Mục Lục
ToggleKhánh Linh
Tin Gốc: https://vnexpress.net/nuoc-nao-co-den-giao-thong-dau-tien-tren-the-gioi-5061065.html

Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành thông tư quy định tiêu chuẩn người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) nhằm chuẩn hóa đội ngũ lãnh đạo và nâng cao chất lượng quản trị tại các cơ sở giáo dục đại học.
Theo Thông tư 17 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (có hiệu lực từ ngày 27-3), tiêu chuẩn chung đối với hiệu trưởng, phó hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học là người có phẩm chất đạo đức tốt; có đủ sức khỏe để thường xuyên, trực tiếp quản lý, điều hành công việc; có tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược và có năng lực xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược phát triển cơ sở giáo dục đại học.
Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng cơ sở giáo dục công lập phải đáp ứng các yêu cầu của vị trí việc làm và các quy định khác của Đảng, pháp luật của Nhà nước về viên chức quản lý.
Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn chung nêu trên, hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học cần đủ tiêu chuẩn cụ thể:
Có trình độ tiến sĩ và có uy tín trong lĩnh vực chuyên môn của cơ sở giáo dục đại học;
Có ít nhất 5 năm kinh nghiệm giảng dạy, nghiên cứu phù hợp với trình độ đào tạo của cơ sở giáo dục;
Có ít nhất 2 năm kinh nghiệm quản lý cơ sở giáo dục đại học từ cấp trưởng khoa, phòng, ban hoặc tương đương trở lên;
Có năng lực lãnh đạo, quản trị và phát triển cơ sở giáo dục đại học; có khả năng hợp tác phát triển, huy động nguồn lực cho cơ sở giáo dục đại học.
Thực tế hiện nay, tại nhiều trường đại học trên cả nước, thậm chí ở cả những trường thuộc nhóm tốp đầu, vẫn có phó hiệu trưởng chỉ có trình độ thạc sĩ. Ở các trường đại học tư thục có đến 2-3 phó hiệu trưởng trình độ thạc sĩ.
Các thạc sĩ đang giữ vị trí phó hiệu trưởng ở trường đại học không phụ trách hoạt động đào tạo, khoa học - công nghệ mà chỉ phụ trách, công tác đoàn thể, công tác sinh viên…
Đáng chú ý, theo quy định mới nhất tại Thông tư 17, trình độ thạc sĩ không còn đủ điều kiện để được bổ nhiệm làm phó hiệu trưởng tại phần lớn các trường đại học.
Ngoài việc phải đáp ứng các tiêu chuẩn chung, vị trí phó hiệu trưởng trường đại học bắt buộc phải có trình độ tiến sĩ trong lĩnh vực chuyên môn phù hợp với yêu cầu vị trí công tác.
Trường hợp ngoại lệ đối với các trường đào tạo ngành đặc thù, chỉ những trường có quy mô đào tạo các ngành thuộc lĩnh vực nghệ thuật, nhóm ngành ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài, nhóm ngành thể dục thể thao chiếm ít nhất 70% tổng quy mô đào tạo toàn trường, thì phó hiệu trưởng mới có thể giữ trình độ từ thạc sĩ trở lên trong lĩnh vực chuyên môn phù hợp với vị trí công tác.
Ngoài bằng cấp, nhân sự phó hiệu trưởng trường đại học phải có ít nhất 2 năm kinh nghiệm quản lý cơ sở giáo dục đại học từ cấp phó trưởng khoa, phòng, ban hoặc tương đương trở lên; có năng lực quản lý và phát triển các lĩnh vực cụ thể của cơ sở giáo dục đại học.
Tin Gốc: https://tuoitre.vn/thac-si-khong-con-duoc-lam-pho-hieu-truong-truong-dai-hoc-20260408103759912.htm

Theo dữ liệu của ngành giáo dục TP HCM, tất cả xã, phường trên địa bàn đều có ít nhất một trường tiểu học, nhưng ở bậc liên thông là THCS thì có sự chênh lệch đáng kể ở nhiều địa bàn.
