Hôm 6/4, tờ Maeil Business Newspaper đưa tin sự việc xảy ra vào tối ngày 1/3, khi người phụ nữ đang lưu trú tại một khách sạn ở Daegu thì xuất hiện những cơn đau bụng. Chồng cô, anh A, đã liên hệ với một phòng khám sản phụ khoa địa phương lúc 22h16 nhưng được hướng dẫn nên đến bệnh viện tuyến đại học vì cô chưa có hồ sơ khám bệnh tại đây.
Khoảng 1h hôm sau, khi cơn đau trở nên dữ dội, anh A gọi cấp cứu 119. 10 phút sau, xe cứu thương có mặt nhưng lại phải “chôn chân” tại chỗ suốt 50 phút do các nhân viên cứu hộ đã liên lạc với 7 bệnh viện lớn tại Daegu nhưng tất cả đều từ chối tiếp nhận với lý do “không có bác sĩ sản khoa trực” hoặc “thiếu trang thiết bị chăm sóc trẻ sơ sinh”.
Không chờ đợi thêm, anh A quyết định tự lái xe đưa vợ đến Bệnh viện Đại học Quốc gia Seoul tại Bundang, nơi vợ anh từng thăm khám trước đó. Trên đường đi, gia đình vẫn không ngừng gọi điện cầu cứu các bệnh viện gần đó. Anh A kể: “Vợ tôi từng phải thực hiện thủ thuật khâu vòng cổ tử cung để ngăn sinh non. Khi cô ấy chuyển dạ, tính mạng của cả mẹ và hai con đều ngàn cân treo sợi tóc”.
Hành trình tìm bệnh viện càng thêm rối ren do thiếu sự kết nối thông tin. Trong lúc anh A cầm lái, mẹ anh liên tục gọi cho 119 khu vực Gyeongbuk và Chungbuk. Đến 3h20, họ gặp được đội cứu hộ nhưng việc bàn giao bệnh nhân lại bị chậm trễ do thông tin không được truyền đạt chính xác giữa các đội. Mãi tới 4h42, sản phụ mới được chuyển sang xe cấp cứu để tăng tốc đến Bundang. Theo nhật ký cứu hộ lúc đó, sản phụ đã bị vỡ ối và huyết áp đang giảm sâu.
Cuối cùng, sau 4 giờ kể từ cuộc gọi cấp cứu đầu tiên, sản phụ mới đến được Đại học Quốc gia Seoul lúc 5h35. Người mẹ may mắn sống sót nhưng bé đầu tiên ra đời bằng phương pháp sinh mổ tử vong chưa đầy một ngày sau đó do thiếu oxy. Bé thứ hai hiện được điều trị tích cực tại phòng chăm sóc đặc biệt (NICU) với chẩn đoán tổn thương não.
“Trong lúc chăm sóc vợ, tôi nhận được cuộc gọi từ y tá nói rằng em bé khó lòng qua khỏi, hãy đến bế con lần cuối. Đó là cách tôi mất đi đứa con đầu lòng của mình”, anh A nghẹn ngào.
Tình trạng các cơ sở y tế từ chối tiếp nhận bệnh nhân cấp cứu do thiếu nhân lực, thiết bị và giường bệnh đang gia tăng chóng mặt tại Hàn Quốc. Dữ liệu từ Trung tâm Y tế Quốc gia cho thấy số vụ thông báo “không thể tiếp nhận bệnh nhân” đã tăng hơn gấp đôi, từ gần 59.000 ca năm 2023 lên đến gần 120.000 ca vào năm ngoái.
Ông Lee Hyung-min, Chủ tịch Hiệp hội Y học Cấp cứu Hàn Quốc, chỉ trích phản ứng ban đầu của lực lượng 119 còn thiếu sót. “Những bệnh viện có đầy đủ trang thiết bị, nhân lực và giường bệnh để tiếp nhận các ca sản nguy cơ cao hiện nay đếm trên đầu ngón tay”, chủ tịch Lee nhận định. “Lẽ ra, ngay từ lúc xuất phát, phía cấp cứu đã phải nắm rõ khả năng điều trị thực tế của các bệnh viện tại Daegu (để có phương án khác ngay lập tức)”, ông nói thêm.
Tuy nhiên, ông Lee cũng chỉ ra nguyên nhân cốt lõi nằm ở rào cản pháp lý: “Các bệnh viện lo ngại phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu xảy ra tai nạn y khoa khi họ tiếp nhận bệnh nhân mà không có đủ năng lực điều trị cuối cùng. Nhà nước phải đứng ra chịu trách nhiệm trong việc cải thiện thể chế và phát triển cơ sở hạ tầng y tế”.
