Chỉ sau một đêm mưa bão, hàng nghìn tấn muối của diêm dân Sa Huỳnh (phường Sa Huỳnh, Quảng Ngãi) tan theo nước biển tràn vào đồng. Đến khi giá muối bất ngờ tăng cao, nhiều người lại rơi vào cảnh không còn gì để bán. Trước nghịch cảnh ấy, diêm dân bước vào vụ mới với nhiều hy vọng xen lẫn nỗi lo.
Có những lúc muối Sa Huỳnh ế ẩm hàng nghìn tấn khiến diêm dân bỏ ruộng hoang. Mười năm trước, chính quyền tỉnh Quảng Ngãi hỗ trợ hơn 125 tấn gạo giúp diêm dân vượt qua khó khăn để gắn bó với ruộng muối. Nhưng nhiều người vẫn bỏ nghề làm muối vì giá thấp, thậm chí nhiều khi chẳng có người mua. Hiện tại, giá muối Sa Huỳnh đang ở mức cao, 3.000 đồng/kg, nhưng diêm dân chẳng còn muối để bán.
Nguyên nhân là do bão số 13 năm 2025 gây thiệt hại nặng nề. Bão làm sóng biển dâng cao, tràn vào nhiều khu dân cư trên địa bàn. Nước biển ngược dòng, tràn vào đầm nước mặn Sa Huỳnh rồi qua cả đê bao, ngập tràn đồng muối.
Nước làm tan hơn 4.000 tấn muối của diêm dân chất thành đống trên những bờ cao. Nhiều hộ mất sạch muối sau đêm mưa bão. Thành quả cả mùa vụ nhọc nhằn trên đồng muối đã tan theo nước.
Với 900 m2 ruộng muối kết tinh, vụ sản xuất năm 2025, diêm dân Lê Lệ (62 tuổi) thu 50 tấn. Vợ chồng ông mua thêm 50 tấn để trữ chờ giá lên cao bán kiếm lời. Nước tràn qua đê trong đêm mưa bão khiến 80 tấn muối của ông tan thành nước.
Nước rút, vợ chồng ông ra đồng lượm những đoạn dây thừng, cọc tre, bạt ni lông phủ muối còn sót lại trên bờ đê, bán 20 tấn muối còn lại vào dịp trước tết để trang trải cuộc sống. Giờ, giá lên cao nhưng lại không còn muối để bán. “Không chỉ riêng vợ chồng tôi, nhiều bà con cũng bị thiệt hại và bây giờ hết sạch muối…”, ông Lệ tâm sự.
Diêm dân Nguyễn Thành Út (69 tuổi) cho biết vụ muối thường kéo dài từ đầu tháng 3 đến cuối tháng 7 âm lịch, khi trời bắt đầu mưa.
“Lúc đó, giá muối ở mức thấp. Trước và sau tết, giá muối thường nhích lên cao hơn. Nguyên nhân là do chưa vào vụ mới và nhu cầu tiêu thụ tăng cao. Thời điểm này, ngư dân thường trúng đậm cá cơm và nhiều người mua muối để muối mắm. Bởi vì muối Sa Huỳnh mặn dịu nên muối mắm rất ngon…”, ông Út nói.
Sau tết, diêm dân ra đồng tu sửa bờ, nạo vét kênh mương, tháo cạn nước, san phẳng nền ruộng, dùng gàu tát nước ở thửa ruộng sâu trước khi san phẳng. Đất khô héo sau những ngày phơi nắng, diêm dân nện chặt nền ruộng gần như sân xi măng. Giữa chiều, trời đổ mưa, thế là họ kiên trì làm lại từ đầu…
“Năm nay phải đến đầu tháng 3 âm lịch mới thu được muối. Tôi có 9 thửa ruộng muối kết tinh với tổng diện tích khoảng 450 m2. Trong cơn bão số 13 năm vừa rồi, nước cuốn trôi và làm rách hết bạt trải nền ruộng. Tôi hỏi giá để mua bạt mới, nhưng nghe nói hơn 20 triệu đồng nên thôi, vì không còn đủ tiền, đành sản xuất muối theo phương pháp truyền thống…”, diêm dân Trần Ngọc Tuyên (60 tuổi) tâm sự.
