Hơn 7 giờ sáng, dọc bãi biển xã Hải Châu (Nghệ An) bè mảng tấp nập cập bờ. Từng tốp ngư dân xếp hàng trên bãi biển để kéo lưới. Lưới được các ngư dân thả cách bờ chừng 6 – 7 hải lý, vào lúc 4 – 5 giờ sáng bằng chiếc bè mảng kết từ tre nứa có gắn máy, sau đó kéo vào bờ.
“Hôm nay chúng tôi thu được hơn 1 tạ cá trích. Lượng cá này cũng ở mức trung bình, hôm nào trúng phải được hơn 2 tạ, nhưng có hôm chỉ được mấy yến”, ông Trần Văn Long, một ngư dân, cho biết.
Cá trích bị lưới gom lại, kéo tuột lên bờ, giãy đành đạch. Vợ ông Long lấy mấy cái rổ để xúc cá. Cá được gom lại thành nhiều rổ rồi bán cho các thương lái đang chờ sẵn. Giá cá trích không cố định mà dao động từ 15.000 – 25.000 đồng/kg, tùy theo ngày.
“Hôm trúng thì sau khi trừ tiền dầu cũng được mỗi người 1 triệu đồng, còn ngày bình thường ra biển cũng dăm bảy trăm ngàn, có ngày thì ít hơn”, một ngư dân nói.
Cá trích chỉ bằng hai ngón tay, có nhiều xương nhỏ, nhưng theo các nhà chuyên môn, loài cá này chứa nhiều đạm, nổi bật nhất là hàm lượng Omega 3 dồi dào giúp hỗ trợ tim mạch, giảm cholesterol và collagen tự nhiên hỗ trợ chống lão hóa da. Các trích khá rẻ, thịt bùi, thơm ngon nên từ lâu đã trở thành món ăn được nhiều người lựa chọn.
Mùa đánh bắt cá trích của ngư dân bắt đầu từ tháng giêng đến tháng 4 âm lịch hàng năm. Đây là thời điểm cá từ ngoài khơi kéo vào gần bờ. Ngư dân gọi đây là “lộc” của biển.
Lượng cá quá nhiều, không thể tiêu thụ hết ở các chợ để người dân mua về chế biến thành các món ăn như kho, gỏi, nướng… nên cá trích còn được thu mua để ủ, chế biến thành nước mắm hoặc chế biến thành thức ăn để nuôi tôm hùm, nuôi cá.
Ở Nghệ An, ngư dân từ lâu đã có sáng kiến nướng cá bằng than củi để giữ cho cá biển ngon thay cho ướp lạnh.
“Tôi đã làm nghề nướng cá này gần 50 năm. Cá nướng không phải dùng hóa chất, chỉ cần dùng nhiệt của than củi vẫn giữ được độ tươi ngon lâu dài cho cá”, bà Bùi Thị Châu (ngụ ở xã Hải Châu) nói.
Gây “sốt” mạng xã hội
Trên bãi cát dài dằng dặc, hàng trăm chiếc bè mảng đã được kéo lên bờ. Cá trích được ngư dân hốt lên từ lưới, cho vào các sọt rồi phân loại to, nhỏ. Cá to được khách mua để nướng ngay tại chỗ hoặc thương lái thu mua để đưa đến bán tại các chợ, cá nhỏ bán làm nước mắm hoặc thức ăn cho tôm hùm và các loài cá nuôi khác.
Khác với những năm trước, mùa cá trích năm nay, tuyến đường ven biển vừa mới hoàn thành chạy qua xã Hải Châu luôn nhộn nhịp xe cộ và người từ các nơi khác tìm đến để thưởng thức cá trích nướng.
Từ sáng sớm, khi những mẻ cá trích đầu tiên được kéo lên bờ, những người phụ nữ chuyên nướng cá đã nổi lửa, quạt than. Hàng chục chiếc bếp than dã chiến được lập dọc hai bên lối đi xuống bãi biển. Nhiều hàng quán cũng mọc lên để phục vụ những người phương xa tìm đến thưởng thức “lộc biển”.
“Phải nướng ngay khi cá còn tươi sống mới giữ được độ ngon của cá”, bà Châu chia sẻ, rồi nhanh tay nhóm lửa, quạt than. Khi than củi đã đỏ rực, bà Châu lấy đũa gắp từng con cá trích to bằng hai ngón tay bỏ lên cái vỉ nướng, tay kia phe phẩy cái quạt giấy để than liên tục đỏ.
Cá trích khá dẹt nên nướng nhanh chín, chỉ độ vài ba phút là chín tới. Mùi cá nướng bốc lên thơm phức cả một vùng.
