Hiệu trưởng các trường THPT nhìn nhận việc lựa chọn môn thi tốt nghiệp của học sinh (HS) TP.HCM luôn ngược dòng với các địa phương khác, xuất phát từ đặc thù là đô thị lớn và HS có nền tảng, điều kiện học tập ngoại ngữ từ sớm.
Ông Tô Lâm Viễn Khoa, Hiệu phó Trường THPT Gia Định (P.Thạnh Mỹ Tây, TP.HCM), thông tin: Theo số liệu thăm dò 858 HS lớp 12 chọn môn thi tốt nghiệp THPT năm 2026, có 666 HS chọn môn tiếng Anh, tiếp đến là môn vật lý với 507 HS, hóa học 262, sinh học 122, lịch sử 62, giáo dục kinh tế và pháp luật 58, tin học 22 và địa lý là 15.
Nhận xét về tình hình HS chọn môn thi tốt nghiệp, ông Khoa cho hay tiếng Anh và vật lý vẫn là 2 môn có tỷ lệ HS chọn nhiều nhất, trên 70%. Số HS chọn môn hóa có giảm đi đáng kể, các môn còn lại ổn định. Chỉ có môn địa lý sụt giảm mạnh do có ít sự lựa chọn khi xét tuyển ĐH.
Về nhóm môn lựa chọn, Hiệu phó Trường THPT Gia Định cho hay từ 13 nhóm của năm 2025 tăng lên 15. Trong đó, tổ hợp có môn tiếng Anh – vật lý vẫn là nhóm được chọn áp đảo với hơn 40% số lượng HS, cho thấy ưu thế của tổ hợp A01 (toán – lý – tiếng Anh).
Nhóm môn vật lý – hóa học năm nay giảm mạnh do nhiều ngành ở ĐH đã bỏ xét tuyển tổ hợp A00 (toán – lý – hóa). Các nhóm môn lịch sử – địa lý, lịch sử – giáo dục kinh tế và pháp luật có ít HS chọn. Hầu hết HS chọn 2 nhóm môn này sẽ kết hợp thêm môn tiếng Anh để tăng khả năng xét tuyển vào ĐH.
Tương tự tại Trường THPT Bùi Thị Xuân (P.Bến Thành), có 506/708 HS lớp 12 chọn môn tiếng Anh, 489 HS chọn vật lý, tiếp theo là hóa học và sinh học với lần lượt là 228 và 136 HS.
Về tổ hợp môn, nhóm môn tiếng Anh – vật lý có 416 HS chọn, sau đó là nhóm hóa – sinh có 127 HS, vật lý – hóa học có 70, tiếng Anh – hóa học có 30… Còn nhóm môn lịch sử – địa lý, hóa học – lịch sử, vật lý – lịch sử, vật lý – tin học, vật lý – giáo dục kinh tế và pháp luật, mỗi nhóm có 1 HS chọn. Các tổ hợp lịch sử – công nghệ, lịch sử – giáo dục kinh tế và pháp luật, tin học – địa lý, địa lý – công nghệ nông nghiệp… không có HS đăng ký.
Tại Trường THPT Tân Phong (P.Tân Hưng), theo thống kê có 383/675 HS lớp 12 chọn tiếng Anh, tiếp theo đó là lần lượt các môn vật lý 256 em, địa lý 242 em, giáo dục kinh tế và pháp luật 157 em…
Ông Nguyễn Anh Dũng, Hiệu trưởng Trường THPT Hùng Vương (P.Chợ Lớn), cho biết có 693 trong khoảng 1.000 HS lớp 12 chọn môn thi tiếng Anh, 504 chọn thi môn vật lý, 320 chọn môn hóa học, 149 chọn địa lý, 118 chọn thi môn sinh học, 92 chọn thi môn lịch sử. Ông Dũng cho hay số lượng HS lựa chọn nhóm môn khoa học tự nhiên áp đảo so với khoa học xã hội.
Theo hiệu trưởng Trường THPT Hùng Vương, tổ hợp toán – tiếng Anh – vật lý có 348 HS lựa chọn; toán – vật lý – hóa học có 140 HS lựa chọn.