Bạt trải trên nền 18 thửa ruộng muối kết tinh của vợ chồng ông Lê Lệ cũng bị nước cuốn trôi trong đêm mưa bão. Những tấm còn lại bị rách tả tơi trông thật thảm hại. Ông nén tiếng thở dài khi biết số tiền mua bạt mới khá lớn, gia đình không kham nổi. Vợ chồng ông dự định tận dụng bạt cũ nhặt được sau bão, vá những chỗ rách để sản xuất tạm bợ.
“Hầu hết bạt trải trên ruộng đều bị cuốn trôi hoặc bị rách nhưng tôi và bà con không đủ sức mua mới. Thu nhập của diêm dân chỉ trông chờ vào muối, mà muối lại bị nước làm tan chảy nên cuộc sống hết sức khó khăn. Mong Nhà nước hỗ trợ bạt trải nền ruộng để việc sản xuất được thuận lợi và tăng năng suất muối”, ông Lệ bày tỏ.
Sản lượng muối thu hoạch hằng năm lên đến 6.000 – 8.000 tấn, nhưng cuộc sống của diêm dân Sa Huỳnh gặp nhiều khó khăn. “Giá muối thường ở mức thấp, chỉ tăng vào thời điểm trước và sau tết. Bà con muốn trữ để bán vào lúc đó nhưng việc bảo quản khó khăn. Đề nghị cơ quan chức năng hỗ trợ xây dựng sân phơi và kho trữ muối để tránh bị tan chảy”, ông Nguyễn Hữu Chánh, Giám đốc Hợp tác xã sản xuất muối 2 Sa Huỳnh, tâm sự.
Bước đầu, chính quyền địa phương cũng đã có động thái hỗ trợ. “Chúng tôi đang phối hợp với đơn vị liên quan hoàn tất thủ tục để nâng cấp đê bao đồng muối với kinh phí cấp trên hỗ trợ 1,8 tỉ đồng nhằm ngăn nước thủy triều làm tan muối và tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất của diêm dân”, ông Nguyễn Viết Thanh, Chủ tịch UBND phường Sa Huỳnh, nói.
Năm 2026 đánh dấu 15 năm "bánh mì Việt Nam" được đưa vào từ điển Oxford, hệ thống từ điển tiếng Anh uy tín hàng đầu thế giới do Nhà xuất bản Đại học Oxford phát hành, như một danh từ riêng, được đánh giá "bánh mì là loại sandwich ngon nhất thế giới".
Gần đây nhất, trong bảng xếp hạng 100 món ngon nhất Đông Nam Á do tạp chí ẩm thực Taste Atlas vừa công bố có nhiều món của Việt Nam. Trong đó có món bánh mì heo quay đứng vị trí thứ 2.
Có thể nói, món bánh mì đã trở thành niềm tự hào ẩm thực, văn hóa của người dân Việt Nam, là món ăn "ruột" quen thuộc không thể thiếu với nhiều người. Hãy cùng tìm hiểu những câu chuyện về bánh mì Việt Nam từng gây sốt trong giới ẩm thực trong những năm gần đây.
Không phải ai cũng biết Bánh Mì Nếm, một tiệm bánh mì Việt Nam hiếm hoi tại Hồng Kông mới mở hồi năm 2024 từng gây sốt khi là tiệm bánh mì Việt Nam đầu tiên và duy nhất trên thế giới được vào danh sách Michelin Selected danh giá.
Chị Kiki Phụng, tên thật là Đặng Kiên Di (40 tuổi), người phụ nữ Việt Nam có gần 2 thập kỷ sống ở Hồng Kông chính là người đứng sau thương hiệu Bánh Mì Nếm nổi tiếng, nằm giữa khu Wan Chai sầm uất.
Sinh ra và lớn lên ở TP.HCM, bánh mì đã quá đỗi quen thuộc với chị Kiki Phụng và người phụ nữ chọn bắt đầu bằng món ăn này để giới thiệu về ẩm thực Việt. Hương vị của Bánh Mì Nếm cũng là hương vị của những ổ bánh mì Sài Gòn trong ấn tượng và ký ức của chị.
Sau khi được vinh danh ở hạng mục Best Vietnamese Restaurant ở giải thưởng Foodie Forks 2025 tại Hong Kong, một trong những giải thưởng ẩm thực danh giá cũng như nhận được sự công nhận của Michelin Guide, tiệm bánh nổi tiếng khắp xứ Cảng Thơm cũng như gây sốt trong cộng đồng yêu ẩm thực Việt.
