Hội thảo Toán học Hà Nội – Singapore diễn ra ngày 4 và 5/4, do khoa Toán của Đại học Quốc gia Singapore (NUS) và Viện nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM) tổ chức.
Song song chuỗi bài giảng đại chúng, GS Han Fei, Phó khoa Toán NUS, khuyến khích sinh viên Việt Nam ứng tuyển vào chương trình cao học toán của trường, đặc biệt là chương trình tiến sĩ.
Ông cho hay khoa có 120 nghiên cứu sinh tiến sĩ nhưng lượng học viên Việt còn ít, chỉ 3-5 người. GS Fei cho rằng con số này chưa tương xứng với quy mô dân số và tiềm năng về nguồn học viên.
“Chúng tôi rất thích sinh viên Việt Nam. Các bạn có nền tảng giáo dục cao, thông minh, chăm chỉ, thái độ tốt”, GS Fei nói, kỳ vọng số nghiên cứu sinh người Việt sẽ tăng lên.
Theo ông, họ sẽ được nâng cao kỹ năng nghiên cứu, mang kinh nghiệm và kiến thức trở về đóng góp cho Việt Nam. Ở chiều ngược lại, họ hỗ trợ hoạt động nghiên cứu và môi trường đa văn hóa ở NUS.
Ông Fei khuyến khích sinh viên Việt Nam ứng tuyển vào chương trình tiến sĩ Toán, ba chương trình thạc sĩ Toán, Tài chính định lượng và Khoa học dữ liệu và học máy.
Trong đó, chương trình thạc sĩ Toán là bước chuyển tiếp cho những sinh viên muốn học lên tiến sĩ và trở thành nhà nghiên cứu. Hai chương trình thạc sĩ còn lại định hướng giúp sinh viên đáp ứng nhu cầu của thị trường việc làm trong thời kỳ AI bùng nổ.
Về hướng giảng dạy và nghiên cứu, ngoài các lĩnh vực toán thuần túy, khoa Toán NUS tập trung phát triển ứng dụng vào Khoa học dữ liệu, Tin sinh học, Khoa học tính toán và phân tích số, Tối ưu hóa và Xử lý ảnh.
GS Đinh Tiến Cường, thành viên Hội đồng khoa học của VIASM, nhận định Singapore đang phát triển nhanh hơn sức tưởng tượng của nhiều người về khoa học công nghệ. So với khi ông bắt đầu làm việc tại đây 11 năm trước, ngày càng nhiều sinh viên quốc tế từ châu Âu hay Mỹ tới học, thay vì chỉ sinh viên ở châu Á.
Anh Trần Chiêu Minh, giáo sư bậc một tại khoa Toán NUS, đánh giá sinh viên Việt có cơ hội cạnh tranh ngang ngửa với những sinh viên giỏi tại NUS. Anh bày tỏ hy vọng có thêm nhiều hoạt động cộng tác của khoa tại Việt Nam.
Theo thông tin, nghiên cứu sinh tiến sĩ được trả toàn bộ học phí, nhận trợ cấp 4.000 SGD (khoảng 82 triệu đồng) mỗi tháng và 10.000 SGD chi phí đi lại tới các hội nghị, trường hè quốc tế,… Họ có thể nhận thêm 4.100-4.300 SGD nếu đạt học bổng của trường.
Sinh viên thạc sĩ cần tự trả học phí. Riêng nhóm tới từ ba trường đối tác của NUS tại Việt Nam, gồm Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP HCM và Đại học Bách khoa Hà Nội, có thể đăng ký học bổng NUS ASEAN Master’s để được miễn.
Năm nay, hạn cuối nộp hồ sơ cho kỳ tuyển sớm với chương trình thạc sĩ Toán tại NUS là 15/7. Với bậc tiến sĩ, ứng viên muốn bắt đầu kỳ học tháng 1 năm sau cần hoàn thành mọi giấy tờ trước 15/5. Sinh viên nộp đơn qua cổng tuyển sinh của trường.
Đại học Quốc gia Singapore hiện đứng thứ 8 thế giới theo xếp hạng năm 2026 của QS và thứ 17 theo THE. Trong đó, chất lượng đào tạo Toán trong top 8 toàn cầu, theo QS.
Nghị định quy định chi tiết một số điều của luật Nhà giáo mới đây đã đưa ra chính sách thu hút, trọng dụng đối với nhà giáo, trong đó đối tượng được hưởng chính sách thu hút, trọng dụng bao gồm nhiều nhóm giảng viên.
