Với vốn điều lệ lên đến 40.000 tỉ đồng, giá trị vốn hóa đạt gần 170.000 tỉ đồng, VRG là tập đoàn nông nghiệp lớn nhất Việt Nam, hiện đang đầu tư vào 115 công ty thành viên và liên kết, hoạt động đa dạng trong các lĩnh vực: trồng và chế biến cao su, sản xuất gỗ, phát triển khu công nghiệp, công nghiệp cao su, năng lượng tái tạo và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Trên diện tích hơn 377.800 ha cao su trải rộng trong và ngoài nước, VRG không chỉ sở hữu một hệ sinh thái sản xuất quy mô lớn, mà còn xây dựng được chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ trồng trọt, khai thác đến chế biến và thương mại.
Đáng chú ý, phần lớn diện tích cao su trong nước nằm ở các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới… những địa bàn còn nhiều khó khăn nhưng lại mang ý nghĩa chiến lược đặc biệt. Tại đây, các dự án của VRG đã góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời góp phần giữ vững “phên dậu” của Tổ quốc.
Không dừng lại trong nước, VRG đã mở rộng đầu tư ra khu vực, đặc biệt tại Lào và Campuchia với tổng diện tích hơn 113.000 ha, chiếm khoảng 30% diện tích cao su toàn tập đoàn.
Các dự án tại 2 nước bạn không chỉ đóng góp gần 40% sản lượng khai thác mà còn mang ý nghĩa sâu sắc về kinh tế, chính trị, đối ngoại. Tại những vùng dự án, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt, hạ tầng nông thôn từng bước được hoàn thiện, tình hình an ninh trật tự được giữ vững.
Quan trọng hơn, những cánh rừng cao su ấy đã trở thành cầu nối hữu nghị, góp phần củng cố niềm tin và sự gắn kết giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng, khẳng định vai trò và trách nhiệm của doanh nghiệp nhà nước trong hợp tác quốc tế.
Năm 2025 ghi nhận những kết quả tích cực của VRG với tổng doanh thu hợp nhất đạt hơn 32.000 tỉ đồng, lợi nhuận trước thuế 7.000 tỉ đồng, tăng trưởng mạnh so với năm trước. VRG nộp ngân sách đạt 4.350 tỉ đồng, khẳng định vai trò đóng góp quan trọng cho nền kinh tế.
Không chỉ dừng lại ở hiệu quả tài chính, VRG còn đặc biệt chú trọng chăm lo đời sống người lao động. Với khoảng 80.000 lao động, trong đó hơn 20.000 người là đồng bào dân tộc thiểu số và hàng chục nghìn lao động tại Lào, Campuchia, tập đoàn đã tạo dựng một hệ sinh thái việc làm ổn định, thu nhập bình quân trên 12 triệu đồng/người/tháng.
Đó chính là minh chứng rõ nét cho triết lý phát triển tăng trưởng phải đi đôi với bao trùm trách nhiệm xã hội, hiệu quả phải gắn liền với bền vững.
Năm 2026, VRG đặt mục tiêu tăng trưởng ổn định với doanh thu gần 34.000 tỉ đồng, lợi nhuận tiếp tục duy trì đà tăng. Nhưng hơn cả những con số, điều đáng chú ý là định hướng phát triển mang tính chiến lược, dài hạn. Tập đoàn đang đẩy mạnh đầu tư vào các lĩnh vực như nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo, phát triển khu công nghiệp trên đất chuyển đổi… nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và đa dạng hóa nguồn thu.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, VRG chú trọng ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa, phát triển các mô hình sản xuất quy mô lớn, tạo ra giá trị gia tăng cao. Việc nghiên cứu, phát triển giống cây trồng, đặc biệt là ứng dụng công nghệ sinh học, đang mở ra những hướng đi mới cho tập đoàn.
Một trong những trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển của VRG là chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị. Tập đoàn đang triển khai hệ thống quản lý hiện đại như GIS để quản lý đất đai, vườn cây theo thời gian thực; số hóa toàn bộ quy trình quản trị nội bộ; xây dựng hệ thống dữ liệu đồng bộ, minh bạch, góp phần nâng cao năng lực điều hành và tiết giảm chi phí.
