Mục Lục
ToggleNgày 13/4, ông Ung Đình Hiền, Chủ tịch UBND xã Vạn Tường (tỉnh Quảng Ngãi), cho biết lực lượng công an xã đang điều tra, xử lý vụ nữ sinh lớp 7 của Trường THCS Bình Thuận bị hành hung.
“Ngoài việc chỉ đạo điều tra, xử lý vụ việc, tôi cũng yêu cầu ban giám hiệu nhà trường cử giáo viên phối hợp với gia đình để theo dõi sức khỏe, động viên tinh thần nữ sinh này”, ông Hiền thông tin.
Theo ông Hiền, kết quả xác minh ban đầu của Trường THCS Bình Thuận cho thấy, sự việc xảy ra lúc 11h15 ngày 11/4. Thời điểm này, em D.T.K.B. (lớp 7A) và em Đ.T.K.T. (lớp 7C) hẹn nhau ra cổng trường để nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn.
Khi 2 nữ sinh nói chuyện, Đ.H.M.K. (lớp 9C, anh của T.) đi ngang qua thấy sự việc nên cũng tham gia. Sau một hồi cự cãi, K. đã đánh B.. Sau đó, B.Q.Q. (lớp 9C) cũng lao vào đánh B.. Dù được người dân can ngăn nhưng 2 nam sinh vẫn đánh B. tới tấp.
Bảo vệ nhà trường phát hiện sự việc nên đã can thiệp và đưa B. đến phòng giáo viên để báo cáo. Lúc này nạn nhân có biểu hiện hoảng loạn, liên tục nôn ói nên được đưa đến cơ sở y tế để theo dõi sức khỏe.
“Nữ sinh này bị ảnh hưởng tâm lý, có biểu hiện hoảng loạn. Công an đang điều tra sự việc, tôi sẽ chủ trì cuộc họp để nghe các cơ quan liên quan báo cáo và sẽ chỉ đạo xử lý một cách hợp lý nhất”, ông Hiền thông tin.
Như Dân trí phản ánh, ngày 12/4 trên mạng xã hội xuất hiện clip ghi lại cảnh một số nam sinh đánh tới tấp vào vùng mặt nữ sinh. Thấy vậy, một người đàn ông đã can ngăn nhưng các nam sinh vẫn bất chấp, tiếp tục đánh nữ sinh.
Nữ sinh bị đánh dập môi, bầm mắt, trên cơ thể cũng có nhiều vết bầm, tinh thần hoảng loạn. Gia đình đã đưa nữ sinh này đến bệnh viện để kiểm tra sức khỏe, trình báo sự việc đến công an.
Tin Gốc: Dân Trí
Giáo Dục
TP.HCM: Tạm đình chỉ giáo viên phạt học sinh tự lấy kim tiêm đâm vào tay

Theo đó, bà Trần Thị Thảo, Chủ tịch UBND phường Bến Cát (TP.HCM), cho biết đã nhận được phản ánh của phụ huynh về việc học sinh lớp 3 Trường tiểu học Lương Thế Vinh bị giáo viên M. đưa ra hình thức phạt học sinh không ngoan bằng cách yêu cầu học sinh tự lấy kim tiêm đâm vào tay.
Sau đó, các cơ quan chuyên môn đã tiến hành xác minh và khẳng định việc cô M. đưa ra hình thức phạt học sinh chưa ngoan bằng cách yêu cầu tự lấy kim tiêm đâm vào tay là có thật.
"Việc giáo viên đưa ra hình thức phạt này là vi phạm đạo đức, gây phản cảm cho các em học sinh. Hiện tại tinh thần của các em học sinh đã ổn định. Chúng tôi đang tiến hành các bước kỷ luật theo quy định", bà Trần Thị Thảo cho hay.
