Buổi sáng trong siêu thị, nhiều người dừng lại khá lâu ở quầy sữa. Trên kệ, những hộp sữa nguyên kem và sữa ít béo xếp ngay ngắn cạnh nhau. Có người chọn sữa ít béo vì tin rằng tốt cho tim mạch. Người khác lại thích vị béo ngậy, thơm ngọt của sữa nguyên kem và cho rằng “uống vậy mới đã”.
Đâu mới là lựa chọn đúng cho sức khỏe?
Trong nhiều thập niên, các hướng dẫn dinh dưỡng thường khuyến khích dùng sữa ít béo hoặc không béo thay cho sữa nguyên kem – vốn chứa nhiều chất béo bão hòa và thường bị xem là “không tốt cho sức khỏe”. Năm 2012, tại Mỹ sữa nguyên kem thậm chí đã bị loại khỏi thực đơn học đường.
Tuy nhiên gần đây Bộ trưởng Y tế Mỹ Robert F. Kennedy Jr. đã bày tỏ mong muốn đưa sữa nguyên kem trở lại. Báo cáo Make America Healthy Again cho rằng sữa nguyên kem là nguồn giàu canxi, vitamin D và các axit béo cần thiết.
Chế độ ăn nhiều chất béo bão hòa có thể làm tăng cholesterol LDL (“cholesterol xấu”), góp phần gây bệnh tim và đột quỵ. Một cốc sữa nguyên kem (240ml) chứa khoảng 5g chất béo bão hòa, trong khi sữa tách béo hầu như không có. Với chế độ ăn 2.000 calo/ngày, khuyến nghị chỉ nên nạp tối đa 13g chất béo bão hòa.
Vì lý do này, nhiều người hạn chế sữa nguyên kem. Nhưng các nghiên cứu gần đây cho thấy dù là sữa nguyên kem hay sữa ít béo thì nhìn chung cũng không làm tăng hay giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh tim.
“Điều này không có nghĩa sữa nguyên kem tốt hơn sữa ít béo, mà chỉ là nó không nguy hại như những dạng chất béo bão hòa khác trong khẩu phần ăn. Thậm chí sữa nguyên kem còn có thể mang lại vài lợi ích sức khỏe khác” – chuyên gia dinh dưỡng Bethany Doerfler (Viện Sức khỏe tiêu hóa Northwestern Medicine, Mỹ) chia sẻ.
Chất béo bão hòa có trong nhiều thực phẩm quen thuộc như thịt xông khói, bít tết, khoai tây chiên, kem, bơ, phô mai hay dầu dừa. Tuy nhiên không phải loại nào cũng tác động đến cơ thể theo cùng một cách.
“Sữa và các sản phẩm từ sữa chứa nhiều axit béo chuỗi ngắn và chuỗi trung bình – khác với loại chất béo bão hòa thường thấy trong thịt” – chuyên gia dinh dưỡng Caroline West Passerrello, người phát ngôn Học viện Dinh dưỡng và ăn kiêng Mỹ, giải thích.
Ngược lại, axit béo bão hòa chuỗi dài – phổ biến trong thịt chế biến sẵn và thịt mỡ – lại có liên hệ rõ rệt hơn với bệnh tim mạch. “Những bằng chứng mới cho thấy các sản phẩm sữa nguyên kem như sữa, sữa chua hay phô mai không làm tăng nguy cơ bệnh tim nhiều như bơ hay thịt mỡ”, Passerrello nói thêm.
Một yếu tố khác khiến nhiều người chọn sữa ít béo là lượng calo. Một cốc sữa nguyên kem (240ml) có khoảng 149 calo, trong khi sữa tách béo chỉ 91 calo.
“Sữa nguyên kem có thể cung cấp nhiều hơn khoảng 40-50 calo mỗi khẩu phần. Với những ai uống sữa nhiều lần trong ngày, việc theo dõi tổng năng lượng nạp vào rất quan trọng” – Doerfler lưu ý.
