PGS-TS Nguyễn Quốc Bảo (Học viện Báo chí – Tuyên truyền) cho rằng khi nói “quan trọng hơn là để xây” thì không có nghĩa xem nhẹ việc “chống”, mà là sự nhấn mạnh đặc biệt vào nhiệm vụ chiến lược, lâu dài.
Thực tế trong công tác xây dựng Đảng, Đảng luôn coi trọng cả việc xây và chống, vừa kiên quyết chống các biểu hiện tiêu cực làm ảnh hưởng đến uy tín và thanh danh của Đảng, vừa ra sức xây dựng Đảng luôn thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiên phong và sứ mệnh của Đảng cầm quyền.
Tuy nhiên, theo ông Bảo, thực tế công tác xây dựng Đảng vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Nhiều biểu hiện tiêu cực, tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống vẫn diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Điều đó không chỉ làm tổn hại đến uy tín của Đảng mà còn khiến cho niềm tin của nhân dân với Đảng bị giảm sút. Chính vì vậy, cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh các cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, với quy định mới về công tác chính trị tư tưởng, Đảng đặc biệt nhấn mạnh việc tăng cường, làm tốt hơn nữa nhiệm vụ “xây”.
PGS-TS Nguyễn Quốc Bảo cho rằng khi mỗi cán bộ, đảng viên được rèn luyện nêu gương và tu dưỡng đạo đức suốt đời theo gương Bác Hồ, họ sẽ tự hình thành một “sức đề kháng tự nhiên” trước các luồng tư tưởng sai trái và ảnh hưởng tiêu cực. Do đó, yêu cầu cần thiết đối với cán bộ, đảng viên là kiên định về mục tiêu, lý tưởng; luôn đặt lợi ích của dân tộc, giai cấp, nhân dân lên trên hết, trước hết và phải nêu gương đạo đức, tu dưỡng đạo đức suốt đời; nêu cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân để xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh.
Đồng quan điểm, ông Hoàng Ngọc Đạo, Trưởng khoa Lý luận cơ sở, Trường Chính trị tỉnh Khánh Hòa, nhấn mạnh: xây về bản chất cũng có nghĩa là chống.
“Trên mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng, chúng ta sẽ xây dựng nhiều tấm gương, nhiều hình ảnh, nhiều việc làm tốt đẹp để xây dựng niềm tin lòng tin trong quần chúng nhân dân, trong cán bộ đảng viên và hình ảnh của VN trước bạn bè quốc tế. Chúng ta đẹp như vậy thì không có cái gì để kẻ thù nói xấu, tức là chống rồi”, ông Đạo nói và nhấn mạnh tư duy này tương đồng với nguyên lý dùng sự tích cực để đẩy lùi tiêu cực một cách tự nhiên và bền vững.
Để công tác chính trị thực sự giữ vai trò “đi trước, mở đường”, theo PGS-TS Nguyễn Quốc Bảo, công tác chính trị, tư tưởng phải luôn làm tốt và thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ những thời cơ, vận hội cũng như khó khăn, thách thức, để từ đó luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định công cuộc đổi mới.
Cạnh đó, cần khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào tự tôn dân tộc; cùng chung tay chung sức quyết tâm xây dựng, phát triển đất nước ngày càng phồn vinh, giàu mạnh; đồng thời kiên quyết đấu tranh, làm rõ những âm mưu thủ đoạn chống phá cách mạng của các thế lực thù địch, phản động, đặc biệt trên không gian mạng; từ đó nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại những toan tính của các lực lượng phản động, thù địch.
Công tác chính trị, tư tưởng, đặc biệt là công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tham mưu cần chỉ ra những điểm nghẽn, nút thắt đặt ra cả về KT-XH, từ đó đề xuất những giải pháp từng bước tháo gỡ một cách có hiệu quả để tiếp tục phát triển.
Quy định mới về công tác chính trị, tư tưởng được ban hành với mục tiêu khắc phục hiệu quả tình trạng “nói không đi đôi với làm”, hiểu rõ, nắm được đường lối, chủ trương nhưng không thực hiện; tạo động lực cho cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám bứt phá vì lợi ích chung; giải quyết dứt điểm tình trạng “luật đúng nhưng làm khó” đang gây lãng phí nguồn lực.
Bà Nguyễn Thị Việt Nga, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội TP.Hải Phòng, thẳng thắn nhìn nhận trong không ít lĩnh vực, không thiếu chủ trương đúng, thậm chí rất đúng; không thiếu quy định pháp luật, cũng không thiếu các chương trình hành động được xây dựng công phu; nhưng khoảng cách từ “đúng” đến “được thực hiện” vẫn còn khá xa.
Một bộ phận cán bộ nắm rõ quy định, hiểu rõ yêu cầu nhưng triển khai chậm, né tránh, thậm chí đùn đẩy trách nhiệm. Điều này không chỉ làm giảm hiệu lực, hiệu quả của chính sách mà còn bào mòn niềm tin của người dân và doanh nghiệp.
