Mục Lục
ToggleTrao đổi với PV Thanh Niên, một lãnh đạo Công ty TNHH Nhiệt điện Vũng Áng II (VAPCO) xác nhận tổ máy số 2 (công suất hơn 600 MW) đã hoàn tất các quy trình thử nghiệm kỹ thuật khắt khe, đảm bảo vận hành ổn định trước khi chính thức hòa lưới điện thương mại.
Như vậy, sau gần 5 năm thi công (khởi công từ 2021), cả 2 tổ máy với tổng công suất hơn 1.300 MW đã hoàn thiện, sẵn sàng cung ứng nguồn điện cho hệ thống điện quốc gia.
Đáng chú ý, đây là dự án sử dụng công nghệ lò hơi “trên siêu tới hạn” (USC), công nghệ hiện đại bậc nhất đối với các nhà máy nhiệt điện than tại Việt Nam hiện nay. Ưu điểm vượt trội của công nghệ này là tối ưu hóa hiệu suất, giảm thiểu tiêu hao nhiên liệu, từ đó cắt giảm đáng kể phát thải ra môi trường.
Ông Hoàng Trọng Bính, Phó tổng giám đốc VAPCO, cho hay sau thành công của tổ máy số 1 (vận hành từ tháng 7.2025), tổ máy số 2 tiếp tục đạt các thông số kỹ thuật và công suất tin cậy theo đúng hợp đồng mua bán điện.
Dự án Nhiệt điện Vũng Áng II được thực hiện theo hình thức BOT, là công trình năng lượng cấp quốc gia trọng điểm tại Khu kinh tế Vũng Áng (P.Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh). Khi đi vào vận hành toàn bộ, dự án không chỉ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng mà còn tạo việc làm cho hàng trăm lao động trình độ cao, thúc đẩy các dịch vụ vệ tinh và đóng góp lớn cho ngân sách tỉnh Hà Tĩnh.

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 80 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW (Nghị quyết 06) ngày 24.1.2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị VN đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; và Kết luận số 224-KL/TW ngày 8.12.2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 06. Theo đó, Chính phủ cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã nêu gắn với kế hoạch tổ chức thực hiện theo lộ trình cụ thể.
Tại Nghị quyết 06, Bộ Chính trị đã nhận định thời gian qua, tỷ lệ đô thị hóa xác định theo địa bàn có chức năng đô thị đã tăng từ 30,5% năm 2010 lên gần 40% năm 2020. Đô thị hóa và phát triển đô thị trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Kinh tế khu vực đô thị tăng trưởng ở mức cao, đóng góp khoảng 70% GDP cả nước. Bước đầu đã hình thành cực tăng trưởng kinh tế và trung tâm đổi mới sáng tạo; khoa học, công nghệ; giáo dục, đào tạo tại các đô thị lớn, nhất là tại thủ đô Hà Nội và TP.HCM. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị vẫn còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ đô thị hóa đạt được thấp hơn mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và còn khoảng cách khá xa so với tỷ lệ bình quân của khu vực và thế giới. Chất lượng đô thị hóa chưa cao, phát triển đô thị theo chiều rộng là chủ yếu, gây lãng phí về đất đai, mức độ tập trung kinh tế còn thấp. Kết cấu chất lượng, hạ tầng đô thị chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển dân số và kinh tế khu vực đô thị; chưa thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng phó với dịch bệnh quy mô lớn. Khả năng tiếp cận dịch vụ công và phúc lợi xã hội của người nghèo và lao động di cư tại đô thị còn thấp và nhiều bất cập…
Bộ Chính trị nhấn mạnh: đô thị hóa là yếu tố khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững trong thời gian tới. Do đó cần phải đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng đô thị hóa, phát triển đô thị bền vững theo mạng lưới, hình thành một số đô thị, chuỗi đô thị động lực thông minh kết nối khu vực và thế giới… Những mục tiêu cụ thể đã được nêu rõ như phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc đến năm 2030 đạt trên 50%. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của các đô thị trực thuộc T.Ư đạt bình quân 35 - 40% vào năm 2030. Xây dựng được mạng lưới đô thị thông minh trung tâm cấp quốc gia và cấp vùng kết nối quốc tế và 3 - 5 đô thị có thương hiệu được công nhận tầm khu vực và quốc tế vào năm 2030. Mục tiêu xa hơn với tầm nhìn đến năm 2045, tỷ lệ đô thị hóa thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á; xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế. Cơ cấu kinh tế khu vực đô thị phát triển theo hướng hiện đại với các ngành kinh tế xanh, kinh tế số chiếm tỷ trọng lớn.