Còn với Trường THPT Bình Tân (P.Bình Tân), 402/677 HS lớp 12 chọn môn vật lý, 390 HS chọn môn tiếng Anh, môn hóa học và môn lịch sử cùng có 167 HS, giáo dục kinh tế và pháp luật có 98 HS chọn…
Bà Nguyễn Thị Kim Huệ, Hiệu trưởng Trường THPT Bình Tân, cho hay vật lý, tiếng Anh cũng là 2 môn thi HS lớp 12 lựa chọn nhiều nhất.
Ở Trường THPT Nguyễn Tất Thành (P.Bình Phú), có 576/782 HS lớp 12 chọn thi tiếng Anh, 436 HS chọn môn vật lý, 190 HS chọn môn hóa học, 100 HS chọn môn địa lý, 69 HS chọn môn sinh học…
Đồng thời với việc rà soát, nắm bắt tình hình HS đăng ký các môn thi, tổ hợp xét tuyển ĐH, các trường THPT hiện đang triển khai rất nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ HS ôn thi trong giai đoạn quan trọng này.
Tại Trường THPT Ngô Quyền (P.Phú Mỹ), nhà trường tổ chức ôn tập cho HS giai đoạn nước rút sau khi hoàn tất củng cố, ôn luyện kiến thức 2 môn bắt buộc toán, ngữ văn. Từ nay đến ngày 29.5, HS chọn ôn tập 3 môn tổ hợp để xét tuyển ĐH, mỗi môn học 2 tiết/tuần.
Ông Nguyễn Hữu Trí, Hiệu trưởng Trường THPT Ngô Quyền, thông tin: Việc ôn tập thi tốt nghiệp THPT cho HS của trường hoàn toàn miễn phí, tổ chức ôn đúng định hướng và bám sát các chỉ đạo về mặt chuyên môn của Sở GD-ĐT TP.HCM cũng như các quy định của Thông tư 29 quy định về việc dạy thêm học thêm.
Tại Trường THPT Hùng Vương, giai đoạn cao điểm của việc ôn tập thi cho HS lớp 12 sẽ kéo dài trong tháng 4 đến hết tháng 5. HS sẽ được ôn tập môn toán, ngữ văn, tiếng Anh và môn nằm trong bài thi tự chọn mà HS đã đăng ký thi tốt nghiệp THPT, xét tuyển vào ĐH với trung bình mỗi môn 2 tiết/tuần.
“Đồng thời, trường còn tổ chức thêm các chuyên đề học tập bổ trợ, nhằm củng cố và nâng cao kiến thức cho HS đăng ký tham gia học tập chuyên đề, tổ chức thêm các lớp phụ đạo hoàn toàn miễn phí cho HS yếu để giúp các em củng cố và nâng cao kiến thức phục vụ cho kỳ thi, đáp ứng mục tiêu xét tuyển. Nhà trường tổ chức các lớp ôn thi căn cứ theo danh sách giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm các lớp 12 đề nghị, dựa trên kết quả học tập, điểm số của HS trong các đợt kiểm tra”, ông Nguyễn Anh Dũng, Hiệu trưởng Trường THPT Hùng Vương, cho biết.
Bà Nguyễn Thị Kim Huệ thông tin Trường THPT Bình Tân đã xây dựng kế hoạch tổ chức ôn tập cho HS lớp 12 chia thành 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 bố trí tiết ôn tập trong buổi học chính khóa cho đến khi kết thúc năm học. Song song với việc thực hiện số tiết theo quy định chương trình hiện hành, nhà trường bố trí thêm 4 tiết ôn thi (1 tiết toán, 1 tiết ngữ văn, 1 tiết môn lựa chọn 1 và 1 tiết môn lựa chọn 2). Sau khi kết thúc năm học, cuối tháng 5, nhà trường sẽ tiến hành giai đoạn 2 dự kiến tập trung ôn tập thêm 2 tuần cho HS trước kỳ thi tốt nghiệp THPT. Trong đó, HS sẽ học 6 tiết/tuần với ngữ văn 2 tiết, toán 2 tiết, 1 tiết môn lựa chọn 1 và 1 tiết môn lựa chọn 2. Việc tổ chức cho HS ôn thi tốt nghiệp THPT sẽ được thực hiện từ nguồn ngân sách.
Mở đầu ngày hội tư vấn tuyển sinh vào lớp 10, cô Phạm Thị Bé Hiền, Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, TP.HCM, đã giới thiệu sơ nét về chương trình đào tạo của nhà trường.
