Theo Báo Quân Đội Nhân Dân, ngày 7.4, Bộ Quốc phòng tổ chức hội nghị triển khai nhiệm vụ sản xuất loạt xe chiến đấu bộ binh XCB-01 và xe thiết giáp chở quân chiến đấu XTC-02.
Theo Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, dự án xe XCB-01 đã chính thức hoàn tất thử nghiệm ở giai đoạn 2, với các chỉ tiêu kỹ chiến thuật đáp ứng nghiêm ngặt yêu cầu đề ra. Không chỉ dừng lại ở kết quả thử nghiệm, hiện nay mọi công tác chuẩn bị đã được kích hoạt đồng bộ từ hệ thống tài liệu kỹ thuật, dây chuyền công nghệ đến nguồn cung vật tư ổn định cả trong và ngoài nước.
Theo lộ trình, quy trình nghiệm thu cấp Bộ Quốc phòng sẽ hoàn tất vào tháng 4.2026. Đến nay, hàng chục xe đã được sản xuất đưa vào sử dụng thử nghiệm thực tế tại đơn vị và tham gia diễu binh, diễu hành tại Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2.9. Đây là bước kiểm chứng quan trọng nhất trước khi chuyển sang giai đoạn sản xuất hàng loạt.
Trong khi đó, dự án XTC-02, dòng xe thiết giáp chở quân chiến đấu cũng ghi nhận bước tiến đáng kể. Đây là công nghệ phức tạp, lần đầu tiên được nghiên cứu, chế tạo trong nước. Dự án XTC-02 sẽ hoàn tất phê duyệt lại cấu hình, tính năng kỹ chiến thuật và nghiệm thu tới đây với tiến độ sản xuất tương tự như dự án XCB-01.
Tại hội nghị, thượng tướng Phạm Hoài Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, yêu cầu Tổng cục Công nghiệp quốc phòng giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị chuẩn bị chu đáo mọi mặt để sản xuất loạt xe; các cơ quan, đơn vị liên quan phối hợp khẩn trương nghiệm thu xe XCB-01, XTC-02 cấp Bộ Quốc phòng xong trong tháng 4.2026; bảo đảm dây chuyền sản xuất chính quy, hiện đại, nguồn nhân lực, vật tư kỹ thuật… để sản xuất loạt trang bị cho các đơn vị.
Theo các thông tin đã được công bố, xe chiến đấu bộ binh XCB-01 được trang bị pháo chính cỡ 73 mm với 40 viên đạn, cùng súng máy song song PTK 7,62 mm với 2.000 viên đạn, súng máy phòng không 12,7 mm trên nóc tháp pháo với 200 viên đạn. Ngoài ra, xe có tên lửa chống tăng B72, pháo nòng trơn 72 ly.
Hỏa lực của xe XCB-01
ẢNH: ĐÌNH HUY
Xe có tốc độ tối đa tới 65 km/giờ, tốc độ bơi 7 km/giờ với động cơ 300 mã lực. Xe có thể leo dốc 30 độ, vượt nhiều địa hình khác nhau.
XCB-01 có 1 kíp lái gồm 3 người: 1 người lái xe, 1 trưởng xe và 1 pháo thủ để điều khiển các hỏa lực của xe. Ngoài ra, xe còn chở thêm 8 chiến sĩ bộ binh với trang thiết bị đầy đủ. Các chiến sĩ bộ binh khi được chở trên xe có thể cùng kíp lái của xe tăng cường hỏa lực để áp chế địch qua các hệ thống được cấp cho chiến sĩ bộ binh.
Ưu điểm của dòng xe này là tính cơ động rất cao, tốc độ rất lớn, chiến đấu ở mọi địa hình từ đồng bằng, đồi núi, dưới nước. Quá trình tác chiến, xe rất nhanh chóng chở bộ binh thọc sâu, chiếm lĩnh trận địa. Trong trường hợp bị bao vây, xe sẽ nhanh chóng tiếp ứng, thu hồi bộ binh an toàn nhất để đưa về hậu phương và sử dụng phương án tác chiến phù hợp hơn.