Ủng hộ mục tiêu phát triển đô thị tại VN theo Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị và chương trình hành động của Chính phủ, KTS Ngô Viết Nam Sơn khẳng định: theo kinh nghiệm quốc tế lẫn lịch sử của VN, phát triển đô thị, tăng trưởng đô thị song hành với tăng trưởng kinh tế - xã hội nói chung của đất nước. Những nước phát triển đều có tỷ lệ đô thị hóa cao. Không chỉ thúc đẩy phát triển đô thị mà mục tiêu của Đảng, Chính phủ đưa ra còn là xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh, bền vững là rất đúng đắn. Chúng ta cần kiên định, quyết tâm thực hiện mục tiêu này; khi đó sẽ đóng góp lớn cho việc đạt mục tiêu đưa kinh tế VN phát triển cao, thực chất, bền vững.
Theo TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TP.HCM, thực tế cho thấy đô thị hóa luôn gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Các đô thị lớn không chỉ là trung tâm kinh tế mà còn là nơi hội tụ nguồn lực chất lượng cao, đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái dịch vụ. Tỷ lệ đô thị hóa của VN hiện vẫn thấp hơn nhiều nước trong khu vực, đồng nghĩa với dư địa phát triển còn lớn. Khi được quy hoạch và quản lý hiệu quả, quá trình đô thị hóa sẽ tạo ra các cực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và thu hút đầu tư nước ngoài.
"Việc đặt mục tiêu ở mức "trung bình cao" trong khu vực cũng được xem là lựa chọn hợp lý, tránh rơi vào tình trạng phát triển nóng nhưng thiếu bền vững", TS Thuận nhận định và cho rằng mục tiêu xây dựng ít nhất 5 đô thị tầm cỡ quốc tế không chỉ mang ý nghĩa hình ảnh mà đòi hỏi các tiêu chuẩn khắt khe về hạ tầng, kinh tế và môi trường sống. Đây phải là những đô thị có hệ thống giao thông, năng lượng và hạ tầng số đồng bộ, đóng vai trò trung tâm tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo của khu vực; đồng thời có sức cạnh tranh toàn cầu về chất lượng sống và làm việc. Những đô thị như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh được đánh giá có tiềm năng trở thành các "đầu tàu" nếu được đầu tư đúng hướng. Quan trọng hơn, các đô thị này sẽ đóng vai trò lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển của các vùng vệ tinh, góp phần giảm áp lực dân số và hạ tầng cho các trung tâm hiện hữu.
Đồng quan điểm, TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Hùng Vương, nhấn mạnh định hướng của Nghị quyết 80 là hoàn toàn xác đáng trong bối cảnh đô thị hóa đang trở thành động lực cốt lõi của tăng trưởng. Hiện tỷ lệ đô thị hóa của VN đạt khoảng 44 - 45%, nhưng khu vực đô thị đã đóng góp tới 70 - 75% GDP, cho thấy chất lượng đô thị quan trọng hơn tốc độ đô thị hóa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy đô thị hóa thành công không đến từ việc mở rộng mà từ tích hợp. Nhìn ra thế giới, những quốc gia đô thị hóa thành công đều đi theo một mô hình chung là đô thị hóa không phải là mở rộng đất đai, mà là tổ chức lại không gian kinh tế và dân cư một cách hiệu quả. Như tại Hàn Quốc, quá trình phát triển Seoul, vùng thủ đô, không chỉ là mở rộng đô thị mà là quy hoạch vùng tích hợp giao thông - việc làm - nhà ở, với hệ thống metro và đô thị vệ tinh phát triển đồng bộ.