Cụ thể, thứ nhất là người có tài năng (tốt nghiệp thủ khoa ĐH trong nước hoặc loại giỏi ở nước ngoài; tốt nghiệp ĐH xuất sắc từng đạt giải 3 các kỳ thi học sinh giỏi tỉnh, giải khuyến khích kỳ thi quốc gia trở lên; chuyên gia, nhà khoa học trẻ tài năng..)
Thứ hai là giáo sư, phó giáo sư hoặc được công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh này. Thứ ba là người đạt thành tích cao cấp quốc gia, quốc tế trong các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, các ngành nghề truyền thống.
Thứ tư là nghệ nhân, nghệ sĩ, thầy thuốc có danh hiệu ưu tú, nhân dân; người có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia bậc 4/5 hoặc có chứng nhận kỹ năng nghề xuất sắc, đạt giải tại các kỳ thi này cấp khu vực, quốc tế.
Thứ năm là người đến làm việc tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Thứ sáu là giảng viên trong lĩnh vực trọng yếu, thiết yếu theo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Cuối cùng là giảng viên dạy các ngành, nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu; các ngành nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể thao, y tế, quốc phòng và an ninh.
Trong đó, giảng viên thuộc nhóm thứ năm được tuyển dụng theo hình thức tiếp nhận nhà giáo và không yêu cầu đáp ứng điều kiện về thời gian công tác; được hưởng chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định.
Các nhóm còn lại các ưu đãi được áp dụng thực hiện theo quy định tại Nghị định 179 của Chính phủ, như hưởng 100% lương trong thời gian tập sự, hưởng phụ cấp tăng thêm hàng tháng bằng 150% mức lương theo hệ số lương hiện hưởng trong thời hạn 5 năm kể từ ngày có quyết định tuyển dụng; được ưu tiên thuê nhà công vụ, ưu tiên cao nhất khi mua nhà ở xã hội... phụ cấp tăng thêm.
Trong đó, 119 trường THPT công lập không chuyên tuyển hơn 78.300 học sinh, trường chất lượng cao Phan Huy Chú - Đống Đa tuyển 400 em, 4 trường chuyên lấy hơn 2.700.
Tổng chỉ tiêu gần như tương đương năm ngoái, nhưng năm nay thủ đô có khoảng 147.000 học sinh tốt nghiệp THCS, tăng chừng 20.000 em. Vì thế, chỉ khoảng 55% có suất học lớp 10 công lập, thấp hơn gần 10%.
Con số này dự kiến tăng nhẹ khi một số trường dự kiến hoạt động từ năm tới chưa được giao chỉ tiêu, gồm THPT Hoàng Quán Chi (phường Yên Hòa), Vĩnh Hưng (phường Vĩnh Hưng), Việt Hùng (xã Đông Anh).
Chỉ tiêu lớp 10 của 119 trường THPT ở Hà Nội năm 2026 như sau:
TT
Trường
Chỉ tiêu 2026
Chỉ tiêu 2025
Tăng/giảm
1
THPT Phan Đình Phùng
720
720
0
2
THPT Phạm Hồng Thái
585
720
-135
3
THPT Nguyễn Trãi - Ba Đình
688
765
-77
4
THPT Tây Hồ
765
765
0
5
THPT Trần Phú
765
765
0
6
THPT Việt Đức
945
945
0
7
THPT Thăng Long
720
675
45
8
THPT Trần Nhân Tông
720
720
0
9
THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng
675
675
0
10
THPT Đống Đa
675
720
-45
11
THPT Hoàng Cầu
540
-
-
12
THPT Kim Liên
765
765
0
13
THPT Lê Quý Đôn - Đống Đa
675
720
-45
14
THPT Quang Trung - Đống Đa
675
675
0
15
THPT Nhân Chính
585
585
0
16
Trần Hưng Đạo - Thanh Xuân
675
765
-90
17
THPT Khương Đình
675
765
-90
18
THPT Khương Hạ
450
400
50
19
THPT Cầu Giấy
720
720
0
20
THPT Yên Hòa
765
765
0
21
THPT Hoàng Văn Thụ
765
765
0
22
THPT Trương Định
675
675
0
23