Để khắc phục tình trạng này, bà Nga cho rằng cần tiếp cận từ cả 2 chiều: siết chặt trách nhiệm thực thi và đồng thời tạo dựng môi trường để cán bộ dám hành động. Theo đó, bà Nga đề nghị cần thiết lập một cơ chế ràng buộc trách nhiệm cá nhân rõ ràng, cụ thể và có thể đo lường được.
Mọi chủ trương, chính sách khi ban hành phải đi kèm với địa chỉ trách nhiệm: ai chịu trách nhiệm chính, ai phối hợp, thời hạn hoàn thành là khi nào, tiêu chí đánh giá ra sao. “Không thể để tình trạng báo cáo chung chung, “đúng quy trình” nhưng không phản ánh được hiệu quả thực chất”, bà Nga nêu.
Cùng với đó, bà Nga cho rằng cần tăng cường cơ chế hậu kiểm và xử lý trách nhiệm. “Nếu “nói không đi đôi với làm” mà không có hệ quả rõ ràng thì rất khó tạo chuyển biến. Việc đánh giá cán bộ cần chuyển mạnh từ “đánh giá quá trình” sang “đánh giá kết quả”, lấy sản phẩm cụ thể và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo”, bà Nga phân tích.
Tuy nhiên, theo nữ đại biểu, siết kỷ luật thôi là chưa đủ vì một nguyên nhân sâu xa của tình trạng “biết nhưng không làm” là tâm lý e ngại rủi ro, sợ sai, sợ trách nhiệm của không ít cán bộ. Do đó, bà đề nghị cần sớm hoàn thiện khung thể chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
“Trước hết là làm rõ ranh giới giữa “sai phạm vì vụ lợi” và “rủi ro trong quá trình đổi mới, sáng tạo”. Những quyết định được đưa ra trên cơ sở vì lợi ích chung, có căn cứ, có quy trình, dù kết quả chưa như mong muốn, cần được nhìn nhận một cách công tâm, khách quan”, bà Nga kiến nghị.
TS Nguyễn Viết Chức, Phó chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Văn hóa – xã hội, Ủy ban T.Ư MTTQ VN, thì cho rằng để khắc phục tình trạng “nói không đi đôi với làm” cần giải quyết 2 điểm mấu chốt: tăng cường công khai, minh bạch và phải thay đổi cách đánh giá cán bộ.
“Minh bạch, công khai là phương thuốc tốt nhất. Minh bạch không chỉ giúp cán bộ không dám làm sai, mà còn giúp họ tự tin làm đúng. Đây còn là cơ sở quan trọng để người dân có đủ căn cứ để mà tham gia giám sát, bảo vệ cán bộ”, ông Chức nói và kiến nghị cần công khai, minh bạch tất cả quy trình, thủ tục hành chính cũng như tài sản cán bộ.
Về đánh giá cán bộ, TS Nguyễn Viết Chức đồng tình phải có cơ chế khuyến khích đổi mới, sáng tạo, bảo vệ người dám nghĩ, dám làm. “Chính phủ đã có nghị định về bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, song dường như vẫn chưa thực sự thẩm thấu vào đời sống.
Sau Hội nghị T.Ư 2, cần có đề án để tuyên truyền, triển khai đến từng cấp cơ sở, từng đảng viên, và với cả từng người dân. Người dân không thể đứng ngoài cuộc mà cần thực hiện giám sát, phản biện, đó cũng là cách thức để bảo vệ cán bộ”, ông Chức nói.
Sau cùng, yếu tố con người vẫn là then chốt. Theo bà Việt Nga, cùng với hoàn thiện thể chế, cần xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh, có năng lực và có đạo đức công vụ.
Khi mỗi cán bộ ý thức rõ trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân, đồng thời được đặt trong một hệ thống thể chế minh bạch, công bằng, thì thông điệp “nói đi đôi với làm” sẽ không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu, mà trở thành chuẩn mực hành động trong bộ máy.
Tại buổi lễ, Phó chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Phạm Thanh Hà đã công bố quyết định của Chủ tịch nước bổ nhiệm chức danh thẩm phán Tòa án nhân dân (TAND) tối cao đối với các ông, bà: Nguyễn Hải Trâm, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Phó bí thư thường trực Đảng ủy TAND tối cao;
Nguyễn Văn Cường, thẩm phán TAND bậc 3, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội; Lê Hưng Dũng, thẩm phán TAND bậc 3, Chánh án TAND tỉnh Khánh Hòa;
Lê Thanh Phong, thẩm phán TAND bậc 3, Chánh án TAND TP.Hồ Chí Minh; Đỗ Mạnh Tăng, thẩm phán TAND bậc 3, Chánh án TAND tỉnh Hưng Yên;
Nguyễn Hải Thanh, thẩm phán TAND bậc 3, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội; Nguyễn Hữu Tuyến, thẩm phán TAND bậc 3, Chánh án TAND tỉnh Quảng Trị; Đỗ Thị Hải Yến, thẩm phán TAND bậc 3, Vụ trưởng Vụ Giám đốc, kiểm tra về dân sự TAND tối cao.
