Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 80 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW (Nghị quyết 06) ngày 24.1.2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị VN đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; và Kết luận số 224-KL/TW ngày 8.12.2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 06. Theo đó, Chính phủ cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã nêu gắn với kế hoạch tổ chức thực hiện theo lộ trình cụ thể.
Tại Nghị quyết 06, Bộ Chính trị đã nhận định thời gian qua, tỷ lệ đô thị hóa xác định theo địa bàn có chức năng đô thị đã tăng từ 30,5% năm 2010 lên gần 40% năm 2020. Đô thị hóa và phát triển đô thị trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.
Kinh tế khu vực đô thị tăng trưởng ở mức cao, đóng góp khoảng 70% GDP cả nước. Bước đầu đã hình thành cực tăng trưởng kinh tế và trung tâm đổi mới sáng tạo; khoa học, công nghệ; giáo dục, đào tạo tại các đô thị lớn, nhất là tại thủ đô Hà Nội và TP.HCM. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị vẫn còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ đô thị hóa đạt được thấp hơn mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 và còn khoảng cách khá xa so với tỷ lệ bình quân của khu vực và thế giới. Chất lượng đô thị hóa chưa cao, phát triển đô thị theo chiều rộng là chủ yếu, gây lãng phí về đất đai, mức độ tập trung kinh tế còn thấp. Kết cấu chất lượng, hạ tầng đô thị chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển dân số và kinh tế khu vực đô thị; chưa thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng phó với dịch bệnh quy mô lớn. Khả năng tiếp cận dịch vụ công và phúc lợi xã hội của người nghèo và lao động di cư tại đô thị còn thấp và nhiều bất cập…
Bộ Chính trị nhấn mạnh: đô thị hóa là yếu tố khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững trong thời gian tới. Do đó cần phải đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng đô thị hóa, phát triển đô thị bền vững theo mạng lưới, hình thành một số đô thị, chuỗi đô thị động lực thông minh kết nối khu vực và thế giới… Những mục tiêu cụ thể đã được nêu rõ như phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc đến năm 2030 đạt trên 50%. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của các đô thị trực thuộc T.Ư đạt bình quân 35 – 40% vào năm 2030. Xây dựng được mạng lưới đô thị thông minh trung tâm cấp quốc gia và cấp vùng kết nối quốc tế và 3 – 5 đô thị có thương hiệu được công nhận tầm khu vực và quốc tế vào năm 2030. Mục tiêu xa hơn với tầm nhìn đến năm 2045, tỷ lệ đô thị hóa thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á; xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế. Cơ cấu kinh tế khu vực đô thị phát triển theo hướng hiện đại với các ngành kinh tế xanh, kinh tế số chiếm tỷ trọng lớn.
Ủng hộ mục tiêu phát triển đô thị tại VN theo Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị và chương trình hành động của Chính phủ, KTS Ngô Viết Nam Sơn khẳng định: theo kinh nghiệm quốc tế lẫn lịch sử của VN, phát triển đô thị, tăng trưởng đô thị song hành với tăng trưởng kinh tế – xã hội nói chung của đất nước. Những nước phát triển đều có tỷ lệ đô thị hóa cao. Không chỉ thúc đẩy phát triển đô thị mà mục tiêu của Đảng, Chính phủ đưa ra còn là xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh, bền vững là rất đúng đắn. Chúng ta cần kiên định, quyết tâm thực hiện mục tiêu này; khi đó sẽ đóng góp lớn cho việc đạt mục tiêu đưa kinh tế VN phát triển cao, thực chất, bền vững.
Theo TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TP.HCM, thực tế cho thấy đô thị hóa luôn gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Các đô thị lớn không chỉ là trung tâm kinh tế mà còn là nơi hội tụ nguồn lực chất lượng cao, đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái dịch vụ. Tỷ lệ đô thị hóa của VN hiện vẫn thấp hơn nhiều nước trong khu vực, đồng nghĩa với dư địa phát triển còn lớn. Khi được quy hoạch và quản lý hiệu quả, quá trình đô thị hóa sẽ tạo ra các cực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và thu hút đầu tư nước ngoài.