Khi xe bị chiếu xạ laser thì sẽ cảnh báo, khi bị địch tấn công thì có đạn khói bắn ra che khuất tầm nhìn của địch và các hệ thống tường nhiệt trong xe làm lệch hướng hệ thống đường đạn, đảm bảo an toàn cho xe trong quá trình hành quân.
Hỏa lực của xe XTC-02
Trong khi đó, xe thiết giáp chở quân XTC-02 dài 7,185 m, rộng 2,76 m, cao 2,225 m, có khoảng sáng gầm xe 400 mm. Xe được trang bị súng máy cao xạ 12,7 mm và đại liên 7,62 mm; kíp xe gồm 3 người và chở được 9 chiến sĩ, khối lượng chiến đấu 12,7 tấn.
Vận tốc lớn nhất mà XTC-02 đạt được ở đường nhựa là 95 km/giờ, vận tốc bơi lớn nhất là 12 km/giờ, có dự trữ hành trình lên đến 800 km.
Khả năng vượt vật cản của xe ở nơi có dốc đứng là 31 độ, sườn nghiêng 25 độ, vượt hào rộng 0,8 m, vượt vách đứng 0,4 m; vỏ xe được trang bị chống đạn 7,62 x 39 mm xuyên lõi thép; kính chống đạn 7,62 x 54 mm xuyên lõi hợp kim.
Xe dùng hợp số cơ khí, 9 số tiến, 1 số lùi; có hệ thống điều khiển hỏa lực tự ổn định cân bằng, bám bắt mục tiêu, bắn trong khi hành tiến cả ban ngày và ban đêm.
Phạm vi góc tầm âm 13 độ – 65 độ, phạm vi góc hướng 360 độ, bám bắt mục tiêu khi vận tốc xe nhỏ hơn hoặc bằng 30 km/giờ, bắn trúng mục tiêu với vận tốc xe nhỏ hơn 20 km/giờ.
Xe có hệ thống phát hiện và phòng, chống tác nhân hóa học, phóng xạ, hệ thống phát hiện và cảnh báo chiếu xạ laser, hệ thống chữa cháy tự động, phóng đạn khói. Ngoài ra, xe có đài vô tuyến điện VRU812S nhảy tần cấp chiến thuật sóng cực ngắn cùng bộ thông thoại nội bộ.
Ngày 8.4, trao đổi với PV Thanh Niên, ông Lê Văn Tài, Phó chủ tịch UBND phường Mỹ Thượng, cho biết sau khi xác minh việc một nam sinh bị chủ quán tạp hóa đóng trên địa bàn đánh liên tục vào mặt, công an xã đã mời các bên liên quan lên làm việc.
Qua xác minh ban đầu, sự việc xảy ra ngày (6.4), tại quán tạp hóa H.H ở phường Mỹ Thượng.
Theo nội dung clip trích xuất từ camera an ninh của quán này, trong lúc một nam học sinh đang uống nước, rồi tiến lại đứng gần tủ lạnh thì bất ngờ bị người đàn ông mặc áo vàng (chủ quán) liên tiếp đánh vào mặt.
Đáng chú ý, người đàn ông này đã tác động rất mạnh khiến nam sinh xây xẩm mặt mày, gần ngã xuống, khi có người vào can ngăn thì mới dừng lại. Đoạn clip sau khi lan truyền trên mạng xã hội đã thu hút nhiều lượt xem, đa phần đều để lại bình luận bày tỏ sự bức xúc.
Nam sinh trong đoạn clip trên là em N.H.T.Đ (13 tuổi, học sinh lớp 7 tại một trường THCS đóng trên địa bàn phường Mỹ Thượng). Theo lời kể của phụ huynh em Đ., cùng ngày, khi vừa tan học, em Đ. ghé quán tạp hóa này để mua nước. Uống xong, em Đ. tiến tới tủ lạnh gần đó để hỏi mua kem, thì bị nam chủ quán lao đến đánh liên tục vào mặt.
