U xơ tử cung là bệnh lý phụ khoa khá phổ biến, có thể xuất hiện ở nhiều vị trí trong tử cung như trong cơ, dưới niêm mạc hay dưới thanh mạc. Ở nhiều trường hợp, khối u phát triển âm thầm trong thời gian dài mà không gây triệu chứng rõ ràng, khiến người bệnh dễ chủ quan nếu không thăm khám định kỳ. Khi số lượng u tăng lên hoặc kích thước lớn dần, việc điều trị sẽ trở nên phức tạp hơn và có thể cần can thiệp phẫu thuật.
Ngày 4.4, thạc sĩ bác sĩ chuyên khoa 1 Phạm Tài, Bệnh viện Phương Nam (Thành viên Tập đoàn Y tế Phương Châu) cho biết, ban đầu ê-kíp dự kiến thực hiện phẫu thuật nội soi. Đây là phương pháp ít xâm lấn, giúp người bệnh hồi phục nhanh.
“Tuy nhiên, khi trực tiếp quan sát trong quá trình phẫu thuật, bác sĩ nhận thấy các khối u không chỉ nhiều mà còn nằm ở những vị trí khó tiếp cận, có khối ăn sâu, có khối nằm trong lòng tử cung, nếu tiếp tục nội soi, thời gian phẫu thuật có thể kéo dài, đồng thời làm tăng nguy cơ chảy máu, đặc biệt trong tình trạng bệnh nhân đã có tình trạng thiếu máu trước đó”, bác sĩ cho hay.
Trước tình huống thực tế phức tạp hơn dự đoán bác sĩ Tài cùng ê-kíp đã nhanh chóng đưa ra quyết định ngay trên bàn mổ: Chuyển sang mổ hở nhằm chủ động kiểm soát và đảm bảo xử lý triệt để các khối u. Sự thay đổi kịp thời này giúp ê-kíp thuận lợi hơn trong thao tác, đánh giá đầy đủ tình trạng tử cung và hạn chế nguy cơ chảy máu trong quá trình phẫu thuật.
Nhờ đó, toàn bộ 12 khối u xơ đã được bóc tách trọn vẹn, lượng máu mất được kiểm soát tốt và ca mổ diễn ra an toàn, cho thấy vai trò then chốt của việc đánh giá đúng và quyết định đúng thời điểm trong những ca bệnh phức tạp.
Theo bác sĩ Tài, khi số lượng u nhiều và nằm rải rác như vậy, việc bóc tách không chỉ là lấy từng khối u, mà còn phải đảm bảo không bỏ sót và kiểm soát tốt nguy cơ chảy máu trong suốt quá trình mổ.
“Không phải ca bệnh nào cũng có thể áp dụng một phương pháp giống nhau. Trong nhiều trường hợp, việc cá thể hóa điều trị và linh hoạt thay đổi hướng xử trí ngay trong phòng mổ lại chính là yếu tố quyết định giúp ca phẫu thuật đạt kết quả tốt”, bác sĩ cho hay.
Sau phẫu thuật, sức khỏe chị D. ổn định, hồi phục tốt.
Theo bác sĩ Tài, qua trường hợp chị D. cho thấy một thực tế nhân xơ tử cung có thể phát triển âm thầm trong thời gian dài, số lượng tăng lên mà người bệnh không nhận ra. Khi phát hiện ở giai đoạn muộn hơn, việc điều trị sẽ phức tạp hơn và có thể cần can thiệp lớn.
Bác sĩ khuyến cáo việc chủ động thăm khám phụ khoa định kỳ đóng vai trò quan trọng, không chỉ giúp phát hiện bệnh sớm mà còn giúp bác sĩ theo dõi liên tục, từ đó đưa ra hướng xử trí phù hợp ở từng thời điểm – hạn chế tối đa nguy cơ biến chứng và giúp người bệnh an tâm hơn trong quá trình chăm sóc sức khỏe của mình.