Theo đó, Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong tổ chức cho 100% học sinh học 2 buổi/ngày, có bán trú. Nhà trường tổ chức cho học sinh chọn từng môn học lựa chọn (là các lớp học "chạy") theo đúng tinh thần của chương trình giáo dục phổ thông 2018, thay vì tổ chức cho học sinh lựa chọn tổ hợp từ 2-4 môn học như nhiều trường khác.
Đặc biệt, những năm gần đây, công tác đào tạo - bồi dưỡng học sinh giỏi của nhà trường đã thu được những "quả ngọt". Như năm học 2025-2026, Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong có 153 học sinh đoạt giải học sinh giỏi cấp quốc gia, 453 học sinh đoạt giải học sinh giỏi cấp thành phố. Trong đó có 2 học sinh đang chuẩn bị tham dự kỳ thi Olympic châu Á - Thái Bình Dương môn toán và tin học.
Năm nay, Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong cũng có 1 đề tài nghiên cứu khoa học (của 2 học sinh Nguyễn Tấn Đức và Hà Nhật Bảo, lớp 12 chuyên tin) đoạt giải nhất hội thi khoa học kỹ thuật cấp quốc gia và sắp tới sẽ đi thi hội thi khoa học kỹ thuật quốc tế.
Theo ghi nhận, ngày hội tư vấn tuyển sinh vào lớp 10 ở Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong không chỉ có phụ huynh, học sinh lớp 9 ở TP.HCM mà còn có khá nhiều phụ huynh, học sinh ở các tỉnh, thành khác tham gia.
Chị Nguyễn Thị Hồng, phụ huynh ở Cà Mau, cho biết: "Tôi và con trai bắt xe lên TP.HCM từ tối hôm qua để hôm nay kịp tham dự chương trình. Con tôi rất thích Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong. Hôm nay đi thực tế mắt thấy tai nghe cháu lại càng quyết tâm thi vào lớp 10 trường này. Tôi đi tham quan thấy trường rộng rãi, các thầy cô giáo và học sinh thì rất thân thiện và cởi mở nên cũng mong mỏi con mình sẽ đạt được ước mơ".
Được biết, Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong sẽ tuyển sinh lớp 10 trên cả nước. Thí sinh sẽ thi 4 môn: văn, toán, tiếng Anh và môn chuyên trong ngày 1 và 2-6-2026.
Một số hình ảnh của ngày hội tư vấn tuyển sinh vào lớp 10 do Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, TP.HCM tổ chức:
Điểm đáng chú ý, thông tư 26 - quy định chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học áp dụng đối với toàn bộ đội ngũ giảng viên đại học, bao gồm: giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp trong các cơ sở giáo dục đại học công lập và ngoài công lập.
Trước đó, quy định cũ chỉ áp dụng đối với viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập.
Thông tư 26 quy định chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học gồm 3 nhóm tiêu chuẩn cơ bản: tiêu chuẩn về đạo đức; tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng; tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ.
Trong đó, tiêu chuẩn về đạo đức nhấn mạnh giảng viên đại học phải giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự nhà giáo. Đối xử công bằng, đúng mực với người học, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người học, đồng nghiệp.
Đặc biệt, giảng viên đại học phải tuân thủ các quy định về đạo đức học thuật và bảo đảm liêm chính khoa học, thực hiện trung thực, minh bạch trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học, công bố kết quả nghiên cứu và các hoạt động chuyên môn khác.
Giảng viên đại học cần đáp ứng các tiêu chí, gồm: có bằng thạc sĩ trở lên, phù hợp với vị trí việc làm, ngành hoặc chuyên ngành giảng dạy; có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học; thực hiện được các hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; ứng dụng được công nghệ thông tin và sử dụng được ngoại ngữ...
Giảng viên đại học chính ngoài yêu cầu bằng thạc sĩ còn phải chủ trì ít nhất 1 hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo cấp cơ sở hoặc cấp cao hơn đã nghiệm thu với kết quả đạt yêu cầu; chủ trì hoặc tham gia biên soạn ít nhất 1 sách; có ít nhất 3 bài báo khoa học được công bố trên tạp chí quốc tế có mã số ISSN; giữ chức danh giảng viên đại học từ 4-6 năm tùy theo bằng cấp...