Đồng thời, việc xây dựng và áp dụng bộ tiêu chuẩn ESG (môi trường – xã hội – quản trị) không chỉ giúp VRG tiệm cận các chuẩn mực quốc tế, mà còn củng cố niềm tin của nhà đầu tư, đối tác và thị trường.
Song song với mở rộng đầu tư, VRG cũng đẩy mạnh tái cơ cấu, sáp nhập các đơn vị cùng ngành nghề, tinh gọn bộ máy quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Việc loại bỏ cấp trung gian, sắp xếp lại các đơn vị sản xuất kinh doanh không chỉ giúp giảm chi phí, mà còn tạo ra sự linh hoạt, chủ động trong điều hành, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn hệ thống.
Năm 2025 đánh dấu bước đột phá lớn của VRG trong công tác sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, thực hiện nghiêm chủ trương của Đảng và Nhà nước về đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.
Tập đoàn đã chuyển đổi mô hình tổ chức sản xuất từ 3 cấp (công ty – nông trường – tổ/đội) sang 2 cấp (công ty – tổ/đội sản xuất), qua đó bỏ cấp trung gian, tăng tính linh hoạt, giảm chi phí quản lý và đưa bộ máy quản trị tiến sát hơn với sản xuất thực tiễn.
Cụ thể, tập đoàn đã giải thể, sáp nhập 214 nông trường, tổ chức lại thành 328 tổ/đội sản xuất trực thuộc các công ty, bảo đảm tinh gọn, rõ chức năng, rõ nhiệm vụ, rõ trách nhiệm, phù hợp với điều kiện sản xuất và yêu cầu quản trị hiện đại.
Cùng với đó, tỷ lệ lao động gián tiếp trong toàn tập đoàn được giảm mạnh, còn khoảng 5% tổng lao động, góp phần nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Trong xu thế phát triển mới, VRG chủ động liên kết với các tập đoàn kinh tế lớn như PVN, EVN, VNPT… nhằm tận dụng lợi thế, nguồn lực và tạo ra những giá trị cộng hưởng. Những hợp tác này mở ra nhiều cơ hội trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, công nghệ cao, chuyển đổi số…, đồng thời góp phần hình thành các chuỗi giá trị mới, nâng cao vị thế của VRG trên thị trường.
Với tầm nhìn dài hạn, VRG đặt mục tiêu đến sau năm 2030 đạt doanh thu khoảng 50.000 tỉ đồng, tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt trong ngành nông nghiệp và cao su.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, tập đoàn xác định rõ phát triển bền vững phải dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời gắn chặt với trách nhiệm xã hội và lợi ích quốc gia.
Chiều 13/4, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh (phường Phố Hiến), HĐND tỉnh Hưng Yên khóa XVIII, nhiệm kỳ 2026-2031 khai mạc kỳ họp thứ nhất.
Tại kỳ họp, HĐND tỉnh nghe báo cáo kết quả bầu cử đại biểu và xác nhận tư cách đại biểu. Các đại biểu thực hiện quy trình bầu các chức danh của HĐND, UBND tỉnh; bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân tỉnh và các khu vực nhiệm kỳ 2026-2031.
HĐND tỉnh cũng công bố nghị quyết về tổ chức bộ máy, phê chuẩn danh sách phó trưởng ban, ủy viên các ban; thành lập các tổ đại biểu và chỉ định tổ trưởng, tổ phó. Nhiều tờ trình, dự thảo nghị quyết quan trọng được xem xét, thông qua.
Ngay trong chiều cùng ngày, HĐND tỉnh tiến hành bầu các chức danh chủ chốt. Kết quả, ông Nguyễn Mạnh Quyền, Phó Bí thư Tỉnh ủy, được bầu giữ chức Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên nhiệm kỳ 2026-2031.
Các Phó Chủ tịch UBND tỉnh được bầu gồm: Nguyễn Lê Huy, Lê Quang Hòa, Phạm Văn Nghiêm, Lại Văn Hoàn và Nguyễn Hùng Nam.
Cũng tại kỳ họp, ông Trần Quốc Văn được tái cử giữ chức Chủ tịch HĐND tỉnh khóa XVIII. Các Phó Chủ tịch HĐND tỉnh gồm: Lê Xuân Tiến, Đặng Thanh Giang, Trần Thị Tuyết Hương và Vũ Ngọc Trì.