Trước đó, theo phản ánh của phụ huynh Trường tiểu học Lương Thế Vinh, có đến 5 học sinh bị cô M. phạt do không đeo khăn quàng đỏ, vi phạm nội quy của lớp học… bằng cách yêu cầu học sinh tự lấy kim tiêm đâm vào tay. Điều này khiến tinh thần của các em hoảng loạn.
Bà Trần Thị Thảo cho biết thêm, qua làm việc, cô M. đã thừa nhận kim tiêm là do cô đi mua ở tiệm thuốc tây về để tiêm thuốc cho người nhà trong gia đình.
Trong lúc chưa mang kim tiêm về nhà, cô M. để trong túi xách, mang đến trường. Khi có các học sinh vi phạm nội quy, cô đã mang kim tiêm ra để phạt học sinh.
Trước đó, phụ huynh Trường tiểu học Lương Thế Vinh cũng bất bình khi phát hiện thực phẩm kém chất lượng đưa vào bếp ăn của học sinh bán trú (Thanh Niên đã thông tin). Đến nay, nhà trường đã đình chỉ nhà cung cấp suất ăn cho học sinh và tiến hành đấu thầu công khai để tìm đơn vị mới.
Tin Gốc: Thanh Niên

Trong đó, 119 trường THPT công lập không chuyên tuyển hơn 78.300 học sinh, trường chất lượng cao Phan Huy Chú - Đống Đa tuyển 400 em, 4 trường chuyên lấy hơn 2.700.
Tổng chỉ tiêu gần như tương đương năm ngoái, nhưng năm nay thủ đô có khoảng 147.000 học sinh tốt nghiệp THCS, tăng chừng 20.000 em. Vì thế, chỉ khoảng 55% có suất học lớp 10 công lập, thấp hơn gần 10%.
Con số này dự kiến tăng nhẹ khi một số trường dự kiến hoạt động từ năm tới chưa được giao chỉ tiêu, gồm THPT Hoàng Quán Chi (phường Yên Hòa), Vĩnh Hưng (phường Vĩnh Hưng), Việt Hùng (xã Đông Anh).
Chỉ tiêu lớp 10 của 119 trường THPT ở Hà Nội năm 2026 như sau:
TT
Trường
Chỉ tiêu 2026
Chỉ tiêu 2025
Tăng/giảm
1
THPT Phan Đình Phùng
720
720
0
2
THPT Phạm Hồng Thái
585
720
-135
3
THPT Nguyễn Trãi - Ba Đình
688
765
-77
4
THPT Tây Hồ
765
765
0
5
THPT Trần Phú
765
765
0
6
THPT Việt Đức
945
945
0
7
THPT Thăng Long
720
675
45
8
THPT Trần Nhân Tông
720
720
0
9
THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng
675
675
0
10
THPT Đống Đa
675
720
-45
11
THPT Hoàng Cầu
540
-
-
12
THPT Kim Liên
765
765
0
13
THPT Lê Quý Đôn - Đống Đa
675
720
-45
14
THPT Quang Trung - Đống Đa
675
675
0
15
THPT Nhân Chính
585
585
0
16
Trần Hưng Đạo - Thanh Xuân
675
765
-90
17
THPT Khương Đình
675
765
-90
18
THPT Khương Hạ
450
400
50
19
THPT Cầu Giấy
720
720
0
20
THPT Yên Hòa
765
765
0
21
THPT Hoàng Văn Thụ
765
765
0
22
THPT Trương Định
675
675
0
23
THPT Việt Nam - Ba Lan
720
765
-45
24
THPT Đỗ Mười
675
-
-
25
THPT Ngô Thì Nhậm
720
675
45
26
THPT Ngọc Hồi
675
675
0
27
THPT Đông Mỹ
675
765
-90
28
THPT Nguyễn Quốc Trinh
765
720
45
29
THPT Nguyễn Gia Thiều
720
675
45
30
THPT Lý Thường Kiệt
675
675
0
31
THPT Thạch Bàn
765
765
0
32
THPT Phúc Lợi
765
765
0
33
THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm
765
765
0
34
THPT Dương Xá
720
720
0
35
THPT Nguyễn Văn Cừ
765
