Theo Đài CNA ngày 7-4, trả lời câu hỏi của nghị sĩ Fadli Fawzi về khả năng Singapore làm việc với Iran hoặc trả phí để tàu thuyền được đi qua eo biển Hormuz, Ngoại trưởng Vivian Balakrishnan nhấn mạnh rằng quyền quá cảnh qua các tuyến đường biển quốc tế là “một quyền chứ không phải đặc quyền”.
“Đó là quyền quá cảnh”, ông nói. “Đây không phải là đặc quyền do quốc gia ven biển ban phát, không phải là thứ phải cầu xin, và cũng không phải là khoản phí phải trả”.
Theo ông, việc chấp nhận đàm phán hay trả phí sẽ vô tình hợp thức hóa quan điểm rằng quyền này có thể bị kiểm soát hoặc mua bán.
Ngoại trưởng Singapore khẳng định nguyên tắc tự do hàng hải đã được quy định rõ trong Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) – công ước quốc tế mà Singapore là thành viên.
Theo đó, các eo biển như Hormuz, Malacca hay Singapore đều là tuyến đường phục vụ hàng hải quốc tế, và mọi quốc gia đều có quyền đi lại mà không cần xin phép hay trả phí. Ông Balakrishnan cũng lưu ý rằng nguyên tắc này có tính phổ quát, áp dụng cả với những quốc gia chưa phê chuẩn UNCLOS.
Tuyên bố của Singapore được đưa ra trong bối cảnh Iran trước đó cho biết đã cho phép tàu của một số quốc gia châu Á đi qua eo biển Hormuz, sau khi lưu lượng giao thông tại đây bị hạn chế nghiêm trọng kể từ khi xung đột với Mỹ và Israel bùng phát vào cuối tháng 2.
Danh sách các nước được phép gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Nhật Bản, Thái Lan và Malaysia.
Dù vậy, Singapore khẳng định lập trường của mình không xuất phát từ yếu tố địa chính trị, mà dựa trên nguyên tắc pháp lý.
Ông Balakrishnan cảnh báo rằng nếu chấp nhận ngoại lệ tại Hormuz, điều này có thể tạo tiền lệ nguy hiểm đối với các điểm nghẽn hàng hải khác, đặc biệt là eo biển Malacca và eo biển Singapore.
“Luật pháp quốc tế và UNCLOS chính là ‘Hiến pháp của đại dương'”, ông nói, nhấn mạnh rằng tự do hàng hải là yếu tố sống còn đối với một quốc gia phụ thuộc mạnh vào thương mại như Singapore.
Vị ngoại trưởng cũng tiết lộ đã liên hệ với phía Iran trước khi xung đột hiện tại nổ ra và có thể tiếp tục trao đổi, song khẳng định rõ rằng Singapore sẽ không tham gia bất kỳ cuộc đàm phán nào liên quan đến việc “mua” quyền đi lại hay thương lượng phí quá cảnh.
Ông Balakrishnan cảnh báo rằng môi trường quốc tế đang trở nên ngày càng bất ổn, và không quốc gia nào có thể đứng ngoài những hệ lụy của xung đột.
“Ngay cả khi chúng ta là một ‘ốc đảo’ an toàn và thịnh vượng, thì nếu khu vực xung quanh chìm trong chiến tranh, không nơi nào thực sự có thể đứng vững”, ông nói.
Cụ thể, trong bài viết đăng trên chuyên san Scientia Sinica Informationis, ông Duan Baoyan, kiến trúc sư chủ chốt của dự án năng lượng mặt trời vũ trụ "Zhuri", cho hay hệ thống năng lượng trên quỹ đạo thế hệ mới không chỉ phục vụ mục đích truyền tải điện, mà còn có thể hỗ trợ các chức năng như liên lạc, định vị, trinh sát, tác chiến điện tử và điều khiển từ xa. Công nghệ này sử dụng các chùm vi sóng cực hẹp, có thể điều khiển chính xác để truyền năng lượng từ không gian xuống trái đất. Về nguyên tắc, khả năng này cũng có thể được ứng dụng để gây nhiễu mục tiêu hoặc bảo mật thông tin liên lạc quân sự.
Khác với các tấm pin mặt trời trên mặt đất, vốn bị hạn chế bởi thời tiết và chu kỳ ngày đêm, hệ thống đặt trên quỹ đạo có thể thu năng lượng gần như liên tục. Điện năng được chuyển đổi thành vi sóng và truyền xuống các trạm thu trên trái đất, tạo ra nguồn năng lượng ổn định quy mô lớn. Tuy nhiên, chính đặc tính này cũng làm dấy lên lo ngại về khả năng bị khai thác cho mục đích quân sự, đặc biệt trong việc hỗ trợ các cơ sở ở khu vực xa xôi hoặc nhạy cảm, theo South China Morning Post.
Song song với không gian, Trung Quốc cũng đẩy mạnh phát triển năng lực dưới biển. Nước này đã công bố các mẫu tàu ngầm không người lái cỡ siêu lớn (XXLUUV), trong đó có những phương tiện dài tới hơn 40 m - vượt xa các thiết kế hiện tại của Mỹ. Sự xuất hiện của dòng phương tiện này mở ra một lớp năng lực mới trong trinh sát, giám sát và phòng thủ ven biển, theo Sri Lanka Guardian.