“Việc đặt mục tiêu ở mức “trung bình cao” trong khu vực cũng được xem là lựa chọn hợp lý, tránh rơi vào tình trạng phát triển nóng nhưng thiếu bền vững”, TS Thuận nhận định và cho rằng mục tiêu xây dựng ít nhất 5 đô thị tầm cỡ quốc tế không chỉ mang ý nghĩa hình ảnh mà đòi hỏi các tiêu chuẩn khắt khe về hạ tầng, kinh tế và môi trường sống. Đây phải là những đô thị có hệ thống giao thông, năng lượng và hạ tầng số đồng bộ, đóng vai trò trung tâm tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo của khu vực; đồng thời có sức cạnh tranh toàn cầu về chất lượng sống và làm việc. Những đô thị như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh được đánh giá có tiềm năng trở thành các “đầu tàu” nếu được đầu tư đúng hướng. Quan trọng hơn, các đô thị này sẽ đóng vai trò lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển của các vùng vệ tinh, góp phần giảm áp lực dân số và hạ tầng cho các trung tâm hiện hữu.
Đồng quan điểm, TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Hùng Vương, nhấn mạnh định hướng của Nghị quyết 80 là hoàn toàn xác đáng trong bối cảnh đô thị hóa đang trở thành động lực cốt lõi của tăng trưởng. Hiện tỷ lệ đô thị hóa của VN đạt khoảng 44 – 45%, nhưng khu vực đô thị đã đóng góp tới 70 – 75% GDP, cho thấy chất lượng đô thị quan trọng hơn tốc độ đô thị hóa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy đô thị hóa thành công không đến từ việc mở rộng mà từ tích hợp. Nhìn ra thế giới, những quốc gia đô thị hóa thành công đều đi theo một mô hình chung là đô thị hóa không phải là mở rộng đất đai, mà là tổ chức lại không gian kinh tế và dân cư một cách hiệu quả. Như tại Hàn Quốc, quá trình phát triển Seoul, vùng thủ đô, không chỉ là mở rộng đô thị mà là quy hoạch vùng tích hợp giao thông – việc làm – nhà ở, với hệ thống metro và đô thị vệ tinh phát triển đồng bộ.
Ở Singapore, dù diện tích hạn chế, nhưng quốc gia này vẫn trở thành đô thị toàn cầu nhờ quản trị quy hoạch cực kỳ kỷ luật, phát triển nhà ở xã hội quy mô lớn và kiểm soát chặt sử dụng đất. Hay tại Trung Quốc, các đô thị như Thâm Quyến chỉ mất 30 năm để vươn tầm quốc tế, nhưng nền tảng là đầu tư hạ tầng quy mô lớn và cơ chế đặc thù vượt trội. Ông nhấn mạnh: Nghị quyết 80 đã đưa ra một tầm nhìn dài hạn, phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu và điều kiện của VN. Việc hướng đến các đô thị tầm cỡ quốc tế không phải là tham vọng xa vời, mà là bước đi cần thiết để nâng cao vị thế quốc gia. Vấn đề còn lại là triển khai như thế nào để biến mục tiêu thành hiện thực. Nếu làm tốt, đô thị hóa sẽ không chỉ là câu chuyện của hạ tầng và dân số, mà sẽ trở thành động lực cốt lõi đưa VN tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Nghị quyết 80 của Chính phủ đã đề ra hàng loạt nhiệm vụ cụ thể, giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành, thành phố trực thuộc T.Ư để thực hiện việc phát triển đô thị. KTS Ngô Viết Nam Sơn nhận xét VN đang đi đúng hướng nhưng tốc độ đi nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào sự cố gắng, hợp tác nói chung từ cơ quan quản lý nhà nước đến người dân. Hiện nay cả nước đã thực hiện thay đổi về bộ máy chính quyền còn 2 cấp, sáp nhập tỉnh thành, tinh giản bộ máy hành chính; điều này góp phần tăng tính hiệu quả hơn trong chọn lọc phát triển đô thị. Vì vậy, cần đánh giá lại tổng quan kế hoạch, cách nhìn đô thị hóa (chẳng hạn về số lượng đô thị sẽ có sự thay đổi). Đồng thời, Chính phủ cần tập trung phát triển hạ tầng; thực hiện cơ chế hợp tác công – tư, kể cả hợp tác quốc tế để xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh; từ đó khuyến khích phát triển các mô hình mới như đô thị sân bay, khu thương mại tự do, khu đô thị dọc theo các tuyến metro (TOD)…
“Chúng ta đặt ra mục tiêu đúng là phải phát triển đô thị hiện đại, bền vững nghĩa là phát triển nhưng phải đánh giá tác động môi trường và điều chỉnh về tác động trong giới hạn cho phép. Khi phát triển đúng theo định hướng này thì các nguy cơ đã từng có ở các đô thị trước đây như ô nhiễm, kẹt xe, ngập nước… sẽ không còn. Đây chính là đảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân trong đô thị, song hành với mục tiêu phát triển kinh tế cao, thực chất, bền vững của VN đến năm 2045”, KTS Ngô Viết Nam Sơn chia sẻ.