720
45
36
THPT Yên Viên
720
720
0
37
THPT Đa Phúc
765
675
90
38
THPT Kim Anh
675
675
0
39
THPT Minh Phú
585
585
0
40
THPT Sóc Sơn
765
675
90
41
THPT Trung Giã
675
630
45
42
THPT Xuân Giang
630
630
0
43
THPT Bắc Thăng Long
720
675
45
44
THPT Cổ Loa
675
765
-90
45
THPT Đông Anh
675
720
-45
46
THPT Liên Hà
675
675
0
47
THPT Vân Nội
765
720
45
48
THPT Phúc Thịnh
675
-
-
49
THPT Mê Linh
540
630
-90
50
THPT Quang Minh
450
540
-90
51
THPT Tiền Phong
585
495
90
52
THPT Tiến Thịnh
540
495
45
53
THPT Tự Lập
540
540
0
54
THPT Yên Lãng
585
495
90
55
THPT Nguyễn Thị Minh Khai
675
765
-90
56
THPT Xuân Đỉnh
675
765
-90
57
THPT Thượng Cát
540
585
-45
58
THPT Đại Mỗ
720
720
0
59
THPT Trung Văn
585
520
65
60
THPT Xuân Phương
675
765
-90
61
THPT Mỹ Đình
765
765
0
62
THPT Hoài Đức A
630
720
-90
63
THPT Hoài Đức B
720
720
0
64
THPT Vạn Xuân - Hoài Đức
675
675
0
65
THT Hoài Đức C
585
540
45
66
THPT Đan Phượng
675
675
0
67
THPT Hồng Thái
630
585
45
68
THPT Tân Lập
675
630
45
69
THPT Thọ Xuân
540
540
0
70
THPT Ngọc Tảo
765
720
45
71
THPT Phúc Thọ
675
720
-45
72
THPT Vân Cốc
585
585
0
73
THPT Tùng Thiện
765
765
0
74
THPT Xuân Khanh
675
630
45
75
THPT Ba Vì
630
630
0
76
THPT Bất Bạt
450
450
0
77
Phổ thông Dân tộc nội trú
140
140
0
78
THPT Ngô Quyền - Ba Vì
675
675
0
79
THPT Quảng Oai
675
675
0
80
THPT Minh Quang
540
540
0
81
THPT Bắc Lương Sơn
540
495
45
82
Hai Bà Trưng - Thạch Thất
675
675
0
83
Phùng Khắc Khoan - Thạch Thất
675
540
135
84
THPT Thạch Thất
765
675
90
85
THPT Minh Hà
450
450
0
86
THPT Cao Bá Quát - Quốc Oai
585
585
0
87
THPT Minh Khai
675
675
0
88
THPT Quốc Oai
675
675
0
89
THPT Phan Huy Chú - Quốc Oai
720
720
0
90
THPT Lê Quý Đôn - Hà Đông
765
765
0
91
THPT Quang Trung - Hà Đông
765
720
45
92
THPT Trần Hưng Đạo - Hà Đông
720
720
0
93
THPT Lê Lợi
720
-
-
94
THPT Chúc Động
675
765
-90
95
THPT Chương Mỹ A
675
720
-45
96
THPT Chương Mỹ B
720
720
0
97
THPT Xuân Mai
675
765
-90
98
THPT Nguyễn Văn Trỗi
720
720
0
99
THPT Nguyễn Du - Thanh Oai
675
765
-90
100
THPT Thanh Oai A
720
720
0
101
THPT Thanh Oai B
720
720
0
102
THPT Thường Tín
675
675
0
103
THPT Nguyễn Trãi - Thường Tín
540
630
-90
104
THPT Lý Tử Tấn
585
585
0
105
THPT Tô Hiệu - Thường Tín
585
630
-45
106
THPT Vân Tảo
630
585
45
107
THPT Đồng Quan
585
585
0
108
THPT Phú Xuyên A
675
675
0
109
THPT Phú Xuyên B
675
630
45
110
THPT Tân Dân
495
495
0
111
THPT Hợp Thanh
585
495
90
112
THPT Mỹ Đức A
720
675
45
113
THPT Mỹ Đức B
585
585
0
114
THPT Mỹ Đức C
675
585
90
115
THPT Đại Cường
450
450
0
116
THPT Lưu Hoàng
585
495
90
117
THPT Trần Đăng Ninh
585
540
45
118
THPT Ứng Hòa A
585
585
0
119
THPT Ứng Hòa B
585
540
45
Trong 119 trường THPT, hơn 30 trường tăng chỉ tiêu, phổ biến 45-90 học sinh, hơn 20 trường giảm, còn đa số ổn định.