Sau khi đi học về, em Đ. có biểu hiện đau đầu và kể lại việc cho gia đình. Cùng ngày, gia đình em Đ. đã đến quầy tạp hóa này, tìm gặp chủ quán để làm rõ, đồng thời yêu cầu trích xuất camera xem lại sự việc. Quá trình đó, phụ huynh em Đ. đã quay lại đoạn clip trên và đăng lên mạng xã hội.
Cũng theo thông tin từ người nhà em Đ., ngày 7.4, gia đình đã đưa em Đ. đi khám tại Bệnh viện T.Ư Huế để thăm khám, tại đây em Đ. được chẩn đoán bị chấn động não.
Trao đổi với PV Thanh Niên, ông Lê Văn Tài, Phó chủ tịch UBND phường Mỹ Thượng, cho biết công an đang tiếp tục làm việc với người đàn ông đánh em Đ. và khi có thông tin sẽ cung cấp cụ thể.
Chiều 9.4, tại họp báo kinh tế - xã hội định kỳ trên địa bàn, ông Đỗ Diệp Gia Hợp, Phó trưởng phòng Bảo trì khai thác công trình giao thông (Sở Xây dựng TP.HCM) đã thông tin về số lượng căn hộ nhà ở xã hội trên địa bàn.
Theo ông Đỗ Diệp Gia Hợp, Chính phủ đã giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội cho TP.HCM giai đoạn 2026 - 2030 với tổng số 181.257 căn. Trong đó, riêng năm 2026 dự kiến phát triển 28.500 căn, năm 2027 khoảng 38.157 căn, các năm 2028 - 2030 mỗi năm khoảng 38.200 căn.
Theo đó, từ đầu năm 2026 đến nay, TP.HCM đã ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực trong phát triển nhà ở xã hội. Cụ thể, đã có 1 dự án hoàn thành với 580 căn hộ, 2 dự án khởi công với 2.656 căn, cùng với 12 dự án đang thi công với khoảng 10.277 căn.
Ngoài ra, thành phố dự kiến có thêm 3 dự án khởi công trước ngày 30.4.2026 với quy mô 4.600 căn, và 41 dự án khác sẽ khởi công trước ngày 30.6.2026 với khoảng 29.200 căn.
Đáng chú ý, trong giai đoạn 2026 - 2027, TP.HCM dự kiến hoàn thành 49 dự án với tổng quy mô khoảng 36.400 căn hộ, góp phần bổ sung đáng kể nguồn cung nhà ở xã hội.
"Nguồn cung về nhà ở xã hội đang ngày càng nhiều, đáp ứng được một phần nhu cầu của người dân thành phố", đại diện Sở Xây dựng đánh giá.
Bên cạnh việc phát triển dự án mới, TP.HCM cũng đang tìm giải pháp khai thác hiệu quả quỹ nhà tái định cư hiện có.
Đối với quỹ nhà tái định cư tại phường An Khánh, công trình đã hoàn thành từ năm 2015 nhưng đến nay một số hạng mục đã xuống cấp. Hiện UBND TP.HCM đã ban hành kế hoạch tổ chức đấu giá quỹ nhà này.
Sau khi có kết quả đấu giá, nhà đầu tư sẽ tiến hành kiểm định, đánh giá chất lượng, đồng thời sửa chữa, bổ sung tiện ích để đảm bảo an toàn trước khi đưa vào khai thác. Trong trường hợp phát sinh khó khăn, Sở Xây dựng sẽ hướng dẫn để đảm bảo quyền lợi và an toàn cho người sử dụng.
Đối với quỹ nhà, đất tái định cư còn bỏ trống, Sở Xây dựng cho biết hiện các căn hộ đã được phân bổ cho các đơn vị phục vụ công tác bồi thường, bố trí tái định cư cho người dân bị thu hồi đất.