Các chuyên gia Trung Quốc cho biết các hệ thống này chủ yếu phục vụ mục tiêu phòng thủ khu vực. Tuy nhiên, quy mô và khả năng của chúng vẫn khiến giới phân tích quốc phòng Mỹ phải đánh giá lại các chiến lược răn đe và khả năng sẵn sàng của hải quân Mỹ.
Việc kết hợp giữa công nghệ không gian và phương tiện không người lái dưới nước cho thấy cách tiếp cận tích hợp của Trung Quốc trong chiến tranh thế hệ mới. Các công nghệ lưỡng dụng này giúp Bắc Kinh vừa tăng cường năng lực quân sự, vừa duy trì "vùng xám" giữa mục tiêu dân sự và quân sự, qua đó tạo lợi thế chiến lược và tránh việc quy trách nhiệm.
Giới quan sát nhận định sự hội tụ giữa năng lượng không gian, hệ thống không người lái và tác chiến điện tử đang định hình một mô hình răn đe bất đối xứng mới, cho phép mở rộng phạm vi ảnh hưởng mà không cần tham gia vào các cuộc xung đột quy mô lớn. Theo tờ South China Morning Post, những phát triển trên có thể là yếu tố làm thay đổi cán cân sức mạnh tại các khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương trong thời gian tới.
"Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) đã tấn công một chỉ huy cấp cao thuộc Bộ tư lệnh Trung tâm Khatam al-Anbiya của Iran. Một giáo đường Do Thái gần đó bị hư hại trong vụ tập kích", một phát ngôn viên IDF ngày 7/4 cho biết. "Chúng tôi lấy làm tiếc về thiệt hại ngoài dự kiến với giáo đường này".
IDF cho biết đang xem xét hậu quả của vụ tấn công, đồng thời khẳng định đã thực hiện các biện pháp giảm thiểu nguy cơ gây hại cho dân thường, trong đó có dùng các loại đạn chính xác và giám sát trên không.
Bộ tư lệnh Trung tâm Khatam al-Anbiya là cơ quan phụ trách hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang Iran.
Trước đó, tờ Shargh và hãng thông tấn Mehr của Iran đưa tin giáo đường Do Thái Rafi-Nia ở trung tâm Tehran đã bị phá hủy hoàn toàn. Cơ sở này được đánh giá là một trong những nơi quan trọng nhất để người Do Thái tại Iran tụ họp và hành lễ.
Hãng thông tấn IRNA nói rằng tiêm kích Israel đã nhắm mục tiêu vào giáo đường Do Thái và một tòa nhà liền kề.
Đạo Hồi là quốc giáo tại Iran, còn Bái hỏa giáo, Do Thái giáo cùng Kitô giáo là các tôn giáo thiểu số và có đại diện trong quốc hội nước này. Iran là quốc gia có số dân Do Thái nhiều thứ hai tại Trung Đông, sau Israel, với cộng đồng ước tính khoảng 8.000-15.000 người.
Theo một số nguồn tin, tại Iran có khoảng 25 giáo đường Do Thái, một số nhà hàng phục vụ các món ăn kosher, một viện dưỡng lão, một nghĩa trang và một thư viện Do Thái.
Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Hà Nội. Trước Việt Nam, Qatar là nước đầu tiên phê chuẩn.
Theo Bộ Ngoại giao, việc nhanh chóng phê chuẩn Công ước thể hiện cam kết mạnh mẽ và nhất quán của Việt Nam trong việc đề cao luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hợp Quốc và chủ nghĩa đa phương. Với tư cách thành viên chính thức, Việt Nam có thể đóng góp thực chất hơn vào tiến trình xây dựng và phát triển khuôn khổ pháp lý quốc tế trên không gian mạng.
Công ước Hà Nội là cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng để Việt Nam tăng cường hiệu quả phòng ngừa, phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm mạng, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Đây cũng là động lực quan trọng cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước, bảo đảm sự tương thích với các tiêu chuẩn và nghĩa vụ quốc tế, đồng thời nâng cao năng lực thể chế, kỹ thuật và nguồn nhân lực trong phòng, chống tội phạm mạng.
Việc một công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc lần đầu được đặt tên theo một địa danh của Việt Nam là dấu mốc lịch sử trong tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước, cho thấy năng lực và vị thế của Việt Nam trong giải quyết các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế.
Công ước Hà Nội được mở ký lần đầu tiên tại Hà Nội vào tháng 10/2025 và đến nay đã có 75 quốc gia ký kết. Công ước sẽ có hiệu lực sau khi có 40 nước trở thành thành viên.
Công ước gồm 9 Chương, 68 điều khoản, thiết lập một khuôn khổ pháp lý quốc tế toàn diện về hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm mạng.
Công ước có nhiều nội dung quan trọng như: xác định các hành vi được coi là tội phạm mạng, từ truy cập bất hợp pháp, can thiệp hệ thống đến lạm dụng trẻ em trực tuyến, rửa tiền có được từ các hoạt động phạm tội; xác định thẩm quyền và các biện pháp điều tra, cho phép các nước có thể thu thập chứng cứ và truy tố hiệu quả các vụ án liên quan đến tội phạm mạng; các biện pháp thủ tục và thực thi pháp luật; hợp tác quốc tế trong điều tra, truy tố các đối tượng phạm tội mạng; các biện pháp phòng ngừa, trong đó nhấn mạnh việc xây dựng năng lực và nâng cao nhận thức về an ninh mạng; hỗ trợ kỹ thuật và trao đổi thông tin.