Chỉ với 5.000 đồng/ổ, gánh bánh mì của cụ bà U.90 Nguyễn Thị Ngang, còn gọi là bà Sáu được nhiều khách thương mến gọi là bánh mì "rẻ nhất Việt Nam". Từng chia sẻ trên Thanh Niên, bà Sáu cho biết gánh bánh mì của mình được mở để nuôi 3 người con trai, khi tuổi bà cũng đã độ tứ tuần.
Thời đó, mỗi ổ bà bán chỉ chừng 100 đồng, nếu bà nhớ không lầm. Qua gần nửa thế kỷ, hàng bánh vẫn chỉ có giá 5.000 đồng. "Bà bán rẻ để cho công nhân, học sinh có cái mà ăn lót dạ buổi sáng trước khi đi làm, đi học chứ mắc quá thì cũng tội người ta, làm có bao nhiêu tiền đâu. Bà bán cũng có lời chứ sao không, nhưng mà lời không có nhiều, đủ để nuôi sống bà không để mấy đứa con phải lo, cũng có chút vốn để duy trì cái gánh này”, bà Sáu chia sẻ.
Cụ bà cũng nói thêm, nhiều lần, các con khuyên bà nghỉ bán vì quá cực. Nhưng nghĩ đến những người khách suốt bao nhiêu năm ủng hộ, nghĩ tới những người khó khăn cần đến ổ bánh mì vừa rẻ vừa ngon của bình, bà lại không đành lòng. Cứ vậy, bà quyết bán đến khi nào không còn sức nữa thì thôi.
Ở TP.HCM có nhiều tiệm bánh mì bình dân nửa thế kỷ nổi tiếng, được nhiều thực khách biết tới như tiệm bánh mì Hai Lành ở phường An Lạc (Q.Bình Tân cũ), bánh mì bà Cúc trước chợ An Đông thuộc phường An Đông (Q.5 cũ), bánh mì Cô Điệp ở phường Bảy Hiền (Q.Tân Bình cũ)...
Tiệm bánh mì Hai Lành là tiệm bánh mì của gia đình bà Võ Thị Lành nằm trên đường Tỉnh lộ 10, nổi tiếng với câu chuyện bà chủ bán bánh mì hơn nửa thế kỷ, tiết kiệm dành dụm mua 9 căn nhà Sài Gòn cho bà và các em.
Trong khi đó, tiệm bánh mì Cô Điệp cũng nổi tiếng với câu chuyện bà Nguyễn Ngọc Điệp, chủ tiệm bánh mì từ năm 10 tuổi đã theo mẹ bán bánh mì để mưu sinh. Năm 1986, vì muốn kế thừa nghề của mẹ, cũng là để có thêm thu nhập trang trải nên bà quyết định mở bán bánh mì, tới nay, ngót nghét 40 năm.
Có một điều đặc biệt ở bà Điệp, chính là việc bà kiên quyết nói không với điện thoại, internet vì… không thích. Ai muốn gặp hoặc liên hệ với bà chỉ có thể tới gặp trực tiếp hoặc liên hệ thông qua người thân.
Bên cạnh đó, những tiệm bánh mì như Bảy Hổ, Như Lan, Hòa Mã, Tăng… đều là những thương hiệu lâu đời đã quá đỗi quen thuộc, thu hút đông đảo thực khách trong và ngoài nước. Bạn ấn tượng với những tiệm bánh mì Việt Nam nào hay có những tiệm bánh mì "ruột" nào thú vị? Hãy chia sẻ với chúng tôi trong phần bình luận bên dưới.
Chiều tối 5.4, cộng đoàn Công giáo đã hiện diện rất đông đảo để rước kiệu cung nghinh tượng Chúa Phục Sinh xung quanh nhà thờ Tân Phú trong đại lễ Phục sinh.
Sau cuộc rước, Thánh lễ mừng Chúa Phục sinh được cử hành trọng thể với sự chủ tế của linh mục chánh xứ Giuse Lê Hoàng. Đồng tế với ngài có các linh mục trong xứ, cùng với sự tham dự của các nữ tu và đông đảo giáo dân.
