Đại thủy nông Bắc Hưng Hải – hệ thống từng cung cấp nước tưới cho 130.000 ha đất nông nghiệp vùng đồng bằng Bắc Bộ, đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến hàng chục triệu dân. Phải làm gì để hồi sinh hệ thống là câu hỏi khiến cả nhà quản lý và chuyên gia sông ngòi phải tính toán thấu đáo.
Tổng điều tra và đánh giá lại toàn bộ hệ thống
Bắc Hưng Hải gồm hơn 230 km kênh trục chính, hàng nghìn km kênh mương nội đồng cùng khoảng 1.900 cống, trạm bơm. Với mạng lưới quy mô lớn, trải dài qua Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh và Hải Phòng, PGS.TS Đào Trọng Tứ, Trưởng ban điều hành Mạng lưới sông ngòi Việt Nam, cho rằng muốn cải tạo phải bắt đầu từ tổng điều tra và đánh giá lại toàn bộ hệ thống.
Bắc Hưng Hải được thiết kế trong bối cảnh cơ cấu sử dụng đất, nhu cầu nước tưới rất khác so với hiện nay. Nhiều năm qua, một phần lớn diện tích đất nông nghiệp trong lưu vực đã được chuyển đổi sang đô thị, khu công nghiệp hoặc các loại hình sử dụng đất khác. Điều này khiến nhu cầu cấp nước và tiêu thoát nước của hệ thống thay đổi đáng kể so với thiết kế chỉ phục vụ tưới tiêu ban đầu.
“Cần xem lại năng lực tưới tiêu thực tế của hệ thống hiện nay đã thay đổi như thế nào, diện tích đất nông nghiệp còn bao nhiêu và nhu cầu cấp nước ra sao. Trên cơ sở đó mới có thể tính toán phương án cải tạo phù hợp”, ông Tứ nói và nhận định việc đánh giá lại toàn bộ hiện trạng hệ thống là bước quan trọng để xác định quy mô đầu tư hợp lý, bảo đảm hiệu quả lâu dài của dự án cải tạo.
Cấp bách kiểm soát nguồn thải
Sau bước đánh giá toàn bộ hệ thống Bắc Hưng Hải, ông Nguyễn Tùng Phong, Cục trưởng Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho rằng phải cấp bách kiểm soát nguồn thải. Cùng với quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp nhanh của khu vực, lượng nước thải từ các khu công nghiệp, làng nghề và khu dân cư đổ vào Bắc Hưng Hải ngày càng tăng, tạo áp lực lớn đối với chất lượng nước.
Theo tính toán, hiện tổng lượng nước thải xả vào Bắc Hưng Hải khoảng 538.838 m3 mỗi ngày đêm, phân bố rộng khắp trên toàn lưu vực. Trong đó, Hưng Yên chiếm tỷ lệ lớn nhất 31%, tiếp đến là Hải Phòng 21%, Hà Nội 13%, Bắc Ninh hơn 9%. Nhiều nguồn xả thải vẫn chưa được kiểm soát hoặc xử lý đạt yêu cầu khiến nhiều đoạn kênh rơi vào tình trạng ô nhiễm kéo dài.
Cũng cho rằng phải kiểm soát nguồn thải, ông Lương Xuân Chính, Phó giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải, phân tích khả năng tự làm sạch của kênh chỉ tồn tại trong giới hạn nhất định. Khi lượng nước thải vượt quá khả năng chịu tải, chất lượng nước sẽ suy giảm nhanh.
“Bổ sung nguồn nước chỉ giúp pha loãng ô nhiễm trong một số thời điểm, còn muốn xử lý tận gốc thì phải kiểm soát được nguồn thải”, ông Chính nói.
Tuy nhiên, kiểm soát nguồn thải trên mạng lưới như Bắc Hưng Hải là bài toán rất tốn kém, có thể vượt quá nguồn lực của địa phương, theo GS.TS Trần Đức Hạ, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cấp thoát nước và Môi trường. Bởi chi phí xây dựng và vận hành các nhà máy xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn cao rất lớn, trong khi nhiều địa phương chưa hoàn thiện hệ thống thu gom nước thải đô thị.
“Cần kết hợp nhiều biện pháp, từ kiểm soát nguồn thải, điều tiết dòng chảy đến tận dụng khả năng tự làm sạch của hệ thống sông kênh”, ông Hạ đề xuất.
Phối hợp liên tỉnh
So sánh với việc cải tạo sông Tô Lịch, PGS.TS Đào Trọng Tứ cho rằng bài toán của Bắc Hưng Hải phức tạp hơn nhiều. Tô Lịch nằm hoàn toàn trong phạm vi Hà Nội, hệ thống Bắc Hưng Hải lại trải dài qua nhiều tỉnh với hàng loạt nguồn thải. Nếu mỗi địa phương làm một kiểu, không có cơ chế điều phối thống nhất thì rất khó đảm bảo các hạng mục cải tạo được triển khai đồng bộ và phát huy hiệu quả.