“Nướng cũng phải biết cách cá mới thơm, ngon, không bị cháy hoặc chín không đều. Cá vừa độ chín thì thịt của nó giữ được độ ngọt, béo và mùi thơm đặc trưng. Cá trích có nhiều vảy và nhiều xương nhỏ nhưng thịt trắng, dày, nhiều chất dinh dưỡng nên nhiều người ưa chuộng”, bà Châu giải thích.
Bà Lưu Thị Tương cũng có nhiều năm gắn bó với nghề nướng cá biển này. “Trước đây, chúng tôi chỉ nướng ở nhà rồi mang đi chợ bán, gần tháng nay, cá trích được đưa lên mạng xã hội, nhiều người đã tìm đến đây để trải nghiệm, mua và ăn tại chỗ nên bán rất chạy”, bà Tương nói.
Mỗi ngày, một phụ nữ ở đây nướng 3 – 4 yến cá, có người nướng bán cả tạ cá. Mỗi kg cá trích sau khi nướng được bán với giá 60.000 đồng. Cá có thể ăn tại chỗ hoặc mua về, chỉ cần bỏ vào nồi chiên không dầu hoặc lò vi sóng làm nóng lên là có thể thưởng thức. Cá trích nướng đem kho tiêu cũng rất “tốn”cơm.
Để phục vụ nhu cầu thưởng thức các trích ngay tại nơi nó vừa được kéo lên, nhiều hàng quán đã mọc lên dọc hai bên tuyến đường ven biển ở xã Hải Châu. Những con cá trích tươi rói được nướng trên than hoa, thơm và béo, ăn kèm bánh ướt, bún, rau, dưa chuột cùng với nước mắm truyền thống tạo ra hương vị rất độc đáo.
Những người tìm đến đây để trải nghiệm, thấy món ăn thú vị, dân dã và rẻ tiền sau đó đã quảng bá cá trích nướng lên mạng xã hội, khiến nhiều người tìm đến, mua và thưởng thức món cá này. “Hôm trước, có nhóm người ở Hà Nội ghé thăm, ăn xong thấy ngon đã mua luôn 1 tạ cá trích mang về làm quà”, một ngư dân kể.
“Tôi xem mạng xã hội mới món cá trích nướng này, thấy hấp dẫn nên rủ mấy người bạn nữa ra đây trải nghiệm. Nhìn cá vừa kéo lên, nướng trên than đã thấy hấp dẫn rồi. Cá ăn rất ngon, giá rẻ, phục vụ chu đáo nên rất thú vị”, chị Lê Hồng Nga, ngụ P.Thành Vinh (Nghệ An), nói. Nhiều gia đình ở cách xa hàng chục cây số cũng chạy xe ô tô đến đây để trải nghiệm.
Hải Châu hiện có hơn 300 bè mảng đánh lưới gần bờ. Ông Nguyễn Trọng Huyên, Chủ tịch UBND xã Hải Châu, cho hay mùa đánh bắt cá trích năm nay được nhiều người biết đến đã tạo không khí sôi động, làm tăng giá trị cá trích nướng. Đây cũng là cơ hội để quảng bá các sản phẩm đặc trưng của địa phương, du lịch trải nghiệm, tạo thêm việc làm, thu nhập cho người dân.
Người thực hiện bộ ảnh về đàn sếu đầu đỏ này là nhiếp ảnh gia Nguyễn Thị Minh Hải. Chị Hải cho biết đàn sếu đầu đỏ trong bộ ảnh được chị ghi lại tại địa phận Campuchia, nơi giáp ranh Hà Tiên (An Giang) vào tháng 2 vừa qua. Nơi đây, mỗi năm vào khoảng từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, sếu di cư về rất nhiều.
Đây là lần thứ 3 nữ nhiếp ảnh gia quay lại "săn ảnh" loài sếu đầu đỏ tuyệt đẹp này. Dù đã ở độ tuổi U.70, việc di chuyển vất vả, nhưng chị vẫn đam mê... theo chân đàn sếu.
Chị Hải kể vào buổi trưa (khoảng 12 giờ), sau khi làm thủ tục xuất cảnh qua cửa khẩu Hà Tiên, khoảng 15 giờ chị có mặt tại điểm bên ngoài nơi sếu cư trú trên đất Campuchia. Đến 16 giờ, chị cùng nhóm chụp ảnh bắt đầu đi bộ băng qua cánh rừng, lội qua các vùng sình lầy đất đen mới tiếp cận được khu vực bờ ruộng, nơi đàn sếu thường xuất hiện. Sau khoảng 2 tiếng chờ đợi, đến khoảng 17 giờ 30 những đàn sếu đầu tiên bắt đầu bay về.
"Vào những ngày nắng, hơi nước bốc lên từ mặt ruộng khiến việc chụp ảnh trở nên khó khăn. Đàn sếu lại bay về rải rác nên không thể ghi lại trọn vẹn cả đàn", chị Hải chia sẻ.