Trong khi đó, để đạt mục tiêu đến năm 2045, TS Trần Việt Anh cho rằng VN cần chuyển mạnh sang mô hình đô thị hóa thế hệ mới, trong đó quy hoạch vùng đóng vai trò trung tâm thay vì phát triển cục bộ từng địa phương. Các cực tăng trưởng như TP.HCM và Hà Nội cần được đặt trong tổng thể vùng đô thị mở rộng, tăng cường liên kết với các địa phương lân cận. Cùng với đó, hạ tầng cần đi trước một bước, đặc biệt là hệ thống metro, vành đai, cao tốc và logistics, những yếu tố được xem là “xương sống” của quá trình đô thị hóa. Thể chế cũng phải đủ mạnh và linh hoạt để tạo điều kiện cho các cơ chế đặc thù về tài chính, đất đai và đầu tư, tương tự kinh nghiệm của các đô thị quốc tế.
Một trụ cột khác là phát triển đô thị gắn với kinh tế tri thức, nơi không chỉ cung cấp không gian sống mà còn là trung tâm tài chính, công nghệ, giáo dục và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, yếu tố bền vững phải trở thành tiêu chuẩn bắt buộc, với yêu cầu về đô thị xanh, thông minh và thích ứng biến đổi khí hậu.
TS Phạm Viết Thuận lưu ý để hiện thực hóa mục tiêu này, thách thức đầu tiên nằm ở bài toán quy hoạch và quản trị đô thị. Bên cạnh đó, việc xây dựng các đô thị tầm cỡ quốc tế đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, trong khi ngân sách còn hạn chế. Do đó, việc huy động nguồn lực xã hội hóa, đặc biệt từ khu vực tư nhân và dòng vốn đầu tư nước ngoài, sẽ đóng vai trò then chốt. Yếu tố con người và công nghệ cũng được nhấn mạnh, bởi đô thị hiện đại không chỉ là sự phát triển của hạ tầng vật chất mà còn là nơi vận hành bởi nguồn nhân lực chất lượng cao cùng hệ thống quản trị thông minh.
Hơn nữa, mục tiêu đô thị hóa không nên chỉ dừng ở tỷ lệ, mà cần hướng đến chất lượng với các tiêu chí về đô thị xanh, thích ứng biến đổi khí hậu, mở rộng không gian công cộng, bảo tồn bản sắc và đảm bảo tiếp cận nhà ở, dịch vụ cơ bản cho mọi tầng lớp.
Trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ, ông Vũ Khánh Toàn - một hộ kinh doanh gửi câu hỏi nêu: hộ kinh doanh đang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu từ tháng 7.2025. Trong năm 2025, doanh thu của hộ kinh doanh vượt 3 tỉ đồng. Tuy nhiên, sang năm 2026, hộ ước tính doanh thu sẽ dưới 3 tỉ đồng. Vậy hộ kinh doanh có thể tiếp tục được áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ % trên doanh thu hay bắt buộc phải chuyển sang phương pháp tính theo thu nhập tính thuế (doanh thu trừ chi phí) nhân (x) thuế suất?