Trước đó, ngày 9/4, ông Phạm Quang Ngọc được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên nhiệm kỳ 2025-2030.
Ông Nguyễn Mạnh Quyền sinh năm 1975, quê Hà Nội, có nhiều năm công tác trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư. Ông từng giữ các chức vụ như Phó Giám đốc, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội; Chủ tịch, Bí thư Huyện ủy Quốc Oai; Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội.
Tháng 3, ông được Ban Bí thư điều động, chỉ định giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên, sau đó được giới thiệu để HĐND tỉnh bầu giữ chức Chủ tịch UBND tỉnh nhiệm kỳ mới.
Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh để đạt được tốc độ tăng trưởng hai con số, đột phá về thể chế vẫn là then chốt nhất. Thể chế giống như "con đường", tạo hành lang thông thoáng cho "cỗ xe kinh tế" phát triển. Nếu "con đường" được nâng cấp, "cỗ xe" ấy sẽ đi với tốc độ cao hơn.
Vì vậy, trong năm 2026, loạt vấn đề về thể chế phải được xử lý dứt điểm, bao gồm tổng rà soát hệ thống pháp luật, xây dựng chiến lược pháp luật trong kỷ nguyên mới, xử lý các vướng mắc liên quan đến vận hành của chính quyền 2 cấp. Năm 2026 cũng là "năm hướng về cơ sở", tập trung nâng cao chất lượng cán bộ tại cấp xã, phường, bởi đây là lực lượng đóng vai trò then chốt trong kiến tạo phát triển.
Song song với thể chế, Chính phủ sẽ quyết liệt cải cách hành chính, cắt giảm tối đa các thủ tục, điều kiện kinh doanh, nâng cao năng lực và trách nhiệm thực thi công vụ. Dự kiến phương án cắt giảm cụ thể sẽ được trình trước ngày 15.4, qua đó giảm chi phí tuân thủ, tạo lòng tin của người dân, doanh nghiệp (DN) với chính sách.
Về hạ tầng, Thủ tướng cho hay các dự án trọng điểm về giao thông đường bộ, sân bay và năng lượng sẽ được đẩy mạnh. Quy hoạch điện 8 sẽ được điều chỉnh, củng cố nguồn điện nền, kết hợp ứng dụng công nghệ mới để đảm bảo an ninh năng lượng và tiêu chuẩn môi trường. Phương án dự trữ quốc gia cũng đã được xây dựng, nhất là một số mặt hàng thiết yếu, không chỉ là xăng dầu.
Vẫn theo Thủ tướng, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong nhiệm kỳ này cần khoảng 40% GDP, tương đương 38,5 triệu tỉ đồng, trong khi nhiệm kỳ trước chỉ khoảng 33% GDP, "áp lực là rất lớn". Trong đó, tổng vốn đầu tư công hơn 8 triệu tỉ đồng, chỉ chiếm hơn 20% tổng vốn đầu tư xã hội. Khoảng 80% còn lại phải huy động từ những nguồn lực khác, từ DN trong nước, xã hội, nước ngoài… Điều này đòi hỏi bắt buộc phải có những giải pháp cụ thể để tạo ra hành lang pháp lý minh bạch, khuyến khích người dân và DN đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Đặc biệt, Thủ tướng nhấn mạnh tinh thần tăng trưởng nhưng phải dựa trên nền tảng ổn định vĩ mô, "xây nhà thì nền móng phải rất vững chắc", không thể tăng trưởng "nóng" bằng mọi giá, vì cái giá phải trả cho bất ổn vĩ mô là rất lớn về dài hạn.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, nhiều ý kiến cũng lưu ý về việc giải phóng các nguồn lực. Chủ tịch Quốc hội (QH) Trần Thanh Mẫn cho rằng phải có nhiều tập đoàn tư nhân lớn, kinh tế tư nhân phát triển thì đất nước mới phát triển. "Hiện nay các công trình lớn quốc gia giao cho các tập đoàn này xây dựng rất nhanh, đảm bảo yêu cầu đặt ra. Tại sao Nhà nước một công trình làm thủ tục 3 - 4 năm mới xong, rồi xây dựng kéo dài. Trung tâm hội chợ triển lãm quốc gia lớn nhất VN làm 10 tháng xong", ông nói.