Cụ thể, phường Tân Sơn (quận Tân Bình cũ) có 3 trường tiểu học với gần 4.100 học sinh, chưa kể gần 1.800 trẻ mầm non nhưng không có trường THCS nào, kể cả tư thục. Phường Phú Thuận (quận 7 cũ) rơi vào cảnh tương tự dù có 4 trường tiểu học với gần 5.000 học sinh và khoảng 3.200 trẻ mầm non.
Nếu chỉ xét nhóm công lập, TP HCM còn phường Tây Nam (Bình Dương cũ) cũng không có trường. Ngoài ra, nhiều xã, phường ghi nhận chênh lệch giữa tiểu học và THCS lên đến 5-7 trường:
Đơn vị
Trường tiểu học
Trường THCS
Xã Long Hải
14
7
Phường Bình Hưng Hòa
9
3
Xã Tân An Hội
8
3
Phường Hiệp Bình
8
3
Phường Thuận Giao
8
3
Ở chiều ngược lại, 5 nơi có số trường THCS nhiều hơn tiểu học là Tân Hòa, Cát Lái, Bình Phú, Bình Quới và Trừ Văn Thố.
Trả lời VnExpress ngày 9/4, ông Nguyễn Văn Phong, Phó giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, nhìn nhận tình trạng không có trường THCS hoặc chênh lệch lớn về số lượng trường giữa hai cấp học làm mất cân đối cung-cầu cục bộ. Điều này có thể dẫn đến nguy cơ quá tải ở các khu vực có tỷ lệ dân nhập cư cao, biến động dân số lớn.
Với những địa phương "trắng" trường THCS hoặc nhiều trường tiểu học nhưng chỉ có 1 trường THCS, Sở sẽ phối hợp với UBND xã, phường để điều phối, phân luồng học sinh.
"Học sinh chuyển cấp từ lớp 5 lên 6 sẽ được sắp xếp vào các trường ở khu vực lân cận, đảm bảo có chỗ học", Phó giám đốc Sở nói.
Năm nay thành phố dự kiến có hơn 197.500 trẻ vào lớp 1 và 185.700 em khối 6. Số này giảm lần lượt khoảng 6.100 và 2.200 em so với năm ngoái.
Việc phân bổ chỗ học căn cứ mạng lưới trường lớp tại địa phương và vùng giáp ranh, quy mô trẻ trong độ tuổi và khoảng cách thực tế. Thành phố ứng dụng hệ thống bản đồ số (GIS) để xác định quãng đường từ nhà học sinh đến trường, tạo điều kiện thuận lợi nhất để các em được học gần nhà.
Lệ Nguyễn
Tin Gốc: https://vnexpress.net/hai-phuong-o-tp-hcm-trang-truong-thcs-5060365.html
Giáo Dục
Xã đầu tiên miễn phí sách giáo khoa cho học sinh: Dự kiến mỗi cuốn dùng 7-10 năm

Ngày 10-4, UBND xã Hòa Vang (TP Đà Nẵng) công bố kết quả thực hiện chính sách cung cấp sách giáo khoa miễn phí cho toàn bộ học sinh từ lớp 1 đến lớp 12. Đây là địa phương đầu tiên trong cả nước triển khai chính sách này.
Ông Lê Phú Nguyện, Chủ tịch UBND xã Hòa Vang, cho biết ngay từ thời điểm thành lập theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp (1-7-2025), Hòa Vang đã xác định là địa bàn còn nhiều khó khăn, đời sống người dân chưa cao. Từ thực tế đó, xã chủ động xây dựng mô hình "tủ sách giáo khoa dùng chung", huy động nguồn lực xã hội hóa để cung cấp sách giáo khoa (SGK) miễn phí, giảm gánh nặng chi phí cho phụ huynh và chống lãng phí.
Giai đoạn đầu Hòa Vang huy động 551 triệu đồng, mua hơn 6.000 quyển SGK cho hơn 1.200 học sinh tại tám thôn vùng đồi núi xã Hòa Phú (cũ). Đối tượng được ưu tiên là học sinh diện chính sách, hộ nghèo, cận nghèo, hoàn cảnh khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số; đáp ứng khoảng 31% nhu cầu năm học 2025-2026.
Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị được ban hành, đặt mục tiêu cung cấp SGK miễn phí từ năm học 2029-2030. Cùng với đó quyết định 3588 của Bộ GD-ĐT quy định bộ SGK thống nhất toàn quốc - cũng chính là bộ "Kết nối tri thức" mà Hòa Vang đang triển khai - đã tạo cơ sở pháp lý để địa phương mở rộng mô hình.
Xã tiếp tục huy động thêm gần 1,5 tỉ đồng, mua 74.676 quyển SGK. Đến nay tổng số sách tại thư viện các trường đạt 91.060 quyển, đủ để miễn phí cho gần 7.000 học sinh từ tiểu học đến THCS, THPT tại sáu cơ sở giáo dục, bao gồm cả các đơn vị trực thuộc Sở GD-ĐT như Trường THPT Ông Ích Khiêm và Trung tâm Giáo dục thường xuyên số 3 - cơ sở 2. Với nguồn lực này, Hòa Vang dự kiến đáp ứng 100% nhu cầu SGK từ năm học 2026-2027.
Theo ông Nguyện, điểm cốt lõi trong cách làm là bảo đảm tính bao quát và thống nhất. Tất cả học sinh đang học tại các cơ sở giáo dục tại xã đều được mượn sách, không phân biệt thuộc quản lý của địa phương hay của ngành giáo dục.
Bài toán lớn nhất của mô hình không nằm ở khâu triển khai ban đầu mà ở khả năng duy trì lâu dài. Theo lãnh đạo xã Hòa Vang, nếu được quản lý và sử dụng tốt, mỗi cuốn SGK có thể sử dụng trong khoảng 7-10 năm. Như vậy mỗi năm chỉ cần chi một khoản kinh phí nhỏ, không đến 10%, để thay thế số sách hư hỏng, hao hụt.
"Đây là mức chi rất tiết kiệm. Nếu Nhà nước và địa phương không làm thì chi phí đó sẽ do từng gia đình gánh hằng năm, cộng lại là nguồn lực rất lớn của xã hội. Khi chính quyền đứng ra tổ chức không chỉ giúp người dân mà còn góp phần chống lãng phí", ông Nguyện nói.
Để có được nguồn sách ban đầu xã đã huy động sự chung tay của cộng đồng doanh nghiệp. Dù trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, doanh nghiệp chủ yếu là nhỏ và siêu nhỏ, nhưng vẫn sẵn sàng đồng hành khi nhận thấy ý nghĩa thiết thực và nhân văn của chính sách. Chỉ trong vài tháng địa phương đã huy động đủ nguồn lực để triển khai cho năm học.
Ông Nguyện thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn ban đầu khi triển khai, thời điểm đầu chưa có cơ sở pháp lý cụ thể trong khi điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương còn hạn chế nên việc vận động rất khó khăn, nguồn lực không dồi dào. Tuy nhiên, khi nghị quyết 71 được ban hành, địa phương có thêm cơ sở để đẩy nhanh tiến độ.
"Chúng tôi xác định đây là việc nên làm, có thể làm và cần làm sớm. Làm càng sớm thì người dân càng giảm chi phí, xã hội càng tiết kiệm nguồn lực", ông Nguyện nói.
Ông Trần Anh Tuấn, Phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng, đánh giá mô hình tại Hòa Vang là bước cụ thể hóa tinh thần nghị quyết 71, không chỉ trong lĩnh vực giáo dục mà còn ở khía cạnh an sinh xã hội.
Trong bối cảnh Đà Nẵng mở rộng địa bàn sau sáp nhập, bao gồm nhiều khu vực còn khó khăn về hạ tầng và kinh tế, mô hình này giúp giảm gánh nặng cho các gia đình, tạo điều kiện để học sinh yên tâm học tập.
"Trong thời gian ngắn xã đã triển khai hiệu quả. TP giao ngành giáo dục nghiên cứu, lấy đây làm mô hình điểm để nhân rộng toàn TP trong thời gian tới", ông Anh Tuấn nói.
Đồng thời ông cũng lưu ý để mô hình phát huy hiệu quả lâu dài cần phân công rõ trách nhiệm quản lý, mượn - trả - thu hồi sách; xây dựng quy chuẩn sử dụng; tăng cường tuyên truyền để phụ huynh, học sinh nhận thức đúng; đồng thời duy trì và mở rộng các nguồn lực hỗ trợ, thường xuyên theo dõi, đánh giá để điều chỉnh kịp thời.