Tuy nhiên ngoài sự khác biệt về chất béo và calo, cả hai loại sữa đều tương đồng về dinh dưỡng: mỗi cốc cung cấp khoảng 300mg canxi và 8g protein – dưỡng chất cần thiết cho xương và cơ bắp khỏe mạnh.
Quyết định chọn sữa nguyên kem hay sữa ít béo phụ thuộc vào nhu cầu dinh dưỡng và sở thích cá nhân. Nếu yêu thích hương vị béo ngậy, bạn có thể chọn sữa nguyên kem, đồng thời điều chỉnh khẩu phần và hạn chế những món ăn giàu calo khác.
“Các sản phẩm sữa không chỉ giàu calo và chất béo mà còn chứa nhiều dưỡng chất như protein, canxi và phốt pho – giúp điều hòa huyết áp và mang lại nhiều lợi ích sức khỏe khi được dùng hợp lý” – Doerfler nhấn mạnh.
Nếu muốn hạn chế chất béo bão hòa từ sữa nguyên kem, hãy thay thế bằng các chất béo lành mạnh hơn như dầu ô liu, hải sản, quả bơ hay hạt bí ngô. Nghiên cứu cho thấy chính sự thay thế này mới là chìa khóa giảm nguy cơ bệnh tim mạch.
Khi nhiệt độ vượt 35 độ C, thực phẩm rất dễ trở thành môi trường cho vi khuẩn phát triển nhanh. Vì vậy, chú ý an toàn ăn uống và phòng ngộ độc thực phẩm là điều không thể xem nhẹ trong mùa nóng.
Theo thạc sĩ - bác sĩ Bùi Thị Duyên, phụ trách khoa Dinh Dưỡng, Bệnh viện Quân y 175, việc để thức ăn chín ở nhiệt độ phòng nhiều giờ là nguy cơ ngộ độc thực phẩm phổ biến. Nhiều nơi chế biến thực phẩm sẵn nhưng không bảo quản đúng cách, khiến vi khuẩn phát triển nhanh. Bên cạnh đó, nhiễm khuẩn chéo do dùng chung dao, thớt cho đồ sống - chín, hoặc để lẫn thực phẩm sống với đồ ăn liền trong tủ lạnh cũng làm tăng rủi ro mất an toàn thực phẩm.
“Nếu khâu kiểm soát nguyên liệu đầu vào không chặt chẽ, dẫn đến việc sử dụng thực phẩm đã ôi thiu, biến chất vì mục tiêu lợi nhuận hoặc chủ quan cũng sẽ vô tình tạo ra các ‘ổ’ vi khuẩn phát triển mạnh mẽ, trở thành nguồn gây ngộ độc”, bác sĩ Duyên cảnh báo.
Thạc sĩ - bác sĩ Võ Thị Tố Hi, Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Gia An 115, cho biết khoảng nhiệt độ 30 - 40°C thường được gọi là “vùng nguy hiểm” trong an toàn thực phẩm. Nhiều loại vi khuẩn có thể nhân đôi chỉ sau 20 - 30 phút, tức chỉ sau vài giờ, số lượng vi khuẩn có thể tăng lên hàng trăm đến hàng nghìn lần.
Do đó, mọi người cần lưu ý một nguyên tắc quan trọng: Thực phẩm chín không nên để ở nhiệt độ phòng quá 2 giờ; nếu nhiệt độ môi trường trên 32 - 35°C, thời gian này nên rút ngắn còn khoảng 1 giờ. Sau mốc này, nguy cơ vi khuẩn phát triển và sinh độc tố tăng lên rõ rệt. Đáng lưu ý, một số độc tố vi khuẩn không bị phá hủy hoàn toàn khi hâm nóng lại, nên việc “nấu lại cho kỹ” không đồng nghĩa với an toàn.
Các thực phẩm như hải sản, món nhiều nước, sữa hoặc thức ăn chế biến sẵn là nhóm dễ hư hỏng nhanh nhất trong thời tiết nắng nóng. Từ đó, bác sĩ Tố Hi lưu ý khi thực phẩm có dấu hiệu mùi lạ, nhớt, đổi màu hoặc vị bất thường, người dân không nên cố sử dụng lại.