TS Trần Đức Hạ cũng cho rằng thách thức lớn nhất hiện nay là làm sao thiết lập được cơ chế quản lý thống nhất cho toàn hệ thống Bắc Hưng Hải. Nếu không có cơ chế điều phối đủ mạnh ở cấp vùng, việc xử lý ô nhiễm hay cải tạo hạ tầng sẽ khó đạt hiệu quả lâu dài.
Bởi Bắc Hưng Hải không chỉ là công trình thủy lợi phục vụ nông nghiệp như trước đây. Nó đang phải gánh thêm nhiều chức năng mới như tiêu thoát nước cho đô thị, khu dân cư và khu công nghiệp; tiếp nhận nước thải và là khung sinh thái cảnh quan cho khu vực.
“Cần có cơ quan đầu mối đủ thẩm quyền để điều phối chung toàn bộ hệ thống, từ đầu tư hạ tầng đến kiểm soát nguồn thải”, ông Hạ kiến nghị.
Chờ đề án cải tạo quy mô lớn
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng đề án xử lý ô nhiễm và phát triển tổng thể hệ thống Bắc Hưng Hải, mục tiêu từng bước phục hồi chất lượng nước, nâng cao năng lực tưới tiêu và điều tiết nước, đồng thời thích ứng với quá trình đô thị hóa nhanh trong lưu vực.
Đề án tập trung vào ba nhóm giải pháp chính. Đầu tiên là nâng cấp và hiện đại hóa hệ thống công trình thủy lợi, cải tạo các công trình đầu mối, nạo vét tuyến kênh trục và kênh nhánh, đồng thời lắp đặt trạm quan trắc tự động để theo dõi chất lượng nước và điều tiết dòng chảy.
Nhóm giải pháp thứ hai là kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất lượng nước, thông qua việc xây dựng các công trình kiểm soát nguồn thải tại vị trí xả lớn, từng bước thu gom và xử lý nước thải trước khi đổ vào hệ thống. Cuối cùng là khai thác tổng hợp không gian hai bên kênh, kết hợp chỉnh trang cảnh quan, phát triển các tuyến đô thị sinh thái và dịch vụ.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường tính toán tổng kinh phí dự kiến để cải tạo toàn diện hệ thống khoảng 38.500 tỷ đồng. Trong đó, khoảng 6.000 tỷ đồng vốn đầu tư công để hoàn thiện hạng mục chính của hệ thống, gồm 4.505 tỷ nâng cấp hạ tầng thủy lợi, 100 tỷ hiện đại hóa công tác quản lý vận hành và khoảng 1.394 tỷ cải tạo các tuyến kênh trục. Các địa phương tham gia đầu tư nhiều hạng mục liên quan kiểm soát ô nhiễm và chỉnh trang hệ thống kênh.
Với quy mô lớn và lịch sử vận hành hơn nửa thế kỷ, chuyên gia và nhà quản lý cho rằng việc hồi sinh Bắc Hưng Hải không chỉ là chuyện cải tạo hệ thống thủy lợi mà là bài toán quản lý tổng hợp cả lưu vực rộng lớn. Nó đòi hỏi sự chung sức của nhiều địa phương, bộ ngành và người dân trong lưu vực.
Hồ sơ vụ án cho thấy, từ năm 2010, Linh và Phạm Minh Hạnh (cùng trú P.Hồng Hà, TP.Hà Nội) bàn bạc sử dụng giấy tờ tùy thân của người quen để lập hồ sơ vay tín chấp và mở thẻ tín dụng tại Ngân hàng HSBC Việt Nam.
Hai người mượn chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, hóa đơn điện, nước của nhiều người, sau đó mở tài khoản ngân hàng đứng tên họ. Nhóm này sau đó lập khống hợp đồng lao động để "hợp thức" những người mà mình mượn giấy tờ là nhân viên của Công ty CP thương mại Vĩ Sơn.
Khi hồ sơ hoàn thiện, cả hai làm thủ tục vay vốn, mở thẻ tín dụng để chiếm đoạt tiền của ngân hàng.
Với thủ đoạn trên, từ tháng 7.2010 - 6.2014, Hạnh và Linh lập hàng chục bộ hồ sơ vay và mở thẻ tín dụng.
Tổng số tiền Ngân hàng HSBC đã giải ngân từ các hồ sơ do Hạnh lập là 4 tỉ đồng, dư nợ gốc vay tín chấp và thẻ tín dụng hơn 3,8 tỉ đồng.