THPT Phùng Khắc Khoan - Thạch Thất tăng 135 học sinh, trong khi THPT Phạm Hồng Thái giảm tương đương. Đây là hai trường có biến động chỉ tiêu nhiều nhất.
Với hệ chuyên, cả 4 trường đều giữ ổn định số lớp và chỉ tiêu như năm ngoái, tổng 2.730. Cụ thể, trường chuyên Hà Nội - Amsterdam tuyển 840 học sinh, chuyên Chu Văn An 665, chuyên Nguyễn Huệ 700 và chuyên Sơn Tây 525.
Chi tiết chỉ tiêu lớp 10 chuyên ở Hà Nội năm 2026
Thí sinh đang trong giai đoạn tập dượt đăng ký thi lớp 10 trực tuyến, trước khi đăng ký chính thức vào 10-17/4. Năm nay, các em có thể nhìn thấy số lượng nguyện vọng 1, 2 và 3 đặt vào từng trường theo thời gian thực, từ đó tính được tỷ lệ chọi.
Kỳ thi diễn ra ngày 30-31/5, thí sinh đăng ký trường chuyên sẽ thi thêm môn chuyên vào ngày 1/6. Dự kiến từ ngày 19 đến 22/6, Sở sẽ công bố điểm thi, điểm chuẩn lớp 10.
Thanh Hằng
Nguồn: https://vnexpress.net/chi-tieu-lop-10-tat-ca-truong-thpt-cong-lap-ha-noi-2026-5058617.html

Kết quả môn ngữ văn trong kỳ thi tốt nghiệp THPT giai đoạn 2021–2025 cho thấy Hải Phòng và Hà Nội duy trì điểm khá cao, Huế tăng rõ rệt, TP.HCM và Cần Thơ biến động mạnh, trong khi Đà Nẵng thuộc nhóm cuối.
Kết quả đối sánh môn ngữ văn 6 thành phố trước sáp nhập
Trong nhiều năm, đánh giá chất lượng giáo dục Việt Nam chủ yếu dựa vào đối sánh kết quả thi THPT giữa các địa phương với so sánh chung toàn quốc. Cách làm này thiếu công bằng vì điều kiện kinh tế – xã hội, đầu vào học sinh rất khác nhau. Trong bối cảnh đó, đối sánh nhóm trở thành cách tiếp cận phù hợp. Đối sánh nhóm là so sánh kết quả học tập, thi cử giữa các đơn vị tương đồng về điều kiện. Chẳng hạn, với 6 thành phố trực thuộc T.Ư trước và sau khi sáp nhập.
Xét điểm trung bình môn ngữ văn giai đoạn 2021–2025, Hải Phòng dẫn đầu với hơn 7,44 điểm, tiếp đến là Hà Nội trên 7,14 điểm, đều cao hơn mức trung bình của nhóm khoảng 6,75 điểm. Hai địa phương này duy trì chất lượng khá ổn định. Huế đạt mức trung bình, có xu hướng cải thiện trong các năm 2024–2025 gần đây rõ rệt hơn.