Nói về lễ Phục sinh, chị Đinh Ngọc Bảo Hân, giáo dân tham dự buổi lễ cho biết: "Đối với tôi việc trực tiếp chứng kiến đoàn rước không chỉ là một nghi thức tôn giáo mà còn là dịp để khẳng định niềm tin sắt son. Bản thân cũng chỉ có niềm tin vào Chúa Giêsu và tin vào Chúa sống lại vào ngày sau thôi".
Bảo Hân cho biết thêm hòa chung niềm tin ấy, những lời nguyện ước về sức khỏe và bình an cũng được gửi gắm một cách chân thành. Mong muốn lớn nhất của chị là bản thân và gia đình luôn được khỏe mạnh, đồng thời được sống trong tràn đầy hồng ân của Thiên Chúa.
Chia sẻ về ý nghĩa về sự kiện này, linh mục Giuse Lê Hoàng, Chánh xứ giáo xứ Tân Phú cho biết tâm điểm của năm phụng vụ chính là Tam Nhật Thánh cao điểm này bắt đầu từ thứ năm tuần Thánh với nghi thức rửa chân và lập Bí tích Thánh Thể, Bí tích Truyền chức Linh mục. Kế tiếp là ngày thứ sáu suy tôn Thánh Giá và đạt đến đỉnh điểm vào đêm canh thức vọng Phục sinh, thời điểm cử hành sự kiện Chúa vượt qua cái chết để đi vào phục sinh vinh hiển.
Theo linh mục Giuse Lê Hoàng, ngày Chúa Nhật Phục sinh không chỉ là một đại lễ long trọng mà còn là niềm tin căn bản của người Kitô hữu, mang đến thông điệp về niềm hy vọng vào sự sống đời đời sau khi trải qua cái chết.
Tại Giáo xứ Tân Phú, đại lễ được tổ chức với các nghi thức truyền thống đầy ý nghĩa. Mở đầu là cuộc rước tượng Chúa Phục sinh xung quanh nhà thờ với sự tham gia của hội đồng Mục vụ giáo và các đoàn thể Công giáo tiến hành.
Linh mục Giuse Lê hoàng cho biết thêm Giáo xứ Tân Phú là một giáo xứ có sức sống mạnh mẽ với lượng giáo dân đi lễ vào ngày Chúa Nhật có thể lên đến hơn 10.000 người. Sự tham gia đông đảo của bà con giáo dân trong các nghi lễ trang nghiêm đã tạo nên một không gian tràn đầy đức tin và hy vọng.
Giáo xứ Tân Phú được thành lập năm 1963. Tổng ủy Dinh Điền tỉnh Gia Định giao cho Giáo Hội thành lập khu định cư, có diện tích hơn 2 hecta, là khu đất ruộng trũng ở ven đô, thuộc xã Tân Sơn Nhì, quận Tân Bình, tỉnh Gia Định cũ. Đức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đã ủy nhiệm cho Linh mục Đaminh Đinh Xuân Hải (chánh xứ từ 1963 – 1972) xây dựng. Thiết kế khu dân cư này, cha dành riêng một khu vực làm nơi phụng tự, phần khác dành cho xây dựng trường học, cơ sở y tế để phục vụ sức khỏe cộng đồng.
Thuở ban đầu, giáo xứ này chỉ có 83 gia đình Công giáo, phần đông là di dân từ miền Bắc. Một ngôi nhà thờ tạm bằng tre lá đã hình thành và tôn vinh Thánh Giuse làm bổn mạng. Dần dần, nhờ đóng góp của cộng đoàn dân Chúa, nhà xứ, phòng họp và các phòng học giáo lý đã được xây dựng.
Giáo xứ Tân Phú là nơi "đất lành chim đậu", nhiều giáo dân quy tụ về sinh sống, đời sống đức tin phát triển, nhu cầu sinh hoạt phụng tự gia tăng, cơ sở vật chất được nâng cấp và mở rộng.
Năm 1967, ngôi thánh đường bê tông kiên cố được khánh thành. Đến năm 1997, cha Đaminh Vũ Nguyên Thiều, Chánh xứ từ năm 1997 đến 2005 đã khánh thành ngôi nhà thờ mới rộng lớn hơn cho phù hợp với sự phát triển của giáo xứ. Năm 2007, nhân kỷ niệm 10 năm cung hiến thánh đường giáo xứ Tân Phú, linh mục chánh xứ Giuse Lê Đình Quế Minh cùng giáo dân trùng tu Thánh đường thêm khang trang, đẹp đẽ như ngày nay.