Riêng Linh sử dụng giấy tờ của 22 cá nhân để lập 23 hồ sơ vay tín chấp và 20 hồ sơ mở thẻ tín dụng. Tổng dư nợ gốc đến tháng 1.2025 được xác định hơn 2 tỉ đồng.
Quá trình điều tra, các cá nhân đứng tên trong hồ sơ đều khẳng định không vay tiền, không mở thẻ và chữ ký bị giả mạo. Còn bị cáo Linh thừa nhận hành vi, khai đã dùng toàn bộ số tiền giải ngân vào mục đích cá nhân và không còn khả năng khắc phục hậu quả.
Đáng chú ý, gia đình Linh và Hạnh cung cấp hồ sơ bệnh án thể hiện cả hai từng điều trị bệnh tâm thần.
Trong đó, Linh từng điều trị tại Khoa Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, được chẩn đoán rối loạn trầm cảm tái diễn, giai đoạn nặng có loạn thần.
Tuy nhiên, kết luận giám định của Viện Pháp y tâm thần Trung ương (Bộ Y tế) cho thấy thời điểm trước, trong và sau khi gây án, Linh không mắc bệnh tâm thần, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Tại thời điểm giám định, bị cáo Linh có biểu hiện rối loạn stress sau sang chấn, hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Còn với Hạnh, người này từng điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 với chẩn đoán theo dõi tâm thần phân liệt.
Kết luận giám định của Viện Pháp y tâm thần Trung ương xác định trước và trong khi thực hiện hành vi lừa đảo, Hạnh không mắc bệnh tâm thần.
Song, tại thời điểm giám định, Hạnh bị trầm cảm nặng kèm triệu chứng loạn thần, mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó, cơ quan điều tra tách tài liệu liên quan đến Hạnh, tạm đình chỉ điều tra để chờ kết luận giám định, xử lý sau.
Ngày 5.4, lực lượng Cảnh sát PCCC và cứu nạn cứu hộ Công an TP.HCM đã kịp thời khống chế một vụ cháy xảy ra tại nhà dân trên đường Nguyễn Trãi (phường Chợ Quán), đồng thời giải cứu an toàn 2 người bị mắc kẹt bên trong.
Theo thông tin ban đầu, khoảng 1 giờ 45 cùng ngày, lực lượng chức năng nhận tin báo cháy tại căn nhà trên đường Nguyễn Trãi, kèm thông tin có người mắc kẹt. Ngay sau đó, Đội PCCC và cứu nạn cứu hộ khu vực 5 đã nhanh chóng điều động lực lượng, phương tiện đến hiện trường, đồng thời huy động Đội khu vực 1 đến chi viện.
Tại hiện trường, lực lượng chức năng triển khai nhiều mũi tiếp cận, cắt cửa cuốn để vào bên trong, đồng thời tổ chức chữa cháy và khống chế ngọn lửa. Các chiến sĩ cũng sử dụng thang bộ kết hợp xe thang để tiếp cận khu vực tầng 6, nơi có người mắc kẹt.
Chỉ sau khoảng 9 phút kể từ khi tiếp nhận tin báo, đám cháy đã được dập tắt hoàn toàn. Lực lượng chức năng kịp thời tiếp cận, hướng dẫn và đưa 2 người mắc kẹt thoát ra ngoài an toàn.
Vụ cháy được khống chế nhanh, giúp bảo vệ hơn 90% diện tích căn nhà. Nguyên nhân vụ cháy đang được cơ quan chức năng điều tra, làm rõ.
Hơn hai tháng nữa đến thời hạn TP Hà Nội thực hiện Nghị quyết 57/2025 của HĐND thành phố về thực hiện vùng phát thải thấp (Lez), trong đó cấm xe máy chạy xăng theo khung giờ hoặc trong khu vực xác định thuộc vành đai 1.
Tại cuộc họp báo thường kỳ của UBND thành phố chiều 6/4, Sở Xây dựng cho biết việc cấm xe xăng từ 1/7/2026 được thí điểm theo vùng, kiểm soát khí thải ôtô, xe môtô, xe gắn máy có lộ trình, có phạm vi, thời gian và đối tượng phù hợp, không triển khai đồng loạt trên toàn vành đai 1.
Cấm xe xăng buộc người dân phải chuyển sang xe điện, hoặc sử dụng phương tiện vận tải công cộng. Sở Xây dựng cho hay thành phố đã chuẩn bị từ sớm về năng lực vận tải hành khách công cộng. Hiện vành đai 1 đã có hai tuyến đường sắt đô thị (Cát Linh - Hà Đông và Nhổn - Ga Hà Nội) với tổng công suất khoảng 462.000 lượt hành khách mỗi ngày và 45 tuyến xe buýt trợ giá.