Trả lời vấn đề này, Thuế cơ sở 3 tỉnh Đồng Nai cho biết căn cứ vào một số quy định tại Nghị định số 68/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, trong đó gồm Điều 2 về thuế giá trị gia tăng; Điều 4 về thuế thu nhập cá nhân; Phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế áp dụng đối với cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng. Thuế suất thuế thu nhập cá nhân áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 7 luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu trên 3 tỉ đồng hoặc có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng đang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất thì thực hiện ổn định phương pháp tính thuế trong 2 năm liên tục kể từ năm đầu tiên áp dụng. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng đang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế, nếu hết năm xác định doanh thu thực tế năm trên 3 tỉ đồng thì từ năm tiếp theo phải chuyển sang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất...
Căn cứ quy định nêu trên và trình bày của hộ kinh doanh, Thuế cơ sở 3 tỉnh Đồng Nai cho rằng, trường hợp hộ kinh doanh đã thực hiện nộp thuế theo phương pháp khoán hoặc phương pháp kê khai trong năm 2025 có mức doanh thu trên 500 triệu đồng thì thực hiện kê khai, nộp thuế của năm 2026 theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Nếu hộ kinh doanh tự xác định có mức doanh thu năm 2026 từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng thì được lựa chọn áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 4 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP. Hộ kinh doanh khai, nộp thuế thu nhập cá nhân theo quý cùng thời hạn khai, nộp thuế giá trị gia tăng; Trường hợp hết năm 2026 hộ kinh doanh xác định doanh thu thực tế năm 2026 trên 3 tỈ đồng thì từ năm tiếp theo phải chuyển sang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất quy định tại điểm d khoản 5 Điều 4 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP.
Ngày 8.4, khảo sát một số ngân hàng (NH) tại TP.HCM cho thấy lãi suất (LS) cho vay mua bất động sản (BĐS) nói chung, mua nhà nói riêng tiếp tục neo cao, một số NH vừa nâng thêm LS từ đầu tháng 4. Có một điểm khác biệt là LS cho vay của nhóm 4 (Big 4) NH thương mại cổ phần (TMCP) nhà nước hiện đã lên bằng, thậm chí cao hơn các NH TMCP. Tại một chi nhánh của NH BIDV, nhân viên tư vấn cho biết hiện LS cho vay mua BĐS là 11%/năm và chốt cố định 12 tháng; sau đó LS được tính bằng lãi suất tiết kiệm NH công bố kỳ hạn 24 tháng cộng thêm biên độ 5%. Như vậy nếu so với giữa tháng 3, LS cho vay mua BĐS của BIDV đã tăng thêm khoảng 1%/năm.
Tại Vietcombank, nhân viên cho hay NH đang áp dụng LS 9,6%/năm đối với gói vay cố định 6 tháng, lên 10,5%/năm nếu cố định trong 12 tháng đầu tiên. Sau thời gian cố định, LS thả nổi được tính bằng LS tiết kiệm kỳ hạn 24 tháng của NH này cộng 3,3% nhưng không thấp hơn LS sàn (hiện nay LS sàn của Vietcombank là 11,1%/năm). Theo thông báo mới nhất, VietinBank cũng nâng LS vay mua BĐS cố định trong 24 tháng đầu lên hơn 12% mỗi năm và sau đó thả nổi nhưng không thấp hơn LS cho vay sàn của NH này là 14%/năm. Tương tự, nhân viên một chi nhánh Agribank tại TP.HCM cũng thông tin LS cho vay BĐS hiện đã lên sát 10%/năm nhưng chỉ chốt cố định trong vòng 1 năm… Như vậy, LS cho cá nhân vay mua BĐS tại nhóm NH Big 4 đã tăng cao gần gấp đôi so với mức từ 6 - 6,5%/năm của một năm trước.