THPT Việt Nam - Ba Lan
720
765
-45
24
THPT Đỗ Mười
675
-
-
25
THPT Ngô Thì Nhậm
720
675
45
26
THPT Ngọc Hồi
675
675
0
27
THPT Đông Mỹ
675
765
-90
28
THPT Nguyễn Quốc Trinh
765
720
45
29
THPT Nguyễn Gia Thiều
720
675
45
30
THPT Lý Thường Kiệt
675
675
0
31
THPT Thạch Bàn
765
765
0
32
THPT Phúc Lợi
765
765
0
33
THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm
765
765
0
34
THPT Dương Xá
720
720
0
35
THPT Nguyễn Văn Cừ
765
720
45
36
THPT Yên Viên
720
720
0
37
THPT Đa Phúc
765
675
90
38
THPT Kim Anh
675
675
0
39
THPT Minh Phú
585
585
0
40
THPT Sóc Sơn
765
675
90
41
THPT Trung Giã
675
630
45
42
THPT Xuân Giang
630
630
0
43
THPT Bắc Thăng Long
720
675
45
44
THPT Cổ Loa
675
765
-90
45
THPT Đông Anh
675
720
-45
46
THPT Liên Hà
675
675
0
47
THPT Vân Nội
765
720
45
48
THPT Phúc Thịnh
675
-
-
49
THPT Mê Linh
540
630
-90
50
THPT Quang Minh
450
540
-90
51
THPT Tiền Phong
585
495
90
52
THPT Tiến Thịnh
540
495
45
53
THPT Tự Lập
540
540
0
54
THPT Yên Lãng
585
495
90
55
THPT Nguyễn Thị Minh Khai
675
765
-90
56
THPT Xuân Đỉnh
675
765
-90
57
THPT Thượng Cát
540
585
-45
58
THPT Đại Mỗ
720
720
0
59
THPT Trung Văn
585
520
65
60
THPT Xuân Phương
675
765
-90
61
THPT Mỹ Đình
765
765
0
62
THPT Hoài Đức A
630
720
-90
63
THPT Hoài Đức B
720
720
0
64
THPT Vạn Xuân - Hoài Đức
675
675
0
65
THT Hoài Đức C
585
540
45
66
THPT Đan Phượng
675
675
0
67
THPT Hồng Thái
630
585
45
68
THPT Tân Lập
675
630
45
69
THPT Thọ Xuân
540
540
0
70
THPT Ngọc Tảo
765
720
45
71
THPT Phúc Thọ
675
720
-45
72
THPT Vân Cốc
585
585
0
73
THPT Tùng Thiện
765
765
0
74
THPT Xuân Khanh
675
630
45
75
THPT Ba Vì
630
630
0
76
THPT Bất Bạt
450
450
0
77
Phổ thông Dân tộc nội trú
140
140
0
78
THPT Ngô Quyền - Ba Vì
675
675
0
79
THPT Quảng Oai
675
675
0
80
THPT Minh Quang
540
540
0
81
THPT Bắc Lương Sơn
540
495
45
82
Hai Bà Trưng - Thạch Thất
675
675
0
83
Phùng Khắc Khoan - Thạch Thất
675
540
135
84
THPT Thạch Thất
765
675
90
85
THPT Minh Hà
450
450
0
86
THPT Cao Bá Quát - Quốc Oai
585
585
0
87
THPT Minh Khai
675
675
0
88
THPT Quốc Oai
675
675
0
89
THPT Phan Huy Chú - Quốc Oai
720
720
0
90
THPT Lê Quý Đôn - Hà Đông
765
765
0
91
THPT Quang Trung - Hà Đông
765
720
45
92
THPT Trần Hưng Đạo - Hà Đông
720
720
0
93
THPT Lê Lợi
720
-
-
94
THPT Chúc Động
675
765
-90
95
THPT Chương Mỹ A
675
720
-45
96
THPT Chương Mỹ B
720
720
0
97
THPT Xuân Mai
675
765
-90
98
THPT Nguyễn Văn Trỗi
720
720
0
99
THPT Nguyễn Du - Thanh Oai
675
765
-90
100
THPT Thanh Oai A
720
720
0
101
THPT Thanh Oai B
720
720
0
102
THPT Thường Tín
675
675
0
103
THPT Nguyễn Trãi - Thường Tín
540
630
-90
104
THPT Lý Tử Tấn
585
585
0
105
THPT Tô Hiệu - Thường Tín
585
630
-45
106
THPT Vân Tảo
630
585
45
107
THPT Đồng Quan
585
585
0
108
THPT Phú Xuyên A
675
675
0
109
THPT Phú Xuyên B
675
630
45
110
THPT Tân Dân
495
495
0
111
THPT Hợp Thanh
585
495
90
112
THPT Mỹ Đức A
720
675
45
113
THPT Mỹ Đức B
585
585
0
114
THPT Mỹ Đức C
675
585
90
115
THPT Đại Cường
450
450
0
116
THPT Lưu Hoàng
585
495
90
117
THPT Trần Đăng Ninh
585
540
45
118
THPT Ứng Hòa A
585
585
0
119
THPT Ứng Hòa B
585
540
45
Trong 119 trường THPT, hơn 30 trường tăng chỉ tiêu, phổ biến 45-90 học sinh, hơn 20 trường giảm, còn đa số ổn định.