Ở Singapore, dù diện tích hạn chế, nhưng quốc gia này vẫn trở thành đô thị toàn cầu nhờ quản trị quy hoạch cực kỳ kỷ luật, phát triển nhà ở xã hội quy mô lớn và kiểm soát chặt sử dụng đất. Hay tại Trung Quốc, các đô thị như Thâm Quyến chỉ mất 30 năm để vươn tầm quốc tế, nhưng nền tảng là đầu tư hạ tầng quy mô lớn và cơ chế đặc thù vượt trội. Ông nhấn mạnh: Nghị quyết 80 đã đưa ra một tầm nhìn dài hạn, phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu và điều kiện của VN. Việc hướng đến các đô thị tầm cỡ quốc tế không phải là tham vọng xa vời, mà là bước đi cần thiết để nâng cao vị thế quốc gia. Vấn đề còn lại là triển khai như thế nào để biến mục tiêu thành hiện thực. Nếu làm tốt, đô thị hóa sẽ không chỉ là câu chuyện của hạ tầng và dân số, mà sẽ trở thành động lực cốt lõi đưa VN tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Nghị quyết 80 của Chính phủ đã đề ra hàng loạt nhiệm vụ cụ thể, giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành, thành phố trực thuộc T.Ư để thực hiện việc phát triển đô thị. KTS Ngô Viết Nam Sơn nhận xét VN đang đi đúng hướng nhưng tốc độ đi nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào sự cố gắng, hợp tác nói chung từ cơ quan quản lý nhà nước đến người dân. Hiện nay cả nước đã thực hiện thay đổi về bộ máy chính quyền còn 2 cấp, sáp nhập tỉnh thành, tinh giản bộ máy hành chính; điều này góp phần tăng tính hiệu quả hơn trong chọn lọc phát triển đô thị. Vì vậy, cần đánh giá lại tổng quan kế hoạch, cách nhìn đô thị hóa (chẳng hạn về số lượng đô thị sẽ có sự thay đổi). Đồng thời, Chính phủ cần tập trung phát triển hạ tầng; thực hiện cơ chế hợp tác công - tư, kể cả hợp tác quốc tế để xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh; từ đó khuyến khích phát triển các mô hình mới như đô thị sân bay, khu thương mại tự do, khu đô thị dọc theo các tuyến metro (TOD)…
"Chúng ta đặt ra mục tiêu đúng là phải phát triển đô thị hiện đại, bền vững nghĩa là phát triển nhưng phải đánh giá tác động môi trường và điều chỉnh về tác động trong giới hạn cho phép. Khi phát triển đúng theo định hướng này thì các nguy cơ đã từng có ở các đô thị trước đây như ô nhiễm, kẹt xe, ngập nước… sẽ không còn. Đây chính là đảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân trong đô thị, song hành với mục tiêu phát triển kinh tế cao, thực chất, bền vững của VN đến năm 2045", KTS Ngô Viết Nam Sơn chia sẻ.
Trong khi đó, để đạt mục tiêu đến năm 2045, TS Trần Việt Anh cho rằng VN cần chuyển mạnh sang mô hình đô thị hóa thế hệ mới, trong đó quy hoạch vùng đóng vai trò trung tâm thay vì phát triển cục bộ từng địa phương. Các cực tăng trưởng như TP.HCM và Hà Nội cần được đặt trong tổng thể vùng đô thị mở rộng, tăng cường liên kết với các địa phương lân cận. Cùng với đó, hạ tầng cần đi trước một bước, đặc biệt là hệ thống metro, vành đai, cao tốc và logistics, những yếu tố được xem là "xương sống" của quá trình đô thị hóa. Thể chế cũng phải đủ mạnh và linh hoạt để tạo điều kiện cho các cơ chế đặc thù về tài chính, đất đai và đầu tư, tương tự kinh nghiệm của các đô thị quốc tế.