Lãnh đạo TP.HCM đang chỉ đạo các địa phương và cơ quan liên quan đẩy nhanh tiến độ bồi thường, vận động người dân sớm nhận nhà, qua đó hạn chế tình trạng nhà tái định cư bị bỏ trống, gây lãng phí.
Giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Bí thư Thành ủy TP.HCM bác bỏ quan điểm cho rằng phụ nữ TP.HCM nói riêng, phụ nữ Việt Nam nói chung “lười sinh con”. Ông cho rằng đây là cách nhìn lệch bản chất, quy trách nhiệm cho phụ nữ thay vì nhìn thẳng vào những rào cản kinh tế - xã hội đang chi phối quyết định sinh con.
Ông nhận định phụ nữ hôm nay không quay lưng với thiên chức làm mẹ. Họ chỉ đang cân nhắc rất thực tế giữa khát vọng có con với áp lực cơm áo, nhà ở, công việc và chi phí nuôi dạy con: “Họ làm như vậy là đúng quy luật của cuộc sống hiện nay: không nuôi con được tử tế thì đừng sinh con, khác với quan niệm hơn 100 năm trước: trời sinh voi, trời sinh cỏ”.
Ông Nhân nhấn mạnh mức sinh thấp không phải do phụ nữ “lười sinh con”, mà vì nhiều gia đình chưa có đủ điều kiện tối thiểu để sinh và nuôi con tử tế.
Khi người lao động chưa có mức lương đủ sống - tức mức lương thấp nhất cho phép một gia đình có 2 người đi làm có thể nuôi 2 vợ chồng và 2 con đàng hoàng, cho con đi học đến 18 tuổi và học được một nghề - thì việc họ không sinh con hoặc chỉ sinh 1 con là điều dễ hiểu.
Ông phân tích, ở nhiều nước, chỉ khoảng 55 - 65% lao động đạt mức lương bằng hoặc cao hơn lương đủ sống; còn lại 35 - 45% ở dưới ngưỡng này. Với nhóm thu nhập đó, chuyện sinh và nuôi đủ hai con đến 18 tuổi gần như vượt quá khả năng. Khi thu nhập không theo kịp chi phí nhà ở, giáo dục, y tế và sinh hoạt, lựa chọn trì hoãn sinh con hoặc không sinh thêm không phải là sự ích kỷ, mà là một tính toán hợp lý.
Theo ông Nhân, phụ nữ còn bị ràng buộc bởi bất bình đẳng giới: thời gian làm việc kéo dài, gánh nặng việc nhà và chăm con vẫn chủ yếu dồn lên vai phụ nữ. Cùng với đó là nỗi lo việc làm bấp bênh, thu nhập tăng chậm, kết hôn muộn, sinh con muộn và môi trường lao động ở nhiều nơi chưa thật sự thân thiện với phụ nữ sinh con, nuôi con.
Dẫn lại khảo sát tại Nhật Bản, ông Nhân cho biết khi hôn nhân và sinh con đi kèm gánh nặng việc nhà, chăm con, chăm sóc cha mẹ lớn tuổi và nguy cơ ảnh hưởng con đường nghề nghiệp, nhiều phụ nữ sẽ suy giảm động lực kết hôn, sinh con. Bản chất của hiện tượng ấy không phải là “lười sinh con”, mà là phản ứng trước những áp lực xã hội và bất bình đẳng giới tích tụ trong thời gian dài.
Từ những phân tích đó, ông Nhân nhấn mạnh, đừng hỏi vì sao phụ nữ “lười sinh con”, mà phải hỏi vì sao xã hội vẫn chưa tạo đủ điều kiện để họ yên tâm sinh con.
Giáo sư Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh, nếu không giải được bài toán thu nhập thì rất khó kỳ vọng người dân sinh đủ 2 con, dù có thêm nhiều biện pháp hỗ trợ khác.
Ông phân tích, năm 2023, lương tối thiểu ở TP.HCM khoảng 4,96 triệu đồng/tháng; lương đủ sống khoảng 10 triệu đồng/tháng - tức cao gấp 2,14 lần lương tối thiểu. Khoảng cách này cho thấy mức lương sàn hiện nay về cơ bản chỉ đủ để một người lao động tự nuôi bản thân, không thể nuôi con cái.