Chủ tịch QH cũng lưu ý muốn tăng trưởng cần đột phá về thể chế, mở đường cho sản xuất, cần tập trung vào cải cách theo hướng "5 hóa": thực hiện triệt để số hóa, xanh hóa, tối ưu hóa nguồn lực, thông minh hóa quản trị và hài hòa hóa lợi ích. "Kinh tế phát triển nhưng phải đảm bảo sự công bằng xã hội, từ giáo dục, y tế, lao động đến giải quyết việc làm", Chủ tịch QH nhấn mạnh. Thêm vào đó phải đẩy mạnh cắt giảm chi phí tuân thủ, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm rộng rãi, xóa bỏ tâm lý sợ sai bằng cách từng cấp, từng ngành, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
Theo Phó chủ tịch QH Nguyễn Hồng Diên, một nhiệm vụ quan trọng là phải thiết lập niềm tin của nhà đầu tư trong và ngoài nước. Dẫn chứng từ làn sóng đầu tư FDI rất lớn gần đây, ông Diên chỉ rõ nhà đầu tư nước ngoài vào VN do hàng loạt yếu tố thuận lợi như giá năng lượng thấp, chi phí rẻ, thị trường rộng lớn. Tuy nhiên, "72 - 74% giá trị xuất khẩu hiện nay vẫn thuộc về các DN FDI". Do đó, phải chấn chỉnh thu hút đầu tư FDI, đặt ra điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài đến VN không chỉ khai thác lợi thế mà phải lan tỏa cho cộng đồng DN trong nước. DN FDI không chỉ mang tiền mà phải công nghệ mới, quản trị mới, có như vậy thu hút đầu tư mới thực chất.
Cạnh đó, đề nghị Chính phủ sớm có giải pháp "để người dân, xã hội yên tâm đầu tư chứ không phải vùi tiền vào trong đất, vùi tiền vào trong vàng, ném tiền ra nước ngoài đầu tư". Đơn cử như việc siết chặt thuế phải trên cơ sở nuôi dưỡng nguồn thu, dưỡng sức dân, dưỡng sức DN.
Ông Diên nêu ví dụ "ai cũng nhìn thấy, khắp nơi trên đất nước này có hàng trăm, hàng nghìn dự án bất động sản, giống như Trung Quốc cách đây nhiều năm có nhiều thành phố ma. Hàng trăm tỉ, hàng nghìn tỉ không được đưa vào sử dụng, đắp chiếu như thế khiến mỗi ngày qua đi lãi mẹ đẻ lãi con, lãi cháu, bốc hơi đi hàng chục tỉ". Theo đó, cần tập trung tháo gỡ các dự án, công trình dở dang trên cả nước, như của 173 dự án năng lượng tái tạo vướng mắc trước đây cũng đã có tổng mức đầu tư lên tới 13 tỉ USD, không vận hành được rất lãng phí. Nếu gỡ được những dự án này thì nguồn lực huy động được rất lớn, tạo ra sức bật kinh tế trong năm 2026.
Đại biểu Đặng Ngọc Huy (đoàn Quảng Ngãi) dành sự quan tâm đến hệ thống dự trữ xăng dầu quốc gia. Ông nói Nghị quyết 70 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu dự trữ xăng dầu đạt khoảng 90 ngày nhập khẩu ròng vào năm 2030, song thực tế dự trữ quốc gia hiện nay chỉ đáp ứng được 7 - 10 ngày sử dụng, nếu cộng cả dự trữ thương mại chỉ tối đa 30 ngày. "Chúng ta không thể vận hành một nền kinh tế năng động với quy mô khoảng 514 tỉ USD, đứng thứ 32 thế giới, bằng một chiếc bình nhiên liệu luôn "báo đèn đỏ". Khoảng cách từ 30 ngày lên 90 ngày không chỉ là bài toán về kho bãi, đó là bài toán về năng lực tự chủ chiến lược", ông Huy băn khoăn.
Trước thực tế trên, ông Đặng Ngọc Huy cho rằng không thể chậm trễ trong việc xây kho dự trữ xăng dầu, việc này dù sẽ tốn kém nhưng cái giá của việc thiếu dự trữ còn đắt hơn gấp nhiều lần. "Chúng ta không thể chờ đến khi "khát" mới bắt đầu đào giếng. Xây dựng kho dự trữ chiến lược chính là mua bảo hiểm cho nền kinh tế", ông Huy nói và kiến nghị Chính phủ quyết liệt bố trí nguồn lực ngân sách và cơ chế đặc thù để khởi công ngay hệ thống kho dự trữ quốc gia.