Một trụ cột khác là phát triển đô thị gắn với kinh tế tri thức, nơi không chỉ cung cấp không gian sống mà còn là trung tâm tài chính, công nghệ, giáo dục và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, yếu tố bền vững phải trở thành tiêu chuẩn bắt buộc, với yêu cầu về đô thị xanh, thông minh và thích ứng biến đổi khí hậu.
TS Phạm Viết Thuận lưu ý để hiện thực hóa mục tiêu này, thách thức đầu tiên nằm ở bài toán quy hoạch và quản trị đô thị. Bên cạnh đó, việc xây dựng các đô thị tầm cỡ quốc tế đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, trong khi ngân sách còn hạn chế. Do đó, việc huy động nguồn lực xã hội hóa, đặc biệt từ khu vực tư nhân và dòng vốn đầu tư nước ngoài, sẽ đóng vai trò then chốt. Yếu tố con người và công nghệ cũng được nhấn mạnh, bởi đô thị hiện đại không chỉ là sự phát triển của hạ tầng vật chất mà còn là nơi vận hành bởi nguồn nhân lực chất lượng cao cùng hệ thống quản trị thông minh.
Hơn nữa, mục tiêu đô thị hóa không nên chỉ dừng ở tỷ lệ, mà cần hướng đến chất lượng với các tiêu chí về đô thị xanh, thích ứng biến đổi khí hậu, mở rộng không gian công cộng, bảo tồn bản sắc và đảm bảo tiếp cận nhà ở, dịch vụ cơ bản cho mọi tầng lớp.

Trong những năm vừa qua, BAF đang tích cực mở rộng trang trại chăn nuôi heo tại các tỉnh Nam Trung bộ và Tây nguyên. Nhà máy cám Bình Định khi đi vận hành sẽ cung ứng thức ăn chăn nuôi chủ yếu cho hệ thống trang trại của BAF tại khu vực này.
Cùng với 2 nhà máy khác đang đặt tại Tây Ninh phục vụ cho miền Nam và Nghệ An cho miền Bắc, việc vận hành thêm 1 nhà máy cám mới không chỉ là sự mở rộng về quy mô - hạ tầng, mà còn cho thấy chiến lược có tính hệ thống "trang trại ở đâu, nhà máy thức ăn mở rộng đến đó" của BAF.
Theo đại diện BAF, đối với chăn nuôi, chi phí sản xuất thức ăn chăn nuôi chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu giá thành sản phẩm đầu ra (thịt). Việc đặt nhà máy cám tại khu vực gần các trang trại giúp doanh nghiệp rút ngắn khoảng cách vận chuyển và các chi phí logistics khác, từ đó tối ưu về mặt quản trị vận hành và chi phí sản xuất.
Quan trọng hơn, nhà máy cho phép BAF chủ động nguồn thức ăn cho các trang trại trong khu vực, không phụ thuộc vào các nguồn cung thương mại từ bên ngoài, đảm bảo tính liên tục, ổn định và đồng nhất về mặt chất lượng trong quá trình chăn nuôi. Bên cạnh đó, miền Trung - Tây nguyên cũng là khu vực gặp khó khăn hơn về mặt vận chuyển với đặc thù địa hình và hạ tầng giao thông. Vì vậy, việc sở hữu nhà máy tại địa trí phù hợp không chỉ giúp giảm chi phí mà còn tăng khả năng phản ứng nhanh với nhu cầu thực tế từ hệ thống trang trại.
Sau khi đưa nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi Bình Định vào vận hành, BAF sẽ nâng tổng mức công suất tối đa của 3 nhà máy cám lên tương đương 750.000 tấn/năm. Trong đó, 2 nhà máy Tây Ninh và Nghệ An đã được cấp chứng nhận GLOBAL G.A.P. (Bộ tiêu chuẩn quốc tế về an toàn vệ sinh thực phẩm, quy trình sản xuất, và phát triển bền vững toàn cầu) và FSSC 22000 (Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm toàn diện).