Đáng chú ý, không chỉ tăng cao mà một số NH cũng khá dè dặt khi tư vấn cho khách hàng có nhu cầu vay mua nhà. Nhân viên chi nhánh BIDV nói thẳng, nếu khách hàng thế chấp nhà đang ở thì có thể làm hợp đồng dạng vay tiêu dùng với LS 10%/năm và hồ sơ sẽ được phê duyệt nhanh hơn. Nhân viên Agribank cũng không mấy mặn mà khi được hỏi về gói vay mua nhà và cũng thông báo, hiện hồ sơ xét duyệt chậm hơn trước nên có thể phải chờ…
Trong khi đó, LS tại một số NH TMCP cũng đã vượt 12%/năm sau thời gian ưu đãi ban đầu. Chẳng hạn, NH TMCP Phương Đông áp dụng LS cho vay 10,75%/năm chốt trong 6 tháng đầu và sau đó bằng LS cơ sở cộng 3,25%; hoặc LS 11,5%/năm trong vòng 12 tháng đầu tiên và sau đó tính bằng LS cơ sở cộng 3,5%. Trong đó, LS cơ sở của NH này được tính là LS cơ sở kỳ hạn 13 tháng ban hành từng thời kỳ. Tại NH TMCP Quốc tế (VIB), LS cho vay mua nhà dao động từ 9,5 - 12%/năm (tuỳ theo thời gian ưu đãi cố định từ 6 - 12 tháng). Sau thời gian ưu đãi, LS được tính theo LS cơ sở ban hành theo thời kỳ cộng biên độ cố định 3%. Giả sử khách hàng chọn LS 10,5%/năm cho thời gian chốt cố định 12 tháng thì sau khi thả nổi sẽ lên sát 13%/năm; nếu chọn mức LS 12%/năm thì sau đó LS sẽ lên đến 15%/năm sau 2 năm.
Tương tự, Techcombank công bố LS cho vay mới mua nhà là 9,5%/năm và cố định trong 12 tháng đầu tiên; sau đó LS được tính bằng LS tiết kiệm kỳ hạn 13 tháng của chính NH cộng biên độ 3,5%... Những NH TMCP nêu trên đều cho biết vẫn nhận hồ sơ vay của khách hàng cá nhân thông thường và thời gian giải ngân chỉ giải quyết trong vòng 1 tuần.
Không chỉ LS cho vay mới tăng cao, những khách hàng vay cũ cũng đang sốt ruột với việc điều chỉnh lãi vay. Anh Trung ở P.Tân Thuận (Q.7 cũ), TP.HCM, đang có hợp đồng vay mua căn hộ được 3 năm tại một NH TMCP. Chỉ sau năm đầu tiên áp dụng LS gần 10%/năm thì sau đó LS thả nổi và điều chỉnh 3 tháng một lần. Năm 2025, LS anh phải trả dao động chỉ khoảng 11,6 - 11,8%/năm. Mới nhất từ đầu tháng 4, LS của anh được thông báo lên 13,6%/năm. Vì thế, chỉ riêng tiền lãi anh phải trả lên gần 13 triệu đồng/tháng, cao hơn thời điểm đầu năm 1 triệu đồng/tháng. "Hợp đồng vay đến 15 năm nên cứ nghe LS tăng cao là thót tim. Mỗi lần điều chỉnh lên là phải "bóp mồm bóp miệng" để trả lãi đúng hạn cho NH", anh Trung nói.
Tương tự, chị Thu Hương (Q.Tân Phú cũ), TP.HCM, cũng có hợp đồng cũ vay mua nhà đã hơn 4 năm, cuối tháng 3 vừa rồi cũng bị điều chỉnh LS lên 14%/năm từ mức 12%/năm trước đó. Như vậy dù nợ gốc đã giảm dần thì tổng số tiền hằng tháng chị thanh toán cũng không giảm đi so với cuối năm 2025 do tiền lãi gia tăng.
Trong khi đó, chị V.K tại P.Tân Định (Q.1 cũ), TP.HCM, cũng đang nơm nớp lo khi hợp đồng vay sắp hết thời gian ưu đãi. Chị chia sẻ hợp đồng vay mua nhà của chị tại BIDV trước đây với LS 6,5%/năm cố định trong 18 tháng. Đến tháng 6 này sẽ hết thời gian ưu đãi thì LS trong hợp đồng ghi rõ sẽ được điều chỉnh bằng LS tiết kiệm của NH cộng biên độ 4%. Hiện nay LS tiết kiệm kỳ hạn 24 tháng của BIDV niêm yết là 6,5%/năm thì đến kỳ điều chỉnh, LS của chị V.K sẽ tăng lên 10,5%/năm. Thế nhưng thực tế LS có thể còn cao hơn vì chưa rõ NH tính thế nào. "Mấy hôm nay nghe LS tiết kiệm lên cao rồi LS cho vay cũng tăng mạnh là tôi ngán vì thế nào LS của mình cũng bị điều chỉnh tăng theo. Nhà tôi đang tính toán gom tiền hết mức có thể, kể cả vay mượn anh chị em thêm một thời gian ngắn để đến lúc đó thanh toán bớt phần gốc càng nhiều càng tốt. Vì chỉ trả bình thường thì riêng phần lãi đã tăng mạnh so với thời gian trước đây", chị V.K chia sẻ.