Ông nhận định, muốn một gia đình đạt mức sinh thay thế (tức sinh đủ 2 con) thì mỗi người đi làm phải đạt mức lương đủ sống, nghĩa là một cặp vợ chồng cần tổng thu nhập khoảng 20 triệu đồng/tháng mới có cơ sở nuôi 2 con đến tuổi trưởng thành.
Để làm rõ vai trò của tiền lương, giáo sư dẫn số liệu tuyển dụng tại TP.HCM giai đoạn 2021 - 2024. Phần lớn việc làm vẫn tập trung ở nhóm thu nhập thấp, trong khi số vị trí có thu nhập cao chiếm tỷ lệ không nhiều. Từ mặt bằng lương đó, ông ước tính số con bình quân mà lực lượng lao động này có thể sinh và nuôi chỉ khoảng 1,4 - 1,45 con.
Đáng chú ý, mức sinh thực tế của TP.HCM từ 2021 - 2024 cũng chỉ quanh ngưỡng 1,4 con/phụ nữ. Theo ông Nhân, sự trùng khớp này cho thấy rất rõ: khi thu nhập chưa đạt mức lương đủ sống cho một gia đình 4 người, thì mức sinh của địa phương rất khó tăng.
Bên cạnh đó, giáo sư cho biết TP.HCM đang nỗ lực giải quyết tình trạng mức sinh thấp. Theo đó, thành phố đã triển khai chính sách hỗ trợ 5 triệu đồng cho phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi; đồng thời hỗ trợ 2 triệu đồng cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh thuộc hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, người sống tại xã đảo khi thực hiện tầm soát trước sinh và sơ sinh.
Theo ông, đây là sự khích lệ cần thiết. Tuy vậy, để cải thiện mức sinh một cách bền vững, cần đồng thời tiếp tục hoàn thiện các giải pháp nền tảng, nhất là những vấn đề đang tác động trực tiếp đến quyết định sinh con của người dân.
Từ kinh nghiệm của những nước có mức sinh thấp kéo dài như Nhật Bản, Hàn Quốc, ông chỉ ra nhiều quốc gia đã chi rất lớn để khuyến khích kết hôn, sinh con nhưng mức sinh vẫn tiếp tục giảm. Theo ông, nguyên nhân là người trẻ vẫn phải đối mặt với hàng loạt rào cản: thu nhập không đủ nuôi 2 con, giá nhà quá cao, thiếu trường mầm non công lập, bất bình đẳng giới trong việc nhà và môi trường lao động chưa thân thiện với phụ nữ có con.
Ở chiều ngược lại, tại Indonesia, khi lo ngại mức sinh ở các đô thị lớn như Jakarta đã xuống 1,8 và có nguy cơ giảm sâu thì Indonesia bắt đầu triển khai hàng loạt chính sách thân thiện với gia đình.
Indonesia đã phát triển 3.700 trung tâm gia đình bền vững để tư vấn làm cha mẹ, khuyến khích người cha chia sẻ chăm con và việc nhà, hỗ trợ bữa ăn miễn phí cho trẻ nhỏ và học sinh, đơn giản hóa thủ tục tiếp cận chính sách gia đình… Đồng thời, thúc đẩy chương trình xây 3 triệu căn nhà mỗi năm để giảm áp lực nhà ở cho người trẻ.
Từ những kinh nghiệm đó, giáo sư Nhân cho rằng muốn thay đổi mức sinh một cách bền vững thì không thể chỉ dừng ở hỗ trợ ngắn hạn, mà phải tạo được nền tảng sống đủ vững cho người trẻ: thu nhập đủ sống, nhà ở phù hợp, dịch vụ giữ trẻ, an sinh y tế - xã hội và môi trường làm việc thân thiện với phụ nữ sinh con, nuôi con.