Trung tâm Phẫu thuật nội soi phụ khoa chuyên sâu – xâm lấn tối thiểu Bệnh viện Phương Nam mang đến giải pháp điều trị phụ khoa hiện đại, an toàn và nhẹ nhàng hơn cho phụ nữ. Với định hướng hạn chế xâm lấn, trung tâm giúp giảm đau, ít biến chứng, hồi phục nhanh và tối ưu khả năng bảo tồn chức năng sinh sản. Với đội ngũ bác sĩ đầu ngành giàu kinh nghiệm, trang thiết bị hiện đại cùng phòng mổ đạt chuẩn quốc tế JCI, mỗi ca phẫu thuật không chỉ chính xác mà còn hướng đến chất lượng sống lâu dài, giúp phụ nữ an tâm trở lại nhịp sống thường ngày.
Hưởng ứng Ngày Sức khỏe toàn dân 7-4, Bệnh viện Đa khoa Sơn Uyên (Bắc Ninh) ký kết hợp tác triển khai giải pháp tầm soát rung nhĩ và sàng lọc nguy cơ tai biến, đột quỵ trong cộng đồng.
Việt Nam là một trong những quốc gia có tỉ lệ đột quỵ cao nhất thế giới, với khoảng 200.000 ca mỗi năm. Như vậy, trung bình mỗi ngày tại nước ta có khoảng 548 ca tai biến, đột quỵ. Bên cạnh đó, bệnh đang có xu hướng trẻ hóa.
Đáng lo ngại, nhiều trường hợp xảy ra đột ngột, không có dấu hiệu cảnh báo rõ ràng trước đó. Trong số các nguyên nhân quan trọng, rung nhĩ - một dạng rối loạn nhịp tim - được xem là "thủ phạm thầm lặng" làm gia tăng nguy cơ hình thành cục máu đông, gây tắc mạch máu não dẫn tới đột quỵ.
Theo các nghiên cứu cho thấy rung nhĩ có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ gấp 5 lần, nhưng thường bị bỏ sót vì không xuất hiện liên tục. Ở người trẻ, tình trạng này thường bị nhầm với mệt mỏi hay stress, khiến nhiều ca chỉ được phát hiện khi đã có biến chứng.
Thực tế cho thấy phần lớn người bệnh không biết mình mắc rung nhĩ do triệu chứng mơ hồ, dễ bị bỏ qua. Việc phát hiện thường chỉ diễn ra khi đã xuất hiện biến chứng. Đây chính là khoảng trống mà chương trình hợp tác lần này hướng tới. Theo đó, công nghệ tầm soát rung nhĩ được tích hợp ngay trong máy đo huyết áp gia đình.
Điểm đáng chú ý của công nghệ này là khả năng phát hiện bất thường nhịp tim ngay trong thao tác đo huyết áp thông thường.
Nhờ đó người sử dụng có thể tự theo dõi sức khỏe tim mạch tại nhà, phát hiện sớm dấu hiệu loạn nhịp để đi khám kịp thời, thay vì chỉ phát hiện khi biến chứng đã xảy ra.
Ông Tạ Văn Luận, đại diện đơn vị cung cấp, chia sẻ: "Mỗi chiếc máy đo có chức năng phát hiện rung nhĩ được trao đi là thêm một gia đình được bảo vệ trước bóng đen của tai biến, đột quỵ. Chúng tôi mong muốn góp phần làm giảm con số 548 ca tai biến mỗi ngày trong tương lai gần".
Trong bối cảnh hệ thống y tế đang đối mặt với áp lực lớn từ các bệnh không lây nhiễm, đặc biệt là bệnh tim mạch và đột quỵ, việc ứng dụng công nghệ để phát hiện sớm, can thiệp sớm là hướng đi mang tính bền vững. Các chuyên gia cũng kỳ vọng sẽ phát triển chương trình thành mô hình điểm để nhân rộng tại nhiều địa phương khác.
Khi công nghệ tầm soát rung nhĩ được phổ biến rộng rãi, người dân có thể chủ động hơn trong việc theo dõi sức khỏe tim mạch, qua đó giảm thiểu nguy cơ đột quỵ.
Trong chiến lược chăm sóc sức khỏe hiện đại, y tế dự phòng đang ngày càng được coi trọng. Và đôi khi sự thay đổi lớn lại bắt đầu từ những hành động rất nhỏ như một lần đo huyết áp mỗi ngày.