Tuy nhiên, việc chụp ảnh sếu với chị không phải chỉ trong một buổi mà kéo dài đến nhiều ngày liên tiếp mới mong có những bức ảnh đẹp.
Cho nên, hôm sau, chị lại có mặt tại điểm chụp từ lúc rạng sáng. Trong không gian tĩnh lặng, mọi cử động đều phải nhẹ nhàng, hạn chế tối đa bất kỳ tiếng động lạ nào để tránh làm đàn sếu hoảng sợ. Khoảng 5 giờ 30, sếu bắt đầu cất tiếng gọi nhau, tạo nên những khoảnh khắc sinh động. Tuy nhiên, do ánh sáng yếu, nhiều bức ảnh chị chụp chưa đạt như kỳ vọng. Đến khoảng 6 giờ, khi trời vừa hửng sáng, nắng đẹp thì đàn sếu lại bay đi trong sự tiếc nuối.
Theo nữ nhiếp ảnh gia, những khó khăn để "săn" ảnh sếu đòi hỏi phải có máy ảnh tính năng cao, có tốc độ cao khi chụp loạt ảnh cho những khoảnh khắc hoạt động của chúng. Ngược lại, nếu điều kiện thời tiết thuận lợi và thiết bị đảm bảo thì việc chụp không quá khó khăn.
"Ai cũng biết chụp chim rất vất vả bởi những hoạt động bản năng của chúng. Thời gian, dựng lều đợi, bỏ ăn uống, nắng thiêu đốt, mưa xối xả… cũng không gặp được chúng, đôi khi đỏ cả mắt ngóng trông mà điểm chụp hầu hết là ruộng, đầm, bãi sông. Cái khó nhất với tôi lúc này là việc di chuyển, nhất là khi tuổi đã cao", chị Hải bày tỏ.
Chị Hải nói rằng mỗi loài chim đều có những đặc điểm riêng đáng để khám phá. Chính vì thế, chị luôn dành tình yêu đặc biệt cho nhiếp ảnh thiên nhiên, các loài chim hoang dã, đặc biệt là sếu đầu đỏ.
Tôi đến Thiềng Liềng (ở Cần Giờ) lần đầu vào năm 2014, trong một chuyến đi gần như không có kế hoạch. Hòn đảo nhỏ bao quanh bởi những cánh rừng đước mênh mông và dòng Soài Rạp quanh năm sóng vỗ khi đó hiện ra đúng nghĩa là một vùng đất xa xôi hẻo lánh nhất của TP.HCM: không nhà trọ, không dịch vụ du lịch, không nhiều người biết đến.
Muốn ở lại, chúng tôi chỉ có thể xin ngủ nhờ một người dân làm muối tốt bụng. Đêm xuống, cả đảo chìm trong bóng tối, thỉnh thoảng mới thấy vài ánh đèn le lói.
Không gian yên tĩnh đến mức có thể nghe rõ tiếng tàu chạy ngoài sông, tiếng máy nổ phát điện đều đều. Đón tôi là chị Mười Giạ - chủ homestay đã gắn bó với hòn đảo nhỏ hơn 30 năm. Năm 1993, chị Giạ lúc đó mới 23 tuổi đã theo chồng về làm dâu ở đảo, bắt đầu làm quen với nghề làm muối truyền thống của gia đình.
Chị Giạ nhớ mãi những ngày đầu bước chân về nhà chồng: vài nóc nhà rải rác, lối đi nhỏ xíu len lỏi giữa ruộng muối, tiếng ếch nhái kêu và những ánh đèn dầu leo lét ban đêm, nhà nào khá giả lắm thì chạy thêm máy nổ phát điện. Nghề làm muối thời gian đó phụ thuộc hoàn toàn vào nắng gió và sức người: từ lăn ruộng, làm bờ, quay nước…
Cuộc sống sinh hoạt đã khó khăn, việc tìm con chữ của trẻ em Thiềng Liềng ngày ấy cũng thật gian nan khi trên đảo chỉ có trường mẫu giáo và tiểu học. Muốn học tiếp cấp 2, cấp 3 các em phải vào Thạnh An, mỗi ngày thức dậy từ 4 giờ sáng, rọi đèn pin men theo những con đường nhỏ để kịp chuyến đò 5 giờ xuất bến.
Gần 40 năm người dân Thiềng Liềng sống bằng đèn dầu, bằng máy phát điện cho đến năm 2011, Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC) thực hiện lắp đặt hệ thống điện mặt trời trên đảo. Tuy nhiên, nguồn năng lượng này chỉ đủ để thắp sáng, xem tivi, còn máy bơm nước, máy giặt, tủ lạnh, máy lạnh hay xa hơn nữa là giúp sức cho nghề làm muối lúc đó vẫn còn xa vời với chị Giạ và dân đảo.