Ngược lại, TP.HCM và Cần Thơ thuộc nhóm trung bình thấp, điểm số không quá yếu nhưng thứ hạng biến động mạnh. Đáng chú ý, Sóc Trăng có điểm ngữ văn cao hơn Cần Thơ và Hậu Giang. Điều này phản ánh đặc trưng đô thị lớn, nơi thí sinh đông, phân hóa cao và nhiều học sinh không đặt nặng kỳ thi tốt nghiệp THPT.
Riêng Đà Nẵng (cũ), điểm trung bình 5 năm chỉ hơn 6 điểm, thấp nhất; thứ hạng hầu như luôn nằm ở nhóm cuối của cả nước, và năm 2025 rơi xuống vị trí 63/63.
Để đảm bảo tính so sánh tương đồng, giá trị trung bình của nhóm được xác định bằng trung bình cộng điểm trung bình môn ngữ văn của 12 địa phương theo từng năm; trong khi đó, trung bình cả nước được tính bằng trung bình cộng điểm trung bình của 63 tỉnh, thành. Dữ liệu điểm thi và thứ hạng môn ngữ văn 12 địa phương thể hiện ở bảng sau.
Bức tranh điểm trung bình và xếp hạng môn ngữ văn năm 2025 của 6 thành phố trực thuộc T.Ư sau sáp nhập cho thấy sự phân hóa khá rõ.
Hà Nội giữ vị trí cao với 7,62 điểm, xếp 3/34, nhờ không thay đổi địa giới, bảo đảm sự ổn định về đội ngũ và cách đánh giá. Cần Thơ sau khi sáp nhập Hậu Giang và Sóc Trăng đạt 7,23 điểm, xếp 5/34; Huế với điểm trung bình 7,18 điểm, xếp 7/34, vẫn phát huy truyền thống dạy – học ngữ văn.
TP.HCM sáp nhập Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu đạt 7,07 điểm, xếp 9/34; Hải Phòng sáp nhập Hải Dương đạt 7,03 điểm, xếp 10/34.
Riêng Đà Nẵng sau khi sáp nhập với Quảng Nam chỉ đạt 6,26 điểm, xếp 33/34. Kết quả này vừa phản ánh sự chênh lệch vùng miền, vừa gợi lại tranh luận về cách chấm ngữ văn ở Đà Nẵng vốn được cho là nghiêm và chặt.
Một trong những nguyên nhân cốt lõi khiến chất lượng ngữ văn ở các thành phố không cao nằm ở sự thay đổi trong việc ưu tiên trong học tập. Trong nhiều năm, các đô thị lớn tập trung mạnh vào ngành nghề STEM, công nghệ, ngoại ngữ, kỹ năng số và hội nhập quốc tế. Đây là lựa chọn hợp lý trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số nhưng hệ quả không mong muốn là ngữ văn dần bị đẩy xuống vị trí thứ yếu.
Với không ít học sinh thành phố, ngữ văn trở thành môn chỉ cần "đủ điểm tốt nghiệp", không phải môn quyết định tương lai. Khi động lực học tập không cao, kết quả trung bình khó có thể bứt phá, đặc biệt trong một kỳ thi ngày càng coi trọng năng lực đọc hiểu và nghị luận xã hội, thể hiện ý kiến cá nhân về một vấn đề nào đó.
Với trường hợp Đà Nẵng, thành phố này không chỉ được biết đến với sự quan tâm cho giáo dục mà còn nổi bật bởi văn hóa thi cử nghiêm túc, kỷ cương. Tuy nhiên, điểm thi môn ngữ văn thấp gần đây làm dấy lên nhiều tranh luận. Một số ý kiến cho rằng cách chấm thi còn chặt, thiên về "ý chuẩn", ít linh hoạt với bài viết sáng tạo. Ý kiến khác lại nhìn nhận học sinh chưa đầu tư đúng mức cho môn văn khi xu hướng lựa chọn các ngành STEM ngày càng mạnh.