Để phòng chống bệnh rung nhĩ hiệu quả, các bác sĩ khuyến cáo mỗi người cần xây dựng lối sống lành mạnh: kiểm soát huyết áp, tiểu đường, duy trì cân nặng hợp lý, bỏ thuốc lá, hạn chế rượu bia, caffeine và tập thể dục vừa sức.
Cần giảm ăn mặn, ngủ đủ giấc (7-9 giờ/đêm) và khám sức khỏe tim mạch định kỳ để phát hiện sớm rối loạn nhịp.
Ngày 13/4, đại diện CDC Cà Mau cũng xác nhận trường hợp nghi ngờ thứ ba có kết quả xét nghiệm âm tính với não mô cầu.
Bệnh nhân dương tính đầu tiên vào Bệnh viện Đa khoa Cà Mau chiều 7/4 trong tình trạng lơ mơ, nôn nhiều, cổ gượng và xuất huyết dưới da. Bác sĩ chẩn đoán người này sốt chưa rõ nguyên nhân, theo dõi viêm não - màng não kèm sốc nhiễm khuẩn, đang tiếp tục điều trị.
Tối 8/4, ca dương tính thứ hai nhập viện với biểu hiện sốt cao, lơ mơ, thở nhanh rồi nhanh chóng rơi vào hôn mê sâu. Người bệnh mang nhiều bệnh lý nền, trải qua cơn sốc nhiễm khuẩn đường tiêu hóa và không qua khỏi sáng hôm sau.
Bệnh nhân có kết quả âm tính vào viện ngày 9/4 sau nhiều ngày sốt cao, ho, đau cơ, tụt huyết áp, tràn dịch màng phổi và xuất huyết dưới da. Tuyến y tế cơ sở ban đầu chẩn đoán người bệnh nhiễm trùng huyết, sốt xuất huyết Dengue, viêm phổi nên tiếp tục theo dõi sát sao. Như vậy, ca này được loại trừ bệnh não mô cầu.
Điều tra dịch tễ cho thấy ba người trên cùng trú tại ấp 6, xã Khánh An, từng tiếp xúc với một ca tử vong hồi giữa tháng 3. Bệnh nhân tử vong này cũng có biểu hiện sốt cao, xuất huyết dưới da, tụt huyết áp nhưng bác sĩ chưa kịp lấy mẫu xét nghiệm não mô cầu.
Ngành y tế tỉnh ngay lập tức điều tra dịch tễ, khoanh vùng và xử lý ổ dịch. Lực lượng chức năng yêu cầu những người tiếp xúc gần theo dõi sức khỏe trong 10 ngày, đồng thời khử khuẩn môi trường khu vực có yếu tố dịch tễ. Hiện địa phương chưa ghi nhận thêm ca mắc mới.
Hai ca não mô cầu tại Cà Mau trong số 24 người mắc bệnh này, 4 ca tử vong, tính từ đầu năm đến nay trên cả nước. Bộ Y tế ghi nhận số ca não mô cầu đang cao bất thường so với cùng kỳ năm ngoái (nhiều hơn 14 ca), cảnh báo nguy cơ dịch và khuyến cáo người dân áp dụng các biện pháp phòng bệnh.
Vi khuẩn não mô cầu gây bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, tiến triển rất nhanh. Bệnh nhân đối mặt nguy cơ tử vong cao hoặc chịu nhiều di chứng nặng nề nếu bác sĩ không phát hiện và can thiệp kịp thời. Bệnh xuất hiện quanh năm tại Việt Nam, thường gia tăng vào các mùa thu, đông và xuân.
Phòng bệnh bằng cách giữ vệ sinh cá nhân và môi trường, đeo khẩu trang. Khi có các dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh như sốt cao, đau đầu, buồn nôn, cổ cứng, nổi ban xuất huyết, cần đến cơ sở y tế điều trị kịp thời.
"Bối cảnh già hóa dân số, đô thị hóa nhanh và thay đổi lối sống như hút thuốc, thừa cân béo phì, ít vận động được xem là những yếu tố góp phần làm tăng số ca mắc", PGS.TS.BS. Bùi Diệu, Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, nói tại Hội thảo khoa học về Ung thư (Oncology Summit) do AstraZeneca Việt Nam phối hợp Hội Ung Thư tổ chức, hôm 11/4.