Phó chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Phạm Thanh Hà cũng công bố quyết định bổ nhiệm thẩm phán TAND tối cao Nguyễn Hải Trâm, giữ chức vụ Phó chánh án TAND tối cao.
Tại buổi lễ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu TAND cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, thực chất, hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu phát triển và kỳ vọng của nhân dân.
Mỗi thẩm phán phải thực sự độc lập trong xét xử, chỉ tuân theo pháp luật; không để bất kỳ áp lực nào chi phối hoạt động xét xử; không để lợi ích cá nhân, quan hệ riêng tư làm ảnh hưởng đến sự công tâm, khách quan của phán quyết.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý mỗi bản án, quyết định phải bảo đảm đúng pháp luật, thấu tình, đạt lý, có sức thuyết phục và có tác dụng giáo dục, định hướng xã hội; cần tiếp tục hạn chế tối đa các trường hợp án bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan; tuyệt đối không để xảy ra oan, sai.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu phát huy vai trò của TAND tối cao trong việc bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và tham gia hoàn thiện thể chế.
Các thẩm phán TAND tối cao không chỉ thực hiện tốt nhiệm vụ xét xử, mà còn có trách nhiệm tổng kết thực tiễn, phát triển án lệ, góp phần định hướng áp dụng pháp luật trong toàn hệ thống và tham gia xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Phán quyết của TAND tối cao phải thực sự có giá trị chuẩn mực, có tính dẫn dắt và định hướng thực tiễn.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu mỗi phán quyết của tòa án phải góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ lẽ phải, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, vào chế độ xã hội chủ nghĩa, vào sự công bằng và nghiêm minh của pháp luật.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định, uy tín của tòa án không chỉ được thể hiện qua số lượng vụ việc được giải quyết, mà quan trọng hơn là ở việc công lý có được thực thi nghiêm minh, công bằng trong thực tiễn hay không.
Công lý phải được thể hiện trong từng bản án đúng pháp luật, trong từng quyết định công tâm, khách quan, trong từng ứng xử chuẩn mực của người thẩm phán; phải góp phần bảo vệ cái đúng, bác bỏ cái sai, xử lý nghiêm minh cái xấu, cái ác.
Niềm tin của nhân dân được vun đắp từ chính những phán quyết cụ thể, từ sự công tâm, khách quan và liêm chính trong hoạt động xét xử.
Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Thưa đồng chí Chủ tịch Quốc hội, các vị đại biểu Quốc hội,
Thưa toàn thể đồng bào, đồng chí, cử tri cả nước và bạn bè quốc tế.
Trong giờ phút thiêng liêng, trang trọng của lễ nhậm chức Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tôi chân thành cảm ơn cử tri và nhân dân cả nước, với tinh thần trách nhiệm, khát vọng xây dựng quê hương đất nước và niềm tin son sắt vào Đảng Cộng sản Việt Nam, đã làm nên kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 rất thành công. Đây là sự hội tụ từ lịch sử ngàn năm Văn hiến của dân tộc, hun đúc hào khí, quyết tâm mãnh liệt, để hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm, để đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, là nước xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Tôi trân trọng cảm ơn Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tin cậy giới thiệu tôi đảm nhận cương vị Chủ tịch nước và Quốc hội đã tín nhiệm bầu, giao cho tôi trọng trách này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, lãnh tụ thiên tài của Đảng ta và dân tộc ta; đối với các bậc tiền bối, các chiến sĩ Cách mạng, các đảng viên Cộng sản, của hàng triệu Anh hùng liệt sĩ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, vì Chủ nghĩa xã hội và nghĩa vụ quốc tế cao cả; của lớp lớp nhân dân, những người đã quên mình trong lao động, sáng tạo, đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc Việt Nam.
Tôi ý thức sâu sắc, đảm nhiệm trọng trách Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, là vinh dự hết sức lớn lao, là trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng, cao cả, đồng thời cũng là sự tin tưởng, kỳ vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đối với người đứng đầu Đảng và Nhà nước. Tôi sẽ cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đặc biệt là tập thể Ban Chấp hành Trung ương, đưa con thuyền cách mạng vượt qua mọi sóng to gió lớn, sớm về đích, hoàn thành tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ước vọng của dân tộc "Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới".
Trong bối cảnh tình hình có nhiều thách thức mang tính thời đại, trong nước triển khai nhiều chủ trương chiến lược với các mục tiêu lớn có ý nghĩa lịch sử, ưu tiên hàng đầu của tôi trên cương vị