Thông tin thêm về tình hình thị trường xăng dầu, Bộ trưởng Bộ Công thương Lê Mạnh Hùng cho hay Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính phủ có chỉ đạo rất quyết liệt, xác định mục tiêu số một là phải bảo đảm an ninh năng lượng, dựa trên 3 trụ cột: phải đủ nguồn cung, phải tổ chức phân phối không đứt gãy và phải bảo đảm khả năng tiếp cận của người dân.
Trên cơ sở đó, các kịch bản đã được xây dựng để ứng phó với biến động. Nhiều giải pháp được triển khai đồng bộ, từ việc tập trung bảo đảm đủ nguồn cung trong nước, đa dạng nguồn cung từ bên ngoài, nâng số ngày dự trữ lưu thông cho đến duy trì công suất tối đa tại 2 nhà máy lọc dầu phục hồi, đưa vào vận hành các nhà máy ethanol…
Nhờ vậy, VN đã nâng số ngày dự trữ từ khoảng 15 ngày lên khoảng 26 ngày và sẽ tiếp tục nâng hơn nữa để duy trì nguồn cung trong nước ổn định, không bị đứt gãy. Chưa kể, mức giá các mặt hàng xăng, dầu diesel cũng được duy trì thấp hơn mức bình quân thế giới. Ví dụ xăng RON95, bình quân thế giới khoảng 1,3 USD/lít (tương đương khoảng 34.000 đồng/lít, với tỷ giá 1 USD = 26.300 đồng), trong khi VN chỉ khoảng 23.000 - 24.000 đồng/lít.
Hoặc so sánh với các nước có chung biên giới phải đóng cửa khoảng 50% trạm xăng, con số này ở Campuchia khoảng 35%; hoặc các nước lân cận như Thái Lan rơi vào tình trạng quỹ Chính phủ mất kiểm soát, giá nhiên liệu rất cao, Philippines cũng tuyên bố tình trạng khẩn cấp… Trong khi đó, VN vẫn duy trì ổn định.
Tổng thanh tra Chính phủ Nguyễn Quốc Đoàn 51 tuổi, quê tỉnh Ninh Bình; tiến sĩ Luật; Ủy viên Trung ương Đảng các khóa 13, 14.
Ông từng giữ các chức vụ Phó tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Bộ Công an; Giám đốc Công an tỉnh Thừa Thiên Huế - nay là TP Huế. Tháng 7/2020, ông làm Phó bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, sau đó được chỉ định giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn năm 2021.
Tháng 12/2024, ông được bổ nhiệm làm Phó chánh án Tòa án nhân dân Tối cao. Cuối năm 2025, ông được phân công giữ chức Phó tổng thanh tra thường trực Thanh tra Chính phủ trước khi được Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm giữ chức Tổng thanh tra Chính phủ.
Thanh tra Chính phủ là cơ quan ngang bộ, thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên phạm vi cả nước.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong 54 tuổi, quê Phú Thọ; tiến sĩ Kinh tế, cử nhân Quản trị kinh doanh công nghiệp, cử nhân Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước; Ủy viên Trung ương Đảng các khóa 13, 14.
Ông có khoảng 20 năm công tác tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Lào Cai, từ chuyên viên đến Giám đốc Sở. Sau đó, ông giữ các chức vụ Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai giai đoạn 2015-2020 và Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai giai đoạn 2020-2025.
Đầu năm 2025, ông được điều động làm Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc. Sau khi Vĩnh Phúc, Hòa Bình và Phú Thọ sáp nhập tháng 7/2025, ông giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ mới. Ba tháng sau, ông tiếp tục được điều động làm Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình. Từ đầu tháng 3/2026, ông giữ chức Phó chủ nhiệm Thường trực Văn phòng Chính phủ.
Văn phòng Chính phủ là cơ quan ngang bộ, giúp việc Chính phủ và Thủ tướng; có chức năng tham mưu tổng hợp, điều phối hoạt động chung của Chính phủ, Thủ tướng, phó thủ tướng; kiểm soát thủ tục hành chính; bảo đảm thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành và điều kiện vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Chính phủ.