THPT Phùng Khắc Khoan - Thạch Thất tăng 135 học sinh, trong khi THPT Phạm Hồng Thái giảm tương đương. Đây là hai trường có biến động chỉ tiêu nhiều nhất.
Với hệ chuyên, cả 4 trường đều giữ ổn định số lớp và chỉ tiêu như năm ngoái, tổng 2.730. Cụ thể, trường chuyên Hà Nội - Amsterdam tuyển 840 học sinh, chuyên Chu Văn An 665, chuyên Nguyễn Huệ 700 và chuyên Sơn Tây 525.
Chi tiết chỉ tiêu lớp 10 chuyên ở Hà Nội năm 2026
Thí sinh đang trong giai đoạn tập dượt đăng ký thi lớp 10 trực tuyến, trước khi đăng ký chính thức vào 10-17/4. Năm nay, các em có thể nhìn thấy số lượng nguyện vọng 1, 2 và 3 đặt vào từng trường theo thời gian thực, từ đó tính được tỷ lệ chọi.
Kỳ thi diễn ra ngày 30-31/5, thí sinh đăng ký trường chuyên sẽ thi thêm môn chuyên vào ngày 1/6. Dự kiến từ ngày 19 đến 22/6, Sở sẽ công bố điểm thi, điểm chuẩn lớp 10.
Thứ nhất, sửa đổi các quy định liên quan đến thanh tra, kiểm tra trong kỳ thi nhằm bảo đảm phù hợp với việc chuyển bộ phận thanh tra giáo dục các cấp về Thanh tra Chính phủ và thanh tra tỉnh.
Thứ hai, điều chỉnh một số quy định, quy trình tổ chức thi để bảo đảm phù hợp và thuận tiện hơn cho các đơn vị trong bối cảnh sắp xếp lại đơn vị quản lý chính quyền địa phương 2 cấp và sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
Theo đó, hồ sơ đăng ký dự thi chỉ lưu tại trường phổ thông; tích hợp giấy báo dự thi và thẻ dự thi thành một loại là giấy báo dự thi do trường phổ thông nơi thí sinh (TS) nộp hồ sơ đăng ký dự thi cấp; đồng thời tích hợp giấy chứng nhận tốt nghiệp tạm thời và giấy chứng nhận kết quả thi thành giấy chứng nhận kết quả thi, do trường phổ thông nơi TS nộp hồ sơ đăng ký dự thi cấp.
Thứ ba, giảm thời gian thu nhận đơn phúc khảo để thông báo kết quả phúc khảo sớm hơn, đồng thời thuận tiện cho công tác tuyển sinh của các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp.
Thứ tư, điều chỉnh quy trình chấm phúc khảo nhằm tăng cường hiệu quả, chất lượng; theo đó quy định tất cả các bài thi có thay đổi điểm trong quá trình phúc khảo đều phải được đối thoại.
Thứ năm, điều chỉnh các diện ưu tiên để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và đồng nhất với các đối tượng ưu tiên trong công tác tuyển sinh, tạo thuận lợi cho việc rà soát của các đơn vị ngay từ khâu đăng ký dự thi.
Thứ sáu, tiếp tục tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tổ chức thi; trong đó tối ưu hóa việc truyền dữ liệu giữa các hội đồng thi và Bộ GD-ĐT thông qua hệ thống quản lý thi, giảm bớt các công việc thủ công (như gửi đĩa CD qua đường bưu điện), góp phần tăng tốc độ xử lý.
Mẫu phiếu đăng ký dự thi được điều chỉnh để bảo đảm phù hợp với quy định hiện tại.
Một số chứng chỉ ngoại ngữ mới được bổ sung như VEPT, J.TEST, TOPIK.