Nhà máy Bình Định cũng đang được đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng hiện đại, chuyển đổi số, quản trị trên nền tảng công nghệ SAP ERP và vận hành sản xuất dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế đồng bộ với toàn hệ thống.
Trong mô hình phát triển Feed - Farm - Food, thức ăn chăn nuôi không đơn thuần là yếu tố đầu vào của vật nuôi, mà là nền tảng quyết định đến năng suất, chất lượng thành phẩm và hiệu quả kinh tế của toàn chuỗi sản xuất. Với BAF, an toàn thực phẩm chính là kết quả của toàn chuỗi vận hành hiệu quả, và Feed (sản xuất thức ăn chăn nuôi) chính là một mắt xích khởi đầu không thể thiếu, được doanh nghiệp đầu tư theo hướng chủ động và kiểm soát chặt chẽ.
Cụ thể, chủ động thông qua việc BAF tự nghiên cứu và phát triển công thức cám thuần thực vật, thay vì sử dụng các công thức thương mại sẵn có trên thị trường. Thành phần sử dụng trong cám thuần thực vật của BAF loại bỏ hoàn toàn các nguyên liệu từ động vật, thay bằng các nguyên liệu thực vật giàu dinh dưỡng như ngô, lúa mì, lúa mạch, khô dầu đậu nành, dầu cám gạo… kết hợp cùng khoáng hữu cơ, các axit amin thiết yếu giúp vật nuôi tăng khả năng hấp thu, tăng miễn dịch tự nhiên, hỗ trợ tiêu hóa hoạt động hiệu quả và giảm các nguy cơ bệnh tật.
Công thức được xây dựng bám sát với nhu cầu thực tế từ hệ thống trang trại giúp kiểm soát chất lượng theo một tiêu chuẩn đồng bộ và linh hoạt điều chỉnh dinh dưỡng phù hợp. Song song đó, doanh nghiệp cũng thiết lập quy trình kiểm soát nghiêm ngặt đối với nguyên liệu đầu vào. Từ khâu lựa chọn, kiểm định đến bảo quản, tất cả đều được thực hiện theo tiêu chuẩn nhằm đảm bảo độ an toàn và tính đồng nhất của sản phẩm thức ăn chăn nuôi.
Chiến lược dinh dưỡng cám không chỉ dừng lại ở bài toán chi phí, mà còn gắn trực tiếp với mục tiêu tạo ra nguồn thực phẩm sạch và an toàn cho thị trường. Khi thức ăn chăn nuôi được kiểm soát chặt chẽ từ đầu vào, sức khỏe vật nuôi cũng được đảm bảo, tạo nền tảng cho các sản phẩm thịt đạt tiêu chuẩn cao hơn khi đến tay người tiêu dùng.
Ngành nông nghiệp Việt Nam đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa, minh bạch về quy trình sản xuất, nguồn gốc sản phẩm, có tính quyết định trong việc nâng cao giá trị sản phẩm và củng cố niềm tin của thị trường. Từ việc xây dựng nền tảng năng lực sản xuất theo vùng đến chủ động kiểm soát dinh dưỡng và chất lượng đầu vào, BAF đang từng bước xây dựng một hệ thống vận hành đồng bộ và bền vững.

Sáng 6.4, ông Nguyễn Văn Út, tài xế Grab Bike vừa chở khách vừa kể: "Nắng quá chịu khổng nổi, nắng suốt từ 7 giờ sáng tới 16 giờ chiều, rát mặt". Để chống trọi với thời tiết gay gắt này, ông chuẩn bị sẵn bình nước 2 lít để dưới chân, khi nào hết sẽ ghé lại các bình nướcm miễn phí ngoài đường để tiếp thêm. Trước xe, ông trang bị quạt mini tản nhiệt, dù chống nắng che cho điện thoại. "Buổi trưa tôi phải dội nước lên mặt dù có khăn giữ ẩm vì điện thoại lúc nào cũng nóng ran như muốn nổ", ông Út kể.