Để chủ động phòng tránh ngộ độc thực phẩm trong mùa nắng nóng, bác sĩ Duyên khuyên người dân cần tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc vệ sinh an toàn thực phẩm sau:
Thực hiện “ăn chín, uống sôi”: Tuyệt đối không sử dụng thức ăn ôi thiu, hỏng mốc hoặc quá hạn sử dụng. Hạn chế tối đa các món gỏi sống, đồ tái trong mùa hè. Thực phẩm thừa cần được đun lại ở nhiệt độ trên 70 độ C trước khi ăn.
Vệ sinh tay: Rửa tay bằng xà phòng ít nhất 20 giây trước và sau khi chế biến thực phẩm, trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh. Giữ khu vực chế biến và vật dụng nấu nướng luôn sạch sẽ, khô ráo.
Bảo quản thực phẩm đúng cách: Thức ăn chín cần được đậy kín để tránh bụi và côn trùng. Nếu dùng tủ lạnh, phải sắp xếp ngăn nắp, tránh việc tích trữ quá tải dung tích tủ. Nhiệt độ ngăn mát nên giữ ở mức 5 độ C hoặc thấp hơn.
Lựa chọn thực phẩm an toàn: Ưu tiên thực phẩm có nguồn gốc rõ ràng, còn hạn sử dụng, không có mùi lạ hay màu sắc bất thường.
Bù nước và điện giải đúng cách: Uống đủ 1,5 - 2,5 lít nước/ngày tùy độ tuổi và mức độ hoạt động. Nên uống chậm, chia thành nhiều lần ngay cả khi không khát. Có thể dùng nước lọc, nước khoáng, nước dừa hoặc Oresol để bổ sung khoáng chất bị thất thoát qua mồ hôi.
Ngày 7/4, đại diện Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí cho biết người hiến tạng trên bị thương nặng sau tai nạn giao thông, Hội đồng chuyên môn chẩn đoán chết não.
Bệnh viện chuẩn bị 4 phòng mổ, huy động gần 100 y bác sĩ tham gia lấy - ghép tạng chiều 6/4, với sự phối hợp của các bác sĩ Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.
Trong đó, hai quả thận được ghép cho hai bệnh nhân tại Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí. Trái tim, hai lá gan, hai giác mạc được chuyển đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và Bệnh viện Mắt Trung ương ghép cho 5 bệnh nhân.
Đến chiều nay, các bệnh nhân đang được theo dõi sát sau ghép tạng.
Tiến sĩ, bác sĩ Trần Anh Cường, Giám đốc Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí, cho biết đây là ca hiến tạng - lấy đa tạng thứ hai được triển khai tại bệnh viện. Hai năm trước, bệnh viện là đơn vị đầu tiên tại Quảng Ninh lấy đa tạng từ một người hiến chết não. So với ca đầu tiên chỉ lấy tạng, nay bệnh viện đã có thể triển khai đồng thời ghép hai ca thận trực tiếp tại đơn vị.
Bệnh viện sẽ triển khai các kỹ thuật chuyên sâu như ghép gan, ghép giác mạc trong thời gian tới.
Hiện, Quảng Ninh đã tiến hành ba trường hợp hiến ghép tạng.
Ghép tạng là một trong những thành tựu quan trọng nhất của y học nhân loại từ thế kỷ 20. Đây là phương pháp cuối cùng trong điều trị bệnh nhân mắc bệnh mạn tính, hiểm nghèo do các mô, tạng bị suy giảm chức năng và không hồi phục như suy thận mạn, gan, tim, tủy, hỏng giác mạc...