Ngày 29.4.2016, công trình xây dựng lưới điện 22 kV xuyên rừng cấp điện cho ấp Thiềng Liềng chính thức được khánh thành và đóng điện. Hàng trăm hộ dân trên đảo trong đó có gia đình chị Giạ đã vỡ òa trong niềm vui - một khoảnh khắc mà nhiều người chờ đợi suốt hàng chục năm.
Ít ai biết rằng, để có được ánh sáng ấy, những người làm điện đã phải vượt qua không ít khó khăn: kéo cáp ngầm băng qua sông, xuyên qua rừng ngập mặn, đi qua những cánh đồng muối mênh mông - những địa hình phức tạp bậc nhất của vùng ven biển Cần Giờ.
Thế nhưng, bằng sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền các cấp và quyết tâm của ngành điện thành phố, công trình vẫn được hoàn thành, đưa điện lưới quốc gia đến với Thiềng Liềng - mở ra một bước ngoặt thực sự trong đời sống và sinh kế của người dân nơi đây.
Đường điện kéo tới đâu, ánh sáng theo về tới đó, không chỉ thắp sáng một vùng quê mà còn thắp lên những ước mơ và khát khao bao đời của những người như chị Giạ. Điện về, những đứa trẻ ở Thiềng Liềng có thể tự ra bến đò trên con đường sáng trưng, có thể học bài dưới ánh đèn sáng và tiếp cận với internet qua nhiều thiết bị hiện đại. Từ đây một bước ngoặt thực sự mở ra với đời sống sản xuất của người dân đảo. Qua rồi cái thời ngồi hì hục ngồi quay nước cả ngày để nước đầy vuông muối, giờ đây chỉ cần chiếc mô tơ điện, bật công tắc là nước đã được bơm đều vào ruộng muối giúp tiết kiệm không chỉ thời gian mà cả sức lực cho diêm dân.
Đến Thiềng Liềng những ngày này, tôi cảm nhận không khí tất bật của hòn đảo nhỏ, bận rộn nhưng ai cũng phấn khởi vui mừng. Những cánh đồng muối trắng trải dài tít tắp, những thuyền ghe neo san sát ngoài sông chờ thu mua, những dáng người ngược xuôi gánh muối từ ruộng về kho, chở muối ra bến và cả tiếng nói cười xôn xao của những du khách… Mang ra ly nước trái siro từ vườn nhà, chị Giạ hồ hởi kể về vai trò mới của mình: chủ homestay kiêm hướng dẫn viên.
Năm 2022, Thiềng Liềng bắt đầu phát triển du lịch cộng đồng, và chị Giạ là một trong những người tiên phong. Có điện lưới quốc gia, chị Giạ mở rộng căn nhà, trang bị thêm tủ đông trữ đồ ăn, quạt, máy lạnh. Từ ruộng muối, chị mở thêm dịch vụ homestay lưu trú, làm siro giải khát đồng thời kể câu chuyện của Thiềng Liềng cho du khách. "Ngày mới ra đảo chị không bao giờ nghĩ đến cảnh sẽ có ai ra đây du lịch chứ đừng nói tới ở lại" - chị cười tươi rói.
Tuy mới chỉ có khoảng 16 hộ làm du lịch cộng đồng, thế nhưng Thiềng Liềng đã tạo được dấu ấn về một hòn đảo mộc mạc bình yên không chỉ có muối mà còn đa dạng trải nghiệm từ cảnh sắc, ẩm thực đến văn hóa nghệ thuật.
Những đứa trẻ Thiềng Liềng năm xưa học bài dưới ánh đèn dầu giờ bắt đầu quay lại xây dựng quê hương trong vai trò những hướng dẫn viên bản địa, những chủ homestay, chủ quán cà phê. Nhờ hòa lưới điện quốc gia, hòn đảo nhỏ thực sự đã thay áo mới, đầy sức sống, đầy nội lực cho một chặng đường phát triển mới.
Hơn ba thập kỷ trôi qua, chị Giạ từ một cô gái trẻ liều lĩnh theo chồng đi khởi nghiệp đã trở thành bà ngoại của những đứa trẻ, là chủ homestay đồng thời cũng là người chứng kiến vô vàn những đổi thay của một hòn đảo leo lét ánh đèn dầu, rồi bỗng bừng sáng với điện lưới quốc gia.
Hành trình đưa điện ra Thiềng Liềng không đơn thuần là câu chuyện kỹ thuật, mà là câu chuyện của sự kiên trì, của những nỗ lực của ngành điện thành phố manh tên Bác đã rút ngắn khoảng cách giữa đảo xa và đất liền. Điện giờ đây không chỉ thắp sáng những ngôi nhà mà còn mở ra một hướng đi mới giúp bà con trên đảo phát triển kinh tế bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống.