Gần 15h, ông Trần Quang Mẫn, 60 tuổi, lái xe công nông (loại máy kéo nhỏ vận chuyển hàng), chở hai cháu ruột là Trần Hữu Thiện, 10 tuổi, và Trần Nhật Lâm, 7 tuổi, đi lấy hàng trên tuyến đường thuộc thôn Phú Tân 2, xã Ô Loan (Phú Yên cũ)
Khi đến lối mở tự phát giao với đường sắt, xe va chạm với tàu SE9 kéo 13 toa chạy hướng Bắc – Nam. Cú tông khiến công nông bị hất văng lên đường ray, lật nghiêng, nằm cách toa đầu khoảng 5 m về bên phải theo hướng tàu chạy.
Ba ông cháu bị văng khỏi xe khoảng 7 m. Bé Thiện tử vong tại chỗ, ông Mẫn và cháu Lâm bị thương nặng, được đưa đến Bệnh viện Đa khoa Phú Yên cách hiện trường khoảng 17 km.
Tai nạn làm xe công nông hư hỏng nặng, biến dạng. Tàu bị gãy ống nước, móp thùng máy bơm. Tàu cử người ở lại hiện trường phối hợp xử lý, còn đoàn tàu tiếp tục hành trình sau khi kiểm tra đủ điều kiện an toàn.
Theo nhân chứng, trước lúc xảy ra tai nạn, nhiều người dân đã hô hoán nhưng tài xế xe công nông không nghe thấy, vẫn tiếp tục băng qua đường sắt.
Cơ quan chức năng cho biết tai nạn xảy ra do xe công nông tự ý băng qua đường sắt tại lối đi tự mở, vi phạm hành lang an toàn giao thông đường sắt.
Mạng lưới đường sắt quốc gia dài hơn 3.140 km nhưng có gần 5.000 điểm giao cắt với đường bộ. Trong đó, hơn 3.000 lối đi tự mở chưa được rào chắn, khoảng 700 đường ngang có cảnh báo tự động và hơn 600 điểm có người gác. Đây là những điểm nóng tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông đường sắt.
Thời gian gần đây, nhiều vụ tai nạn giữa tàu hỏa với ôtô, xe máy xảy ra tại các điểm giao cắt đường sắt – đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng.
Ngày 6/4, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ ký kết biên bản ghi nhớ và kích hoạt kết nối, đồng bộ cơ sở dữ liệu ngành với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia (C12).
Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng nhấn mạnh sự kiện là dấu mốc quan trọng trong tiến trình chuyển đổi số của ngành và cụ thể hóa các chủ trương lớn về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia.
Trong bối cảnh dữ liệu được xác định là tài nguyên chiến lược, việc xây dựng hệ sinh thái dữ liệu số trở thành yêu cầu tất yếu, phục vụ hiệu quả công tác quản lý ngành có phạm vi rộng, tác động trực tiếp đến sinh kế của hàng chục triệu người dân, theo ông Thắng.
Thời gian qua, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tập trung xây dựng nền tảng dữ liệu đa ngành quy mô lớn, từng bước tháo gỡ các “điểm nghẽn” như cơ sở dữ liệu đất đai, truy xuất nguồn gốc nông sản.
Đến nay, 12/12 cơ sở dữ liệu chuyên ngành cốt lõi đã hoàn thành kết nối, được chuẩn hóa theo tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung” và sẵn sàng vận hành chính thức.
Chiến dịch 90 ngày đêm làm sạch dữ liệu đất đai do hai bộ phối hợp thực hiện đã rà soát hơn 62,2 triệu thửa đất, xác thực 42,5 triệu thửa với Cơ sở dữ liệu dân cư và đối soát trên 82.000 tàu cá.
Bộ trưởng Trần Đức Thắng khẳng định việc kết nối và đồng bộ dữ liệu không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn góp phần cắt giảm thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến, hướng tới phương thức quản trị dựa trên dữ liệu.
Bên cạnh đó, cơ quan này cũng đang triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản - ra mắt từ cuối năm 2025 và sẽ được áp dụng đồng bộ trên phạm vi cả nước từ 1/7 tới.
Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia (Bộ Công an) thông tin, đến nay hai Bộ đã hoàn thành kết nối 12 cơ sở dữ liệu chuyên ngành nông nghiệp và môi trường với Trung tâm Dữ liệu quốc gia. Kết quả này góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, hỗ trợ cắt giảm thủ tục hành chính, phát triển dịch vụ công trực tuyến cũng như phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ.
Theo biên bản ghi nhớ, hai Bộ thống nhất tiếp tục duy trì kết nối, cập nhật dữ liệu theo thời gian thực hoặc định kỳ; đẩy mạnh số hóa, chuẩn hóa, làm giàu, làm sạch toàn bộ dữ liệu còn lại trong năm nay và các năm tiếp theo.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường chịu trách nhiệm tổ chức số hóa và chuẩn hóa dữ liệu; Bộ Công an đảm nhiệm đối khớp, xác thực thông tin với cơ sở dữ liệu dân cư và nền tảng định danh điện tử.
Thời buổi gì mà chỉ cần có chút mâu thuẫn, va chạm nho nhỏ là sẵn sàng sử dụng bạo lực ngôn từ, chửi cha mắng mẹ, xưng bố xưng ông, rút hung khí đánh người không gớm tay, thậm chí là truy sát kiểu đuổi cùng giết tận.
Những vụ việc bạo lực đời thường liên tục xảy ra gần đây đã đủ để chúng ta lo lắng về một thứ "hội chứng rối loạn" của xã hội chưa?. Hay chỉ nên đặt những chuyện như thế ở tầm mức "quan ngại"?
Đừng tránh né nữa! Bạo lực đời thường phổ biến như thế chắc chắn là bằng chứng không thể bỏ qua của sự bất lực về văn hóa ứng xử và ngôn ngữ. Khi một cá nhân dùng bạo lực để giải quyết vấn đề, đó thường là dấu hiệu cho thấy họ thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc và khả năng thương thuyết.
Khi xã hội coi bạo lực là phương thức hiệu quả để bắt người khác tuân phục, đó chính là sự thụt lùi về văn minh. Nhất là soi vào nếp truyền thống ứng xử "dĩ hòa vi quý" của người Việt thì sự phổ biến bạo lực đời thường phản ánh một sự tha hóa rõ ràng của chuẩn mực hành xử truyền thống.
Nhưng tại sao chuẩn mực hành xử truyền thống bền vững cả ngàn đời mà giờ lại dễ dàng bị giẫm qua như thế?. Phải chăng có điều gì đó hằng ngày, từng chút một, tưởng vô hại nhưng rất nguy hiểm, đã làm xói mòn những chuẩn mực này?
Sự xói mòn chuẩn mực hành xử có thể xảy ra bởi những kiểu ngôn từ thô bạo mà người Việt đang ngày càng dễ dãi sử dụng và chấp nhận. Chính sự tha hóa của ngôn từ là một trong những tiền đề cho sự băng hoại của hành vi. Chúng ta có bao giờ thật sự cân nhắc điều này chưa, dù ngay trong những câu nói đùa giỡn hay trong những ngữ cảnh cho phép sự suồng sã?
Khi những lời chửi thề, những từ ngữ mang tính nhục mạ hoặc hạ thấp người khác xuất hiện tràn lan trên mạng xã hội và trong giao tiếp đời thường, chúng ta dần hình thành kiểu trạng thái trơ lì cảm xúc.
Ban đầu thì còn cảm thấy sốc và khó chịu. Rồi dần dần chấp nhận nó như một phần của cá tính hoặc ngôn ngữ mạng. Cuối cùng thì ta sử dụng nó như một phản xạ tự nhiên. Khi ngôn từ trở nên thô bạo, ranh giới giữa tranh luận và mạt sát bị xóa nhòa.
Một khi đã chấp nhận nhục mạ nhau bằng lời nói, việc chuyển sang dùng nắm đấm chỉ còn là một bước tiến rất ngắn về mặt tâm lý. Đó là kiểu hiệu ứng "con ếch bị luộc chín" (boiling frog syndrome) trong ngôn ngữ. Chúng ta đã không "canh giữ" nhau trong ngôn từ hằng ngày trên mạng, trong đời thường, để rồi thứ chúng ta nhận lại là sự tha hóa tồi tệ của hành xử bạo lực.
Rồi khi ngôi nhà có một ô cửa kính bị vỡ mà không được sửa, người ta sẽ sớm đập phá những ô cửa còn lại. Ngôn ngữ cũng vậy. Sự dễ dãi chấp nhận ngôn từ thô bạo chính là "ô cửa sổ vỡ" đầu tiên. Khi cái sai nhỏ được chấp nhận, cái sai lớn hơn (bạo lực thể xác) sẽ có mảnh đất màu mỡ để tồn tại.
Nguy hiểm nhất là khi bạo lực ngôn từ được khoác chiếc áo "thẳng thắn", "thật thà" hay "sống thật". Vì nhầm lẫn giữa sự thô lỗ và chân thành, nhiều người không còn động lực để tu dưỡng sự điềm tĩnh.
Điều chúng ta cần không chỉ là pháp luật nghiêm minh, mà còn cần một cuộc phục hưng về năng lực ngôn ngữ và sự thấu cảm, bắt đầu từ việc từ chối những ngôn từ độc hại hằng ngày.
Sáng 10.4, HĐND tỉnh Đồng Nai khóa XI (nhiệm kỳ 2026 - 2031) tiến hành kỳ họp thứ 2. Tại kỳ họp, HĐND tỉnh đã bầu ông Nguyễn Tuấn Anh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường giữ chức Phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai khóa XI với 100% số phiếu bầu đồng ý.
Ông Nguyễn Tuấn Anh (sinh năm 1977) quê xã Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Trình độ chuyên môn: thạc sĩ, kỹ sư quản lý đất đai.
Trước khi làm Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường rồi được bầu giữ chức Phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, ông Nguyễn Tuấn Anh từng giữ các chức vụ Phó giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh; Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Đồng Nai.
Như vậy, hiện tại lãnh đạo UBND tỉnh Đồng Nai gồm Chủ tịch là ông Nguyễn Văn Út, cùng 5 Phó chủ tịch gồm: ông Nguyễn Kim Long (Phó chủ tịch Thường trực), ông Lê Trường Sơn, ông Hồ Văn Hà, ông Nguyễn Tuấn Anh và bà Nguyễn Thị Hoàng.