Trước vụ việc này, người phát ngôn Bộ Y tế và Phúc lợi Hàn Quốc, ông Hyun Soo-yeop, khẳng định chính phủ đang xem xét vấn đề một cách nghiêm túc và có kế hoạch mở rộng dự án thí điểm đổi mới hệ thống vận chuyển bệnh nhân trên phạm vi toàn quốc.
Bởi đặc tính như nói trên, nên bệnh nhân mắc ung thư phổi thường được chẩn đoán, phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn.
Đó là thông tin được nêu ra tại hội thảo khoa học "Kỷ nguyên mới trong điều trị ung thư phổi: Hiện thực hóa mục tiêu triệt căn cùng liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch", do AstraZeneca Việt Nam phối hợp với Hội Ung thư Việt Nam tổ chức ngày 12.4 ở TP.HCM.
Theo tiến sĩ - bác sĩ Diệp Bảo Tuấn, Giám đốc Bệnh viện Ung bướu TP.HCM, ung thư phổi hiện vẫn là một trong các thách thức y học hàng đầu tại Việt Nam - với hơn 24.000 ca mắc mới và gần 22.600 ca tử vong mỗi năm.
Tiến sĩ - bác sĩ Lê Tuấn Anh, Giám đốc Trung tâm Ung bướu Bệnh viện Chợ Rẫy thông tin: ung thư phổi là 1 trong 3 loại ung thư gặp nhiều nhất tại Việt Nam, theo thứ tự là: ung thư vú, phổi và gan. Ở giai đoạn sớm, ung thư phổi thường không có triệu chứng, hoặc có thể bị nhầm lẫn với các triệu chứng bệnh lý hô hấp khác, dễ bị bỏ sót. Do đó, bệnh nhân thường được chẩn đoán, phát hiện bệnh ung thư phổi ở giai đoạn muộn.
Tiến sĩ - bác sĩ Phạm Xuân Dũng, Phó chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, Chủ tịch Hội Ung thư TP.HCM, cho rằng mặc dù những năm qua y học đã có nhiều phát triển trong chẩn đoán, điều trị bệnh ung thư nhưng tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư vẫn tăng, nhiều nhất là ở các nước đang phát triển.
"Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có những phát triển trong chẩn đoán và điều trị ung thư, kể cả phẫu thuật điều trị. Tay nghề phẫu thuật của bác sĩ Việt Nam không thua kém các nước trong khu vực, tuy nhiên chúng ta cần nâng cao hơn nữa về khả năng chẩn đoán, điều trị ung thư", tiến sĩ Phạm Xuân Dũng nói.
Theo tiến sĩ Phạm Xuân Dũng, trước đây khi chẩn đoán ung thư phổi đã có di căn thì thì bình quân thời gian sống còn của bệnh nhân dưới 12 tháng, nhưng hiện nay thời gian này có thể là 2, 3, 4 năm. Vừa rồi, các nhà chuyên môn đã trình phác đồ điều trị ung thư theo hướng kỷ nguyên y học chính xác. Nghĩa là sẽ thiết kế điều trị cho từng cá thể bệnh nhân ung thư nhằm tăng kết quả điều trị (mục tiêu của điều trị chính xác).
Ngoài ra, theo tiến sĩ Phạm Xuân Dũng, vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI) cũng sẽ giúp chẩn đoán nhanh hơn, chính xác hơn và lựa chọn phương pháp điều trị ung thư cho người bệnh phù hợp hơn…
Theo tiến sĩ Diệp Bảo Tuấn, mặc dù có cải thiện sống còn ở bệnh nhân ung thư phổi, nhưng nguy cơ tái phát vẫn cao và thiếu các liệu pháp củng cố hiệu quả và nhất quán. Do vậy đặt ra nhu cầu cấp thiết về những tiếp cận mới nhằm kéo dài thời gian sống không bệnh và hướng tới mục tiêu kiểm soát bệnh triệt để. Trong bối cảnh đó, các liệu pháp toàn thân hiện đại - bao gồm liệu pháp nhắm trúng đích ở nhóm có đột biến EGFR và liệu pháp miễn dịch đang dịch chuyển ngày một gần hơn đến các giai đoạn sớm hơn của bệnh, và tiến đến thay đổi chiến lược điều trị từ "điều trị kéo dài sống còn" đến "hiện thực hóa mục tiêu triệt căn".
