phải thu thập lời khai về nơi mua, người bán, địa điểm bứng cây, phương thức vận chuyển, chứng từ giao dịch, người làm chứng, đặc điểm thực vật học của cây. Cũng có thể trưng cầu chuyên môn nếu cần để làm rõ cây có nguồn gốc từ rừng, hay chỉ là cây cảnh do nhà vườn trồng.
“Chỉ sau khi qua bước nhận diện này mới có thể nói tới nghĩa vụ lập bảng kê lâm sản theo điều 11 Thông tư 26 năm 2025”, luật sư Hoàng Hà nhấn mạnh.
Sau khi làm các bước trên, nếu có căn cứ xử phạt, thì kiểm lâm phải lập hồ sơ xử phạt đầy đủ, trong đó có biên bản vi phạm, tài liệu xác minh, chứng cứ nguồn gốc, lời khai của đương sự và các giấy tờ liên quan.
Theo đó, đề án đặt mục tiêu hiện đại hóa toàn diện hệ sinh thái văn hóa số quốc gia; đồng thời đưa văn hóa số trở thành nguồn lực mới cho phát triển bền vững; bảo đảm tài nguyên văn hóa được mở rộng số hóa, chia sẻ hiệu quả, phục vụ người dân, doanh nghiệp và xã hội.
Đề án đưa ra các mục tiêu cụ thể. Đến năm 2030, 100% lĩnh vực văn hóa có nền tảng số dùng chung. Cũng thời điểm này, 100% các loại hình di sản văn hóa đã số hóa được chuẩn hóa dữ liệu theo khung chuẩn quốc gia và chia sẻ theo quy định; 80% di sản văn hóa số công có mã định danh số để xác lập quyền sở hữu, kiểm soát khai thác, khuyến khích người dân, tổ chức, doanh nghiệp cũng xác định mã định danh, quyền sở hữu để thúc đẩy thị trường.
Bảo đảm ít nhất 75% người dân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; 80% các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được hưởng thụ và tham gia các hoạt động văn hóa trên môi trường số...
Mục tiêu đến năm 2045, phát triển hoàn thiện hệ sinh thái văn hóa số toàn diện, thông minh, tương tác cao, vừa bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, vừa lan tỏa mạnh mẽ văn hóa Việt ra thế giới và hội nhập quốc tế. Văn hóa số Việt Nam trở thành động lực phát triển con người Việt Nam toàn diện và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia, trong đó phấn đấu các ngành công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột bền vững, đóng góp 9% GDP, quy mô các sản phẩm công nghiệp văn hóa số chiếm tỷ trọng trên 80% sản phẩm công nghiệp văn hóa.
Chiều 8/4, tại phiên thảo luận tổ về dự thảo Luật Thủ đô sửa đổi, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng Luật Thủ đô cần được thiết kế như một thiết chế pháp lý đặc thù, đủ năng lực dẫn dắt, tháo gỡ các điểm nghẽn phát triển, nhưng đồng thời phải bảo đảm kỷ cương, kỷ luật và tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Nguyên tắc xuyên suốt là phân cấp, phân quyền triệt để hơn, song đi kèm trách nhiệm giải trình rõ ràng và cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ, tránh buông lỏng quản lý.
Ông chỉ ra những điểm nghẽn lớn của Hà Nội hiện nay nằm ở quy hoạch, hạ tầng, quản trị đô thị và cơ chế huy động nguồn lực. Trong đó, quy hoạch phải được tiếp cận với tầm nhìn dài hạn, ổn định, không điều chỉnh theo từng nhiệm kỳ. Người dân và doanh nghiệp cần nhìn thấy rõ định hướng phát triển để đồng thuận và chủ động tham gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị xây dựng các mô hình không gian phát triển dài hạn, xác định rõ khu đô thị, khu bảo tồn văn hóa di sản, khu công nghiệp, trường học, dịch vụ. Thực trạng hiện nay cho thấy quy hoạch còn phân tán theo từng dự án nhà ở, thiếu đồng bộ hạ tầng, đặc biệt là giao thông và hệ thống thoát nước, dẫn đến tình trạng "xây dựng đến đâu, tắc đường đến đó".
Từ đó, ông nhấn mạnh yêu cầu phát triển các đô thị vệ tinh và các phường mới theo tiêu chuẩn hiện đại, đồng bộ về nhà ở xã hội, bệnh viện, trường học, công viên và hệ thống giao thông công cộng như đường sắt đô thị, tàu điện trên cao. Đây là điều kiện then chốt để giãn dân khu vực nội đô, giảm áp lực hạ tầng và tổ chức lại không gian đô thị một cách bền vững.
"Khi các thành phố vệ tinh có đầy đủ tiện ích và kết nối giao thông thuận tiện, người dân sẽ sẵn sàng rời bỏ những căn gác xép chật hẹp trong phố cổ để ra ngoài sinh sống", ông nói.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo, quản trị để phục vụ phát triển. Luật cần tập trung vào các nguyên tắc khung, tạo không gian thể chế để Thủ đô chủ động thiết kế, thử nghiệm và triển khai chính sách phù hợp với đặc thù, trong khi các nội dung linh hoạt nên giao cho Chính phủ và chính quyền thành phố quy định.
Một nội dung then chốt khác là cơ chế phân cấp, phân quyền phải thực chất, rõ ràng, gắn với năng lực thực thi và nguồn lực tài chính. Việc giao quyền phải đi liền điều kiện thực hiện, tránh tình trạng giao quyền nhưng không đủ nguồn lực, tiềm ẩn rủi ro trong quản lý và thực thi.
Đối với các cơ chế thí điểm khác với quy định hiện hành, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu làm rõ phạm vi, chỉ áp dụng với lĩnh vực thực sự đặc thù, có đánh giá đầy đủ và kiểm soát chặt chẽ. Hà Nội có lợi thế về nguồn lực, nhân lực chất lượng cao và hệ thống nghiên cứu nên cần được trao không gian thử nghiệm đổi mới sáng tạo, nhưng không để việc thí điểm kéo dài thiếu kiểm soát hoặc trở thành cách hợp thức hóa bất cập. Đồng thời, luật cần có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ dám làm đi kèm ràng buộc trách nhiệm.
Ông cũng đề nghị rà soát các chính sách về khoa học công nghệ, tài chính ngân sách, đầu tư hạ tầng và liên kết vùng để bảo đảm tính đột phá, tránh trùng lặp với cơ chế chung. Thủ đô không thể phát triển nếu tách rời vùng, trong khi nhiều dự án hạ tầng lớn như các tuyến vành đai hay sân bay nằm trên địa bàn các địa phương lân cận, đòi hỏi cơ chế phối hợp hiệu quả về quy hoạch và nguồn lực. Mọi chính sách phát triển cần bảo đảm công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và người dân, không đánh đổi quyền lợi cơ bản của người dân để lấy tăng trưởng.
"Sửa đổi Luật Thủ đô không chỉ là hoàn thiện khung pháp lý mà còn là lựa chọn mô hình phát triển và quản trị. Thủ đô được trao quyền cao hơn thì phải chịu trách nhiệm cao hơn; có cơ chế đặc thù thì phải tạo ra kết quả vượt trội và khi thí điểm phải kiểm soát được rủi ro", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói và nhấn mạnh Hà Nội cần trở thành hình mẫu về quản trị hiện đại, kỷ luật nghiêm minh và trách nhiệm, từ đó lan tỏa kinh nghiệm cho cả nước.
Đại biểu Trịnh Xuân An, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại, cho rằng việc sửa đổi Luật Thủ đô cần đặt trong tổng thể hệ thống pháp luật hiện hành, khi nhiều luật đã được Quốc hội khóa trước thông qua với các cơ chế, chính sách vượt trội. Cơ quan soạn thảo cần rà soát các quy định ưu đãi ở các luật liên quan để bảo đảm thống nhất, tránh tình trạng chồng chéo.
Ông cũng đề nghị đối chiếu dự thảo với các nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị như về kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước, khoa học công nghệ, y tế, văn hóa..., bảo đảm cùng một hướng phát triển và không tạo ra độ vênh chính sách. "Dự thảo chưa thể hiện đầy đủ nội dung về quốc phòng, an ninh, trong khi đây là yêu cầu đặc thù của Thủ đô", ông nói, cho rằng cần bổ sung cơ chế bảo vệ, đầu tư ngân sách cho lực lượng vũ trang và gắn với không gian vùng để bảo đảm an ninh tổng thể.
Liên quan phát triển đô thị, ông cho rằng các cơ chế về nhà ở và cải tạo đô thị chưa phản ánh đầy đủ tinh thần các nghị quyết đã ban hành. Hai vấn đề lớn là giao thông và nhà ở cần có giải pháp cụ thể, đủ mạnh để tạo chuyển biến thực tế, trong đó có thể xem xét lại điều kiện đồng thuận của người dân khi triển khai các dự án cải tạo để tránh tình trạng kéo dài, không thực hiện được.
Ông Trịnh Xuân An đánh giá các khái niệm không gian tầm cao và không gian ngầm là hướng tiếp cận mới, nhưng hiện chưa có nền tảng pháp lý đầy đủ. Do đó, ông đề xuất nghiên cứu quy định cụ thể hơn, thậm chí xây dựng khung pháp lý riêng, để bảo đảm có thể triển khai đồng bộ, tránh vướng mắc khi thực hiện.
"Cần làm rõ mối quan hệ giữa Luật Thủ đô với các nghị quyết đặc thù đang áp dụng cho thành phố, cũng như cơ chế chuyển tiếp khi luật có hiệu lực, nhằm tránh xung đột pháp lý và bảo đảm tính thống nhất, khả thi", đại biểu nhấn mạnh.
Báo Tuổi Trẻ giới thiệu ý kiến các nhà quản lý và các chuyên gia về giải pháp để làm sao xe buýt trở thành phương tiện chủ yếu của người dân.
* PGS.TS Vũ Anh Tuấn (Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu giao thông vận tải Việt Đức, Trường ĐH Việt Đức):
Chính sách miễn vé xe buýt có thể tạo ra "cú hích" ban đầu, giúp người dân tiếp cận và trải nghiệm giao thông công cộng. Tuy nhiên, điều cốt lõi vẫn nằm ở chất lượng dịch vụ, việc đi lại thuận tiện và khả năng đáp ứng của hệ thống.
Khi người dân đã bắt đầu chuyển sang thử nghiệm xe buýt sẽ là thời điểm cần tận dụng để nâng cấp toàn diện mạng lưới. Việc mở rộng tuyến, tăng số lượng phương tiện và cải thiện chất lượng phục vụ là những yếu tố then chốt để giữ chân hành khách trong trung và dài hạn. Trước khi mở rộng địa giới, TP.HCM có khoảng 300 xe buýt trên mỗi 1 triệu dân. Mức này thấp hơn nhiều so với các đô thị lớn trong khu vực như Bangkok (Thái Lan) hay Jakarta (Indonesia), nơi thường duy trì khoảng 900 - 1.000 xe/1 triệu dân để có thể đáp ứng khoảng 20 - 30% nhu cầu đi lại hằng ngày. Để đạt được tỉ lệ này ngoài việc đủ số lượng phương tiện còn phải bảo đảm mạng lưới tuyến, mật độ điểm dừng, nhà chờ được phân bố hợp lý, tránh tình trạng "vùng trắng" xe buýt.
Đồng thời, Nhà nước cần ưu tiên đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, xây dựng hệ thống vé điện tử và một nền tảng dùng chung để người dân có thể tra cứu hành trình, thời gian xe đến, thanh toán và đặt chỗ. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển mô hình giao thông thông minh, kết nối đồng bộ giữa xe buýt, metro, xe đạp công cộng và các loại hình vận tải khác.
Trước mắt, TP.HCM chưa nên miễn phí đại trà mà cần thí điểm có kiểm soát, ưu tiên các tuyến còn dư năng lực hoặc đóng vai trò kết nối với metro. Cũng có thể áp dụng miễn phí có điều kiện theo nhóm đối tượng hoặc khung giờ để phân bổ lại nhu cầu, giảm áp lực vào giờ cao điểm.
Song song đó, Nhà nước cũng cần tái cấu trúc mạng lưới xe buýt theo hướng hình thành các tuyến trục, tuyến liên vùng, kết hợp làn ưu tiên cho xe buýt tại các tuyến đường có nhu cầu lớn. Cải thiện khả năng tiếp cận như hạ tầng đi bộ, các bãi đỗ "park and ride" (nơi người dân gửi xe cá nhân rồi chuyển sang đi xe buýt, metro - PV), hay kết nối xe đạp.
* Chị Nguyễn Thị Ngọc Tú (TP.HCM):
Để thu hút người dân đi xe buýt thì cần có nhiều cải thiện bên cạnh việc miễn phí. Xe buýt cần sạch sẽ, có nhiều tuyến hơn để người dân có thể đi bộ một khoảng ngắn là có thể đón được xe. Bên cạnh đó, người dân chỉ thực sự "mặn mà" với xe buýt khi hành trình đi bộ đến trạm xe buýt được an toàn và thoải mái.
Ngoài việc cải thiện hạ tầng, tôi mong có một ứng dụng theo dõi hành trình của xe buýt theo thời gian thực. Nếu có một ứng dụng thông minh hiển thị chính xác vị trí xe và thời gian cập bến dự kiến thì người dân sẽ chủ động được kế hoạch khi chọn xe buýt.
* Ông Bùi Hòa An (Phó giám đốc Sở Xây dựng TP.HCM):
Sở Xây dựng TP.HCM nghiên cứu để nâng cao chất lượng phục vụ của xe buýt, phát triển ứng dụng theo dõi xe buýt, và khả năng làm làn đường riêng để đảm bảo xe chạy nhanh, đúng giờ và người dân theo dõi được hành trình, chủ động thời gian khi đi xe buýt.
Các xe đều có gắn camera theo dõi. Với ứng dụng theo dõi xe buýt, sở đang phát triển tính năng hiển thị vị trí, thời gian thực của xe buýt trên bản đồ để người dân tiện theo dõi, dự kiến sẽ hoàn thành trong ba tháng nữa. Sở cũng đã xin phép và đang tích hợp ứng dụng này lên nền tảng VNeID để tăng tính tiện dụng.
Về làn đường riêng để xe buýt đi nhanh, đến trạm đúng giờ, Sở Xây dựng có nghiên cứu nhưng chưa thể thực hiện bởi khu vực trung tâm có mật độ giao thông cao. Nếu chính sách miễn phí xe buýt hiệu quả, giảm phương tiện cá nhân thì mới có cơ sở thực hiện việc này. Sở cũng đã có kế hoạch tái cơ cấu lại mạng lưới, bố trí thêm các tuyến đan xen để rút ngắn thời gian chờ giữa các chuyến (hiện đang ở mức 8 - 15 phút tùy tuyến).
* Ông Nguyễn Minh Tuấn (Phó giám đốc Trung tâm Quản lý và Điều hành giao thông Hà Nội):
Xe buýt hiện vẫn chưa thực sự thu hút được người dân. Nguyên nhân đầu tiên là thói quen đi lại của người dân, họ muốn đi xe cá nhân đến tận cửa nhà. Bên cạnh đó, hạ tầng dành riêng cho xe buýt còn thiếu, phần lớn xe buýt vẫn phải đi chung với các phương tiện khác, làm giảm khả năng lưu thông và hiệu quả vận hành.
Xe đi chậm và thời gian không ổn định cũng khiến người dân không ưu tiên chọn xe buýt. Hiện vận tốc trung bình của các tuyến xe buýt nội đô Hà Nội chỉ đạt khoảng 14 - 15km/h. Để xe buýt đi nhanh và đúng giờ, Nhà nước cần có những giải pháp hạ tầng đột phá như thiết lập các "luồng xanh" và làn đường dành riêng cho xe buýt.
* Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thủy (nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Giao Thông Vận Tải):
Hà Nội và TP.HCM đã có hàng ngàn xe buýt và đang tiếp tục bổ sung các tuyến để tiếp cận tất cả các khu dân cư. Đây là "hướng đi đúng" nhưng nhìn vào đến nay vẫn chưa đảm bảo chất lượng, chưa đảm bảo các điều kiện để người dân "mặn mà" với xe buýt.
Để người dân thật sự lựa chọn xe buýt là phương tiện ưu tiên, cần đảm bảo 5 tiêu chí: xe buýt phải đi đúng giờ hơn, đi lại phải nhanh hơn, phương tiện chất lượng tốt hơn, thái độ phục vụ của nhân viên phải chu đáo, tận tình hơn và cuối cùng là giá cả phải hợp lý hơn. Thực tế thì các tuyến xe buýt nhanh ở Hà Nội chưa hiệu quả vì thực tế cũng không nhanh hơn bình thường là bao.
Ở một số nước, xe buýt chỉ sai số thời gian trong khoảng ± 3 phút. Tại các trạm xe buýt gần như đều có đồng hồ báo giờ, mấy phút nữa thì xe buýt tới, để người dân biết, chờ đợi, từ đó sẽ ràng buộc người lái xe phải đến đúng giờ so với quy định, chỉ sai sót trong vòng 5 phút đổ lại.
* Ông Minh Khuê (phường Đức Nhuận, TP.HCM):
Tuần trước, tôi có cuộc hẹn ở đường Nguyễn Cửu Vân (quận Bình Thạnh cũ, thuộc TP.HCM) lúc 14h. Nếu tôi đi xe máy thì chừng 20 phút đến nơi nhưng lần này, tôi quyết định ngồi xe buýt. Sau khi nghiên cứu kỹ "đường đi nước bước" trên App GoMo (trước đây là Busmap), tôi chọn đón xe ở "trạm Tháp nước" (đường Hồ Văn Huê) tới đường Nguyễn Cửu Vân.
13h20 đón xe ở trạm Tháp nước. Một lúc sau, xe số 3 (Thạnh Xuân - Bến Thành) dừng tại trạm. Cảm giác đầu tiên của tôi là xe đến khá đúng giờ. Bước lên xe, sàn sạch sẽ, máy lạnh mát rượi. Xuống trạm công viên Lê Văn Tám lúc 13h40, tôi chờ xe số 10 (bến xe miền Tây - Đại học Quốc gia) để đi Nguyễn Cửu Vân. App báo xe số 10 khoảng 3 phút nhưng 10 phút cũng chưa thấy xe tới. Đến 13h50, tôi đành đặt xe ôm công nghệ để đi và tới điểm hẹn trễ 5 phút.
Tôi đã có ý định chuyển qua đi xe buýt. Tôi cũng đã tra cứu đường để đưa con đi học ở trung tâm thành phố, đi Nhà thiếu nhi thành phố bằng xe buýt. Và "mong ước" đầu tiên của tôi là xe buýt phải đúng giờ.