Bên cạnh đó, Hà Nội đang phấn đấu tối đa hóa tỷ lệ xe buýt xanh hoạt động trong vành đai 1 trước thời điểm thí điểm. Dự kiến trong quý II/2026, thành phố sẽ bổ sung nhiều trạm xe đạp công cộng để giải quyết khoảng trống kết nối chặng cuối, đồng thời nghiên cứu mở thêm một số tuyến buýt điện cỡ nhỏ phù hợp với ngõ, phố hẹp trong vành đai.
Sở cũng đang lập phương án bố trí các bãi đỗ tại vị trí cửa ngõ giáp ranh vùng thí điểm để người dân gửi xe cá nhân rồi chuyển sang phương tiện công cộng. Bước đầu, Sở đã rà soát được hơn 210 vị trí trong vành đai 1.
Về hạ tầng trạm sạc và tủ đổi pin, hành lang pháp lý về phòng cháy chữa cháy cho trạm sạc dưới hầm chung cư cũ đang được cấp có thẩm quyền hoàn thành. Song song với đó, Tổ công tác liên ngành của thành phố đã xây dựng phương án ưu tiên triển khai mạng lưới tủ đổi pin nhỏ gọn tại không gian công cộng phù hợp, người dân chỉ mất 2-3 phút đổi pin, giải quyết đồng thời bài toán an toàn phòng cháy chữa cháy và không gian tại các khu tập thể cũ, phố cổ.
Sở Xây dựng đang phối hợp hoàn thiện dự thảo Nghị quyết về chính sách hỗ trợ chuyển đổi phương tiện sử dụng năng lượng sạch để trình HĐND thành phố xem xét. Khung chính sách được đề xuất theo hướng phân rõ đối tượng, đảm bảo nhóm thu nhập thấp không bị thiệt thòi trong quá trình chuyển đổi.
Trước đó hôm 17/3, tại hội thảo "Kinh nghiệm quốc tế trong thúc đẩy chuyển đổi giao thông xanh", bà Lê Thanh Thủy, Phó trưởng phòng Môi trường (Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội) cho biết một trong những định hướng đầu tiên thực hiện Nghị quyết 57/2025 là xác định phạm vi và mục tiêu của vùng phát thải thấp.
Bà Chi cho rằng Hà Nội không thể ngay lập tức làm một cách mạnh mẽ như ở các nước đang có tiền đề về tài chính, công nghệ, chính sách đầy đủ và toàn diện mà thành phố sẽ đi theo con đường từ bé đến lớn.
Cụ thể, thành phố thí điểm vùng phát thải thấp từ ngày 1/7 đến cuối năm 2026. Khu vực thí điểm là "một vành đai rất nhỏ trong vùng lõi của Hoàn Kiếm". Theo bà Chi, bản chất phố đi bộ Hồ Gươm và vùng phụ cận chính là vùng phát thải thấp, giờ sẽ tiếp tục thí điểm và mở rộng hơn.
Giai đoạn tiếp theo Hà Nội sẽ mở rộng ra toàn bộ khu vực trung tâm của phường Hoàn Kiếm, tiếp cận thêm một số phường khác và dần dần mở rộng để lộ trình 3 đến 5 năm tới ra hết vành đai 1 sang vành đai 2 và vành đai 3 như yêu cầu trong Chỉ thị 20 của Thủ tướng.
Chỉ thị số 20 ngày 12/7/2025 của Thủ tướng yêu cầu Hà Nội thực hiện các giải pháp để tổ chức, cá nhân chuyển đổi phương tiện, lộ trình đến ngày 1/7/2026 không có xe môtô, xe gắn máy sử dụng nhiên liệu hóa thạch lưu thông trong vành đai 1; từ ngày 1/1/2028 không có xe môtô, xe gắn máy, hạn chế xe ôtô cá nhân sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong vành đai 1 và 2; từ năm 2030 tiếp tục mở rộng thực hiện trong vành đai 3.
Thực hiện chỉ thị, cuối năm 2025 HĐND thành phố thông qua Nghị quyết 57 về quy định thực hiện vùng phát thải thấp, trong đó từ 1/7/2026, thành phố sẽ cấm xe máy chạy xăng theo khung giờ hoặc trong khu vực xác định thuộc vành đai 1. Theo Luật Thủ đô 2024, vùng phát thải thấp là khu vực được xác định để hạn chế phương tiện giao thông gây ô nhiễm môi trường. Hà Nội xác định xây dựng vùng phát thải thấp là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giảm ô nhiễm không khí - vấn đề thành phố đang đối mặt nhiều năm qua.