Hiện, mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng 180.000 ca ung thư mới và hơn 120.000 ca tử vong do ung thư. Tỷ suất mắc - tử vong ở mức 150,8 và 99 trên 100.000 dân, phản ánh gánh nặng bệnh tật ngày càng gia tăng đối với hệ thống y tế cũng như toàn xã hội. Theo dự báo gánh nặng ung thư toàn cầu đăng trên tạp chí The Lancet, số ca ung thư tại Việt Nam có thể tăng 60-70% trong khoảng 25 năm tới.
Các loại ung thư phổ biến gồm vú, gan, phổi, đại trực tràng và dạ dày. Xu hướng trẻ hóa ở một số bệnh như ung thư vú và ung thư đại trực tràng, đặt ra thách thức mới về tầm soát sớm, chẩn đoán và điều trị.
Tỷ lệ tử vong do ung thư ở Việt Nam cao do bệnh thường được phát hiện ở giai đoạn muộn, dẫn đến hiệu quả điều trị hạn chế. Ngoài ra, những ung thư phổ biến nhất ở người Việt lại là loại có tiên lượng xấu như ung thư gan,phổi.
Dưới áp lực gánh nặng ung thư ngày càng gia tăng và xu hướng trẻ hóa bệnh nhân tại Việt Nam, PGS Diệu cho rằng ứng dụng các tiến bộ y học không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả điều trị.
"Thúc đẩy y học chính xác, với trọng tâm là cá thể hóa phác đồ điều trị, mở ra một kỷ nguyên chăm sóc y tế dựa trên bằng chứng và đặc điểm riêng của từng người bệnh", PGS Diệu nói. Chìa khóa cho kỷ nguyên này nằm ở việc triển khai các kỹ thuật chẩn đoán tiên tiến. Ví dụ, sinh thiết lỏng trong xét nghiệm sinh học phân tử, kết hợp hạ tầng dữ liệu số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chẩn đoán, theo dõi.
Tại hội nghị, TS.BS Jomtana Siripaibun, Giám đốc Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Chulabhorn (Thái Lan) cho hay thúc đẩy hội chẩn đa chuyên khoa (MDT) số hóa và sinh thiết lỏng là nền tảng cho cá thể hóa điều trị ung thư bằng y học chính xác. Các nghiên cứu quốc tế cho thấy bệnh nhân ung thư có thể cải thiện thời gian sống thêm hơn 15 tháng nếu áp dụng MDT vào chẩn đoán và điều trị so với không áp dụng.
Tuy nhiên, có nhiều nguyên nhân dẫn tới việc vận hành MDT chưa được thường quy, trong đó có thiếu hạ tầng số khiến dữ liệu bị phân tán. Giải pháp được các chuyên gia quốc tế chia sẻ nằm ở việc triển khai các nền tảng MDT số hóa, kết nối trực tiếp với hồ sơ bệnh án điện tử để theo dõi kết quả điều trị theo thời gian thực.
MDT là chiến lược sống còn trong điều trị ung thư, và chuyển đổi số là điều kiện bắt buộc để mô hình này vận hành bền vững. "Khi triển khai nền tảng MDT số hóa kết nối dữ liệu lâm sàng, chúng tôi ghi nhận quy trình chuẩn bị ca bệnh hiệu quả hơn và hồ sơ điều trị đầy đủ, nhất quán hơn", bà nói. Điều quan trọng là bắt đầu từ một nhóm bệnh ưu tiên và một quy trình hội chẩn chuẩn, theo dõi đầy đủ, để từng bước xây dựng năng lực hệ thống cho chăm sóc ung thư hiện đại.
Còn TS.BS Chien-Feng Li, Trưởng khoa Giải phẫu bệnh lâm sàng và Xét nghiệm Trung tâm Y tế Chi Mei, Giáo sư Trường Y khoa, Đại học Quốc gia Sun Yat-sen, Đài Loan, đánh giá những tiến bộ trong sinh thiết lỏng và trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo nên chuyển đổi mang tính bước ngoặt trong chẩn đoán và điều trị ung thư. Cách tiếp cận này giúp lựa chọn điều trị phù hợp hơn cho từng người bệnh và tối ưu hóa hiệu quả điều trị, chăm sóc.