Giảng viên đại học cao cấp phải có bằng tiến sĩ, chủ trì ít nhất 2 đề tài nghiên cứu cấp cơ sở hoặc 1 đề tài cấp cao hơn; hướng dẫn ít nhất 2 học viên thạc sĩ hoặc 1 nghiên cứu sinh tiến sĩ; biên soạn sách chuyên môn có mã số ISBN; có ít nhất 6 bài báo khoa học quốc tế (ISSN); giữ chức danh giảng viên chính ít nhất 4 năm...
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, các chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp được cấp trước ngày 31-12-2026 được công nhận tương đương với chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp theo quy định mới.
Giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học được tuyển dụng, tiếp nhận hoặc thay đổi vị trí việc làm giảng viên đại học trước ngày 9-4-2026 thì không yêu cầu đáp ứng tiêu chuẩn có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học.
Theo danh sách cập nhật đến hết tháng 3 của Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, số này tăng hai so với trước, gồm trường Đại học Mở TP HCM và Quốc tế Hồng Bàng.
Chứng chỉ tiếng Anh theo khung năng lực 6 bậc dùng cho Việt Nam (VSTEP) hiện được dùng trong tuyển dụng công chức, viên chức, tuyển sinh sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ). Ở bậc đại học, đây là điều kiện để sinh viên được công nhận tốt nghiệp, tối thiểu bậc 3/6 trở lên (tương đương bậc B1 theo khung tham chiếu chung châu Âu (CEFR). Một số trường cũng chấp nhận chứng chỉ này trong tuyển sinh đầu vào.
Để được tổ chức thi, các trường phải có bộ phận độc lập, chuyên thực hiện chức năng đánh giá năng lực ngoại ngữ; có đội ngũ nhân sự quản lý, chấm thi, ra đề, phân tích dữ liệu thi và kỹ thuật viên; đủ điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, phần mềm tổ chức thi trên máy tính...
Danh sách 38 trường đại học được tổ chức thi và cấp chứng chỉ tiếng Anh VSTEP năm 2026 như sau:
TT
Tên đơn vị
1
Trường Đại học Sư phạm TP HCM
2
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế
3
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội
4
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng
5
Đại học Thái Nguyên
6
Trường Đại học Cần Thơ
7
Trường Đại học Hà Nội
8
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
9
Trường Đại học Vinh
10
Trường Đại học Sài Gòn
11
Trường Đại học Ngân hàng TP HCM
12
Trường Đại học Trà Vinh
13
Trường Đại học Văn Lang
14
Trường Đại học Quy Nhơn
15
Trường Đại học Tây Nguyên
16
Học viện An ninh Nhân dân
17
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
18
Trường Đại học Công Thương TP HCM (HUIT)
19
Trường Đại học Thương mại
20
Học viện Khoa học Quân sự
21
Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP HCM
22
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP HCM
23
Học viện Cảnh sát Nhân dân
24
Đại học Bách Khoa Hà Nội
25
Trường Đại học Nam Cần Thơ
26
Trường Đại học Ngoại thương
27
Trường Đại học Công nghiệp TP HCM
28
Trường Đại học Kinh tế quốc dân
29
Trường Đại học Kinh tế TP HCM
30
Trường Đại học Lạc Hồng
31
Trường Đại học Đồng Tháp
32
Đại học Duy Tân
33
Trường Đại học Phenikaa
34
Học Viện Ngân hàng
35
Trường Đại học Tài chính - Marketing
36
Trường Đại học Thành Đông
37
Trường Đại học Mở TP HCM
38
Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng
Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam được ban hành năm 2014, trên cơ sở khung tham chiếu chung châu Âu (CEFR) và một số khung trình độ tiếng Anh ở các nước, kết hợp thực tế tại Việt Nam.
Khung này được chia làm 3 cấp (sơ cấp, trung cấp, cao cấp) và 6 bậc (từ 1 đến 6 tương thích với các bậc từ A1 đến C2 trong CEFR):
Bậc 1 (sơ cấp) tương thích với bậc A1 trong CEFR.
Bậc 2 (sơ cấp) tương thích với bậc A2 trong CEFR.
Bậc 3 (trung cấp) tương thích với bậc B1 trong CEFR.
Bậc 4 (trung cấp) tương thích với bậc B2 trong CEFR.
Bậc 5 (cao cấp) tương thích với bậc C1 trong CEFR.
Bậc 6 (cao cấp) tương thích với bậc C2 trong CEFR.