Không chỉ ông Út, nhiều tài xế cũng mua mũ nón, dù mini để che điện thoại. Thiết bị gắn liền với công việc của các tài xế công nghệ luôn trong trạng thái hoạt động hết công suất, nhiều người vừa xài vừa phải sạc liên tục khiến cho máy rất nóng.
Chạy xe trên đường những ngày này, dễ dàng cảm nhận nắng rát lưng, rát mặt từ sáng sớm, đặc biệt là những người liên tục phải làm việc ngoài trời. "Các tài xế lớn tuổi rất dễ ngất xỉu, kiệt sức khi chạy xe ngoài đường, đặc biệt vào thời điểm buổi trưa", ông Út kể.
Ngay cả những tài xế trẻ, sức khỏe tốt cũng ám ảnh chạy ngoài trời. Anh Nguyễn Lê Nguyên Bình (22 tuổi, sinh viên năm cuối ngành điện tử trường ĐH Tôn Đức Thắng) chia sẻ: "Mấy nay nắng quá, em chạy không nổi nên chỉ chạy xe từ 16 giờ chiều tới 23 giờ về nghỉ. Buổi sáng quá đuối". Chạy xe công nghệ từ năm 1 đại học, Bình cho biết cân đối việc làm thêm và học tập, vì năm cuối là thời điểm quan trọng để chuẩn bị tốt nghiệp. "Có hôm về say nắng nằm mất 2 ngày, không làm được gì", nam tài xế kể.
Mới cuối tháng 3 đầu tháng 4 nhưng khu vực miền Bắc và Trung đã xuất hiện nắng nóng gay gắt. Theo Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia (NCHMF), nắng nóng gay gắt với mức nhiệt 37 - 38 độ C đã xuất hiện nhiều nơi. Từ đầu tuần này, nắng nóng còn gia tăng trên khắp Nam bộ; TP.HCM và các tỉnh miền Đông trở thành 'chảo lửa' với nhiệt độ cao nhất lên tới 38 độ C, nhiệt cảm lên hơn 40 độ C.
Anh Tấn Tài, 35 tuổi, chuyên viên bất động sản kể: Hôm qua, anh chạy từ phường An Khánh về phường Tân Hưng (quận 2 qua quận 7 cũ) để dẫn khách xem dự án bất động sản. Trời nóng 39 độ nên anh cảm giác lả người khi đi trên cầu Ba Son. "Tôi ráng chạy về, nếu dừng xe lại là ngất vì mệt. Về đến nhà nằm vật ra", anh than vãn.
Bảo vệ, nhân viên dọn vệ sinh là những người cũng cảm nhận rõ ràng hơi nóng rát mặt phả lên. Chị Tuyết, 28 tuổi, bán nước mía trên đường Dương Bá Trạc nói mặt đường phả hơi nóng gay gắt, dù lớn che cũng ngột ngạt, bù lại vài ngày qua chị bán được nhiều hơn.
Theo Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 4, nhiều khu vực Bắc và Trung bộ đã xuất hiện nắng nóng gay gắt, có nơi 37-38°C. Tại Nam bộ, nắng nóng tiếp tục gia tăng từ đầu tuần, TP.HCM và các tỉnh miền Đông có thể đạt mức 38°C.
Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam bộ cũng dự báo nắng nóng sẽ còn kéo dài trong những ngày tới, gia tăng vào giữa tuần. TP.HCM có thể đạt mức cao nhất 37°C; Đồng Nai, Tây Ninh lên tới 38°C. Nắng nóng cũng mở rộng sang miền Tây, trong đó Đồng Tháp, An Giang có thể đạt 37°C, còn Vĩnh Long, Cần Thơ khoảng 36°C, là mức cao nhất từ đầu mùa khô.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/tai-xe-cong-nghe-vat-lon-voi-nang-nong-gan-40-do-c-185260406105222671.htm