Huyết áp cao hay tăng huyết áp xảy ra khi huyết áp đo tại phòng khám lớn hơn hoặc bằng 140/90 mmHg. Tiền tăng huyết áp khi nằm trong khoảng 120-139/80-89 mmHg, mức huyết áp tối ưu khi dưới 120/80 mmHg. Đây được coi là "kẻ giết người thầm lặng" vì ít gây triệu chứng và có thể dẫn đến bệnh tim, đột quỵ và suy thận. Các nguyên nhân bao gồm di truyền, chế độ ăn uống kém (nhiều muối), thiếu vận động, căng thẳng, được điều trị bằng thay đổi lối sống và thuốc.
Các loại hạt được xem là thực phẩm tốt cho tim mạch vì chứa protein, chất xơ và chất béo lành mạnh. Một số còn giàu vitamin và khoáng chất đặc biệt, có thể mang lại lợi ích cho người cao huyết áp.
Hạnh nhân
Hạnh nhân là nguồn chất xơ và protein thực vật dồi dào. Duy trì chế độ ăn giàu hai chất này có thể giảm nguy cơ cao huyết áp. Hạnh nhân còn chứa các dưỡng chất có lợi cho huyết áp gồm:
Magie: 28 g hạnh nhân cung cấp khoảng 76,5 mg magie (tương đương 18-25% nhu cầu cơ thể cần hằng ngày - DV). Magie giúp hạ huyết áp chủ yếu bằng cách hoạt động như một chất ức chế kênh canxi tự nhiên, thúc đẩy sự giãn nở của mạch máu và giảm sức cản mạch máu.
Vitamin E: 28 g hạnh nhân chứa khoảng 7,26 mg vitamin E (gần 50% DV). Vitamin E là chất chống oxy hóa giúp hạn chế tổn thương tế bào do gốc tự do - yếu tố liên quan đến bệnh tim mạch.
Hạt óc chó
Loại hạt này không chỉ giàu protein và chất xơ mà còn chứa nhiều chất béo không bão hòa đa (chất béo tốt). 28 g (khoảng 7 hạt óc chó) có khoảng 13,4 g chất béo tốt, bao gồm omega-3 và omega-6. Những chất béo này mang lại nhiều lợi ích như omega-3 có thể giảm mỡ máu và nguy cơ rối loạn nhịp tim, omega-6 hỗ trợ kiểm soát đường huyết, đồng thời cả hai đều góp phần giảm huyết áp.
Hạt dẻ cười
Hạt dẻ cười là món ăn vặt giàu dinh dưỡng như protein, chất xơ và chất béo lành mạnh - tất cả đều liên quan đến cải thiện huyết áp. Ngoài ra, loại hạt này còn chứa chất chống oxy hóa như beta-carotene, lutein, zeaxanthin và vitamin C, giúp giảm stress oxy hóa, đều là những yếu tố có thể ảnh hưởng đến huyết áp. Kali trong hạt dẻ cười có tác dụng giãn mạch máu và đào thải natri dư thừa, từ đó cải thiện huyết áp.
Hạt Brazil
Hạt Brazil là loại hạt lớn, giàu dưỡng chất tốt cho tim mạch. Khẩu phần 6 hạt cung cấp 2,1 g chất xơ, 4 g protein, 6,9 g chất béo không bão hòa đa. Chế độ ăn giàu các chất này có thể hỗ trợ kiểm soát huyết áp tốt hơn.
Đặc biệt, hạt Brazil rất giàu selen, một hạt có thể chứa 68-91 mcg selen. Ở liều lượng hợp lý, selen giúp giảm viêm và hỗ trợ sức khỏe tim mạch. Tuy nhiên, cần lưu ý không nên tiêu thụ quá 400 mcg selen mỗi ngày.
Để bổ sung hạt vào chế độ ăn, bạn có thể trộn các loại hạt vào salad, thêm hạt óc chó và chuối vào cháo yến mạch, rắc hạt dẻ cười lên trái cây tươi, kết hợp hạt với sữa chua... Lưu ý kiểm soát khẩu phần khoảng một nắm (tương đương 28 g) mỗi ngày vì chúng giàu calo có thể dẫn đến tăng cân.