Ngày 10/4, BS.CK2 Đỗ Châu Việt, Trưởng khoa Hồi sức tích cực Nhiễm, Bệnh viện Nhi đồng 2, cho biết khoa vừa cứu sống hai bệnh nhi tay chân miệng độ 4 (mức nặng nhất) liên quan chủng EV71. Trường hợp đầu là bé trai một tuổi, ngụ TP HCM, khởi phát triệu chứng sốt, được chẩn đoán viêm họng nhưng uống thuốc không giảm. Khi xuất hiện các vết hồng ban kín đáo, bé nhanh chóng trở nặng với vã mồ hôi đầu, khó thở, suy hô hấp, phải đặt nội khí quản ở tuyến dưới trước khi chuyển đến Bệnh viện Nhi đồng 2.
Kíp cấp cứu lập tức cho bệnh nhi thở máy, lọc máu và dùng thuốc trợ tim. Sau hơn ba ngày điều trị tích cực, bé qua cơn nguy kịch, cai máy thở, chuyển sang thở CPAP, sinh hiệu tạm ổn và tiếp tục theo dõi di chứng thần kinh.
Ca thứ hai là bé trai 3 tuổi, ngụ Khánh Hòa, nhập viện địa phương khi sốt và nổi ban, nghi mắc tay chân miệng. Dù đáp ứng thuốc hạ sốt ban đầu, trẻ dần xuất hiện giật mình, đi đứng loạng choạng. Sau khi được truyền IVIg và theo dõi sát, bệnh nhi bất ngờ sốt cao liên tục 39 độ C, thở mệt, trào bọt hồng lẫn máu, phù phổi. Nhịp tim tăng vọt 230 lần mỗi phút – gấp đôi trẻ bình thường, huyết áp rối loạn đột ngột.
Khi nhập Nhi đồng 2, SpO2 của bé chỉ còn 75%, rơi vào suy hô hấp, suy tim cấp. Các bác sĩ khẩn trương lọc máu, thở máy, dùng thuốc vận mạch, giúp nhịp tim giảm sau 6 giờ. Đến ngày thứ ba, bệnh nhi được ngưng lọc máu, ngưng thuốc vận mạch, tiếp tục theo dõi di chứng.
Theo bác sĩ Việt, cả hai trường hợp “thập tử nhất sinh” đều mang đặc trưng của chủng EV71. Số liệu từ Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP HCM cho thấy chủng này chiếm 56% mẫu bệnh phẩm tay chân miệng đầu năm 2026, lây qua đường tiêu hóa và tiếp xúc dịch tiết.
Sự nguy hiểm của EV71 nằm ở chỗ dấu hiệu ngoài da như nổi ban, loét miệng thường rất ít hoặc kín đáo. Thay vì bộc lộ ra ngoài, virus có thể tấn công trực tiếp hệ thần kinh trung ương, gây tổn thương não cấp. Nhiều trẻ nhập viện trong tình trạng suy hô hấp, sốc tim, có thể tử vong nhanh trong 12-24 giờ. Khi đã chuyển độ 4, nguy cơ để lại di chứng thần kinh từ nhẹ đến nặng.
Phụ huynh cần đưa con đến cơ sở y tế ngay khi có dấu hiệu cảnh báo, kể cả khi không thấy ban đỏ hay loét miệng. Các biểu hiện gồm giật mình chới với (từ hai lần trở lên trong 30 phút), sốt trên 39 độ C kéo dài quá 48 giờ không đáp ứng thuốc, rối loạn vận động (đi loạng choạng, mất thăng bằng, run chi, ngồi không vững) hoặc nôn ói nhiều kèm bứt rứt, quấy khóc, lừ đừ.
Tuần qua, TP HCM ghi nhận thêm 1.347 ca mắc tay chân miệng, tăng 64% so với trung bình 4 tuần trước, nâng tổng số bệnh nhân từ đầu năm vượt 10.000. Triệu chứng thường gặp gồm sốt, loét miệng, phát ban kèm bóng nước ở lòng bàn tay, bàn chân, đầu gối, mông.
Mẹ của hai bé là sản phụ 23 tuổi (ở Nghệ An), mang thai lần đầu sau IVF. Khi thai 25 tuần, người mẹ nhập viện trong tình trạng tụt cổ tử cung, hở chữ Y (hở eo tử cung là tình trạng cổ tử cung suy yếu, mở sớm trong thai kỳ).
Tại BV Phụ sản Hà Nội, các bác sĩ đã chăm sóc để cố gắng giữ thai thêm trong bụng mẹ. Tuy nhiên, sản phụ vẫn sinh sớm, khi thai được 27 tuần 6 ngày tuổi. Hai bé chào đời ngày 12.1.2026, được hồi sức và chuyển lên Khoa Sơ sinh. Ở tuổi thai này, phổi chưa đủ trưởng thành để tự thở. Cả hai bé đều suy hô hấp nặng do bệnh màng trong, phải bơm curosurf (kỹ thuật trong điều trị suy hô hấp ở trẻ sơ sinh, giúp bé phát triển khỏe mạnh); thở máy xâm nhập 9 ngày, sau đó tiếp tục được hỗ trợ hô hấp thêm 32 ngày.
Những ngày đầu đời, hai bé được nuôi bằng từng giọt dịch truyền tĩnh mạch, trong điều kiện y tế rất nghiêm ngặt. Khi các bé được khoảng 34 tuần tuổi, người mẹ mới lần đầu tiên được vào gặp con. Sau hơn 2 tháng điều trị, bé gái có cân nặng 1.800 gram; bé trai 1.750 gram, đủ điều kiện ra viện. Đến nay, gần 3 tháng tuổi, mỗi bé đã có cân nặng khoảng 3 kg.