Trả lời thắc mắc khi người viết hỏi vì sao LS cho vay tăng cao, nhân viên tín dụng các NH đều cho rằng do LS tiết kiệm đã bị đẩy lên liên tục nên đầu ra cũng phải lên theo. Hơn nữa, chính sách của NH Nhà nước cũng đưa ra thông điệp kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng BĐS trong năm 2026 không vượt quá tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của toàn ngành (khoảng 15%/năm). Vì vậy một số NH không còn nhiều quota giải ngân cho vay BĐS.
Bên cạnh đó, tình trạng thanh khoản của các NH cũng chưa khả quan khi lượng tiền huy động vẫn thấp hơn lượng tiền cho vay trong thời gian qua. Theo báo cáo tình hình KT-XH quý 1/2026 của Cục Thống kê, đến ngày 24.3, tổng phương tiện thanh toán tăng 1,04% so với cuối năm 2025, thấp hơn mức 1,89% của cùng kỳ năm trước. Huy động vốn của các tổ chức tín dụng chỉ tăng 0,44%, giảm mạnh so với 1,23% cùng kỳ năm 2025. Ngược lại, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 2,15%, gần bằng mức 2,28% của quý 1/2025. Điều này khiến LS huy động vẫn được đẩy lên cao, kéo theo LS cho vay nói chung, mua nhà nói riêng đi lên.
Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ NN-MT) vừa có những điều chỉnh, cập nhật trong Chương trình giám sát dư lượng năm 2026 tại khu vực Nam bộ nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, đặc biệt là tại Cà Mau. Theo đó, phạm vi giám sát dư lượng năm 2026 tại khu vực Nam bộ, sau khi điều chỉnh, cập nhật có 14 đối tượng được giám sát, bao gồm tôm sú; tôm thẻ chân trắng; tôm bạc thẻ; tôm chì; cá tra; cá diêu hồng; cá trê (trê vàng, trê phi); cá nàng hai; cá chẽm; cá chốt; cá lóc; cá rô phi; cá rô đồng và lươn. Việc bổ sung, cập nhật như nêu trên xuất phát từ phản ánh của doanh nghiệp và Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu tỉnh Cà Mau (CASEP).
Trước đó, như Thanh Niên đã thông tin, CASEP phản ánh các loại thủy sản như tôm sú, tôm bạc thẻ, tôm chì và tôm thẻ chân trắng là những đối tượng nuôi phổ biến của địa phương, nhưng không có trong danh sách kiểm soát của chương trình giám sát dư lượng, chất độc hại năm 2026. Điều này, dẫn đến hệ quả là nguồn tôm nguyên liệu khi đưa vào chế biến không đủ điều kiện cấp chứng thư để xuất khẩu vào thị trường Liên minh châu Âu (EU) và các thị trường tương đương, ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu của doanh nghiệp.
Theo giải thích của cơ quan quản lý, xuất phát từ thay đổi của chính quyền hai cấp, trong quá trình tổng hợp, cấp cơ sở ở tỉnh Cà Mau khi lập kế hoạch hàng năm, thống kê bị thiếu một số địa danh và vùng nuôi, dẫn đến hệ quả là nguồn tôm nguyên liệu thu mua từ các địa bàn nêu trên khi đưa vào chế biến không đủ điều kiện cấp chứng thư để xuất khẩu vào thị trường EU và các thị trường tương đương, gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp.
Để tháo gỡ vướng mắc, NAFIQPM đã cập nhật, bổ sung các đối tượng giám sát như nêu ở trên, trong đó, bao gồm tôm thẻ chân trắng, tôm sú, tôm bạc thẻ và tôm chì trên địa bàn tỉnh Cà Mau. Như vậy, đến nay, vướng mắc này cơ bản đã được giải quyết.