Đây là thông tin được chia sẻ tại hội thảo khoa học với chủ đề "Kỷ nguyên mới trong điều trị lupus ban đỏ hệ thống", do Hội Thấp khớp học Việt Nam phối hợp tổ chức ngày 11 và 12-4 tại Hà Nội và TP.HCM.
Sự kiện có sự tham gia của nhiều chuyên gia đầu ngành trong nước và quốc tế cập nhật các thông tin về nhận thức, chẩn đoán và điều trị căn bệnh tự miễn phức tạp này.
Chia sẻ tại hội thảo, PGS.TS Nguyễn Văn Hùng, Giám đốc Trung tâm Cơ xương khớp, Bệnh viện Bạch Mai, cho hay lupus ban đỏ hệ thống là bệnh tự miễn mạn tính, có thể gây viêm và tổn thương nhiều cơ quan trong cơ thể, từ da, khớp đến thận, thần kinh, tim mạch… với nguy cơ đe dọa tính mạng.
Tỉ lệ mắc bệnh ở phụ nữ cao gấp 9 lần nam giới, đặc biệt trong độ tuổi từ 15 - 45. Bác sĩ Hùng cho hay trong vài thập niên qua, điều trị lupus đã có nhiều tiến bộ, giúp giảm tỉ lệ tử vong và cải thiện thời gian sống. Tuy nhiên, việc quản lý và điều trị bệnh vẫn còn không ít khó khăn.
Một trong những rào cản lớn nhất là triệu chứng của lupus rất đa dạng, không điển hình và dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác. Người bệnh có thể khởi phát với những biểu hiện mơ hồ như mệt mỏi, đau khớp, nổi ban da… nên thường đi khám ở nhiều chuyên khoa khác nhau trước khi được chẩn đoán chính xác.
Hành trình của một bệnh nhân lupus thường kéo dài, đi qua nhiều tuyến khám chữa bệnh trước khi đến được cơ sở chuyên sâu. Trong giai đoạn đầu, bệnh nhân có thể gặp bác sĩ nội khoa, da liễu, thần kinh, tim mạch, hô hấp… và chỉ một tỉ lệ nhỏ (dưới 10%) được chẩn đoán sớm ngay từ đầu.
"Có những trường hợp mất vài tháng, thậm chí vài năm mới được xác định bệnh. Trong khi đó, chỉ cần chậm trễ khoảng 6 tháng, lupus đã có thể gây ra những tổn thương nghiêm trọng, khó hồi phục", bác sĩ Hùng cho biết.
Bác sĩ Hùng cũng cho hay hiện có tình trạng lạm dụng xét nghiệm miễn dịch trong chẩn đoán lupus. Thực tế, xét nghiệm đóng vai trò quan trọng nhưng không thể là yếu tố duy nhất để kết luận bệnh. Việc chỉ định tràn lan các xét nghiệm kháng thể tự miễn không chỉ gây tốn kém cho người bệnh mà còn tạo áp lực lên hệ thống bảo hiểm y tế.
"Để kiểm soát tốt lupus ban đỏ hệ thống, cần một chiến lược toàn diện, bao gồm chẩn đoán sớm, điều trị hiệu quả, quản lý lâu dài và phối hợp đa chuyên khoa", bác sĩ Hùng nhận định.
Chia sẻ tại hội thảo, PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Lan, Chủ tịch Hội Thấp khớp học Việt Nam, cho biết lupus là bệnh lý có thể ảnh hưởng đến hầu hết các cơ quan trong cơ thể, làm tăng nguy cơ tử vong nếu không được kiểm soát tốt.
Trước đây, điều trị lupus chủ yếu dựa vào các thuốc ức chế miễn dịch, trong khi lựa chọn điều trị mới còn hạn chế.
"Tuy nhiên mới đây đã có thuốc sinh học đầu tiên được Bộ Y tế Việt Nam phê duyệt trong điều trị lupus ban đỏ hệ thống. Việc bổ sung liệu pháp mới này mở ra cơ hội điều trị theo hướng cá thể hóa, giúp kiểm soát hoạt động bệnh tốt hơn, giảm tổn thương cơ quan và hướng tới mục tiêu lui bệnh.
Điều quan trọng là chúng ta cần cập nhật kiến thức, áp dụng các tiến bộ mới và đặt người bệnh ở trung tâm của quá trình điều trị", PGS.TS Lan nhấn mạnh.