Theo BV Phụ sản Hà Nội, trẻ sinh đúng tháng là chào đời trong khoảng thai kỳ 39 - 41 tuần. Trẻ sinh non tháng nhẹ cân dễ gặp phải các biến cố nguy hiểm do suy hô hấp, nhiễm trùng.
Do đó, người mắc tiểu đường không chỉ cần kiểm tra đường huyết mà còn cả chức năng thận định kỳ. Tần suất kiểm tra không cố định mà điều chỉnh theo từng người, dựa trên nguy cơ và kết quả xét nghiệm trước đó, theo chuyên trang sức khỏe Medical News Today (Anh).
Đối với người tiểu đường chưa có dấu hiệu tổn thương thận, khuyến nghị chung là nên kiểm tra thận ít nhất 1 lần/năm. Cụ thể, với tiểu đường loại 2, kiểm tra nên bắt đầu ngay từ khi được chẩn đoán. Còn với tiểu đường loại 1, thường bắt đầu kiểm tra sau khoảng 5 năm mắc bệnh.
Nếu kết quả xét nghiệm bình thường và các yếu tố nguy cơ được kiểm soát tốt, kiểm tra hằng năm là đủ. Tuy nhiên, nếu người bệnh có huyết áp cao, kiểm soát đường huyết kém hoặc đã mắc bệnh lâu năm, bác sĩ có thể chỉ định kiểm tra thường xuyên hơn.
Trong trường hợp đã xuất hiện dấu hiệu tổn thương thận, tần suất kiểm tra cần tăng lên để theo dõi sát tiến triển của bệnh. Nếu tổn thương mức độ nhẹ, chẳng hạn khi bắt đầu có albumin trong nước tiểu, người bệnh thường cần kiểm tra thận khoảng 2 lần/năm. Mục tiêu là theo dõi xem tình trạng có ổn định hay đang tiến triển.
Nếu bệnh nặng hơn, tức là vừa có albumin niệu vừa có suy giảm chức năng lọc rõ rệt, tần suất có thể tăng lên 3 - 4 lần/năm. Trong những trường hợp nguy cơ cao hoặc bệnh tiến triển nhanh, bác sĩ có thể yêu cầu kiểm tra 1 - 3 tháng/lần.
Ngoài ra, một điều quan trọng là không nên kết luận bệnh thận chỉ dựa trên 1 lần xét nghiệm bất thường. Một số yếu tố tạm thời như nhiễm trùng, mất nước hoặc vận động mạnh cũng có thể làm kết quả sai lệch.
Vì vậy, nếu phát hiện albumin trong nước tiểu, bác sĩ thường yêu cầu xét nghiệm lại 2 - 3 lần trong vòng vài tháng để xác nhận. Cách tiếp cận này giúp tránh chẩn đoán sai và đảm bảo quyết định điều trị được đưa ra dựa trên dữ liệu chính xác.
Kiểm tra thận định kỳ quan trọng vì nếu không phát hiện kịp thời, tổn thương thận có thể tiến triển âm thầm đến giai đoạn nặng. Khi đó, điều trị trở nên khó khăn hơn và có thể phải phụ thuộc vào lọc máu. Ngoài ra, bệnh thận do tiểu đường còn làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch và tử vong, theo Medical News Today.
Ngày 7/4, BS.CK2 Nguyễn Minh Tiến, Bệnh viện Nguyễn Trãi, cho biết bệnh nhân vào viện với khối u vùng niêm mạc má trái, kích thước khoảng 3x3 cm. Trước đó, người bệnh phát hiện tổn thương trong miệng, khối cứng tăng dần kích thước, đau nhẹ khi ăn nhai, nhưng nghĩ là loét thông thường nên không đi khám sớm.
Thăm khám, sinh thiết xác định bệnh nhân mắc ung thư niêm mạc má. Kết quả MRI cho thấy khối u đã xâm lấn sâu vào khoang má, chưa ghi nhận di căn xa. Do nguy cơ ảnh hưởng ăn nhai và nuốt, các bác sĩ hội chẩn và tiến hành mở thông dạ dày nuôi ăn trước khi phẫu thuật cắt rộng khối u, nạo hạch cổ và tái tạo bằng vạt dưới cằm.
Sau mổ, bệnh nhân hồi phục thuận lợi, vết mổ khô, lành tốt, được nuôi ăn qua sonde dạ dày và xuất viện sau 5 ngày. Kết quả giải phẫu bệnh cho thấy khối u đã được cắt bỏ hết.
Theo bác sĩ Tiến, phẫu thuật cắt rộng kết hợp nạo hạch và tái tạo tức thì bằng vạt dưới cằm giúp điều trị triệt căn, hạn chế biến dạng khuôn mặt, đồng thời cải thiện khả năng ăn nhai và phát âm sau mổ. Việc chuẩn bị dinh dưỡng trước phẫu thuật cũng góp phần giảm biến chứng và rút ngắn thời gian hồi phục.
Ung thư niêm mạc má thường khởi phát bằng những tổn thương nhỏ, dễ nhầm với loét miệng thông thường. Bác sĩ khuyến cáo người dân cần đi khám sớm khi có dấu hiệu loét miệng kéo dài trên 2 tuần không lành, xuất hiện khối cứng trong khoang miệng hoặc chảy máu bất thường. Người trên 40 tuổi, có thói quen hút thuốc, uống rượu nên tầm soát định kỳ để phát hiện bệnh sớm.