Những nhận định này cần được nhìn nhận thận trọng nhưng có cơ sở. Đà Nẵng vốn đề cao sự chuẩn mực, rõ ràng trong quản lý – điều phù hợp với các lĩnh vực khoa học, công nghệ. Nhưng với ngữ văn, môn học đòi hỏi tư duy mở và cá tính, cách chấm quá khuôn mẫu có thể khiến những bài viết sáng tạo bị đánh giá thấp.
Từ năm 2025, khi đề thi ngữ văn không còn bám sách giáo khoa, tăng yêu cầu đọc hiểu và bày tỏ chính kiến, hạn chế này càng bộc lộ rõ. Chấm mở không đồng nghĩa với chấm dễ, mà đòi hỏi bản lĩnh nghề nghiệp và sự đổi mới tư duy của giáo viên.
Cũng cần nhấn mạnh rằng điểm thi thấp không đồng nghĩa học sinh Đà Nẵng yếu. Đây là địa phương có tỷ lệ học sinh theo học chương trình chất lượng cao, quốc tế khá lớn, nên ít tập trung vào bài thi ngữ văn theo chuẩn quốc gia. Dù vậy, trong bối cảnh hội nhập, năng lực ngôn ngữ và viết vẫn là nền tảng quan trọng cho học tập và phát triển lâu dài.
Trong khi đó, Hà Nội và Hải Phòng, cũng là những đô thị lớn, nhưng vẫn duy trì được chất lượng ngữ văn khá ổn định.
Huế là ví dụ điển hình cho sự trở lại của "văn hóa học văn". Khi đề thi chuyển sang đánh giá năng lực đọc hiểu, Huế – với truyền thống nhân văn và chiều sâu văn hóa – đã cải thiện thứ hạng rõ rệt năm 2024, 2025. Điều này cho thấy đề thi mới không bất lợi cho đô thị, mà bất lợi cho nơi chưa coi trọng năng lực ngôn ngữ đúng mức.
Để nâng cao chất lượng môn ngữ văn, các thành phố cần thay đổi từ gốc, chứ không chỉ điều chỉnh kỹ thuật ôn thi hay chấm thi.
Trước hết, cần khẳng định ngữ văn là môn học công cụ, nền tảng cho tư duy phản biện, giao tiếp, hợp tác và sáng tạo – những năng lực cốt lõi của công dân toàn cầu. Ngữ văn không đối lập với STEM mà là môi trường để STEM vận hành hiệu quả. Ngữ văn cùng với toán là 2 trụ cột chính trong các tổ hợp tuyển sinh ĐH.
Thứ hai, cần đổi mới cách dạy theo hướng phát triển năng lực đọc – viết – nói – nghe, gắn với các vấn đề đương đại, liên ngành, toàn cầu. Học sinh phải được tranh luận, phản biện, trình bày chính kiến, thay vì chỉ học thuộc văn mẫu và phân tích tác phẩm.
Thứ ba, đổi mới cách chấm và đánh giá. Chấp nhận sự khác biệt có lý lẽ, khuyến khích lập luận độc lập, coi trọng cách diễn đạt sáng tạo. Đây là khâu khó nhất nhưng quyết định thành công của đề thi mở. Riêng Đà Nẵng, giải pháp then chốt là chuyển từ kỷ cương cứng sang kỷ cương mềm trong môn ngữ văn. Nghiêm túc không đồng nghĩa với khép chặt. Thành phố cần đầu tư bồi dưỡng giáo viên ngữ văn theo hướng giáo dục ngôn ngữ hiện đại, giúp họ tự tin đánh giá bài viết sáng tạo mà vẫn công bằng.
Cùng đó, đưa ngữ văn trở lại đúng vị thế trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực: coi năng lực diễn đạt, thuyết phục, phản biện là kỹ năng sống còn của công dân toàn cầu và trái tim bản sắc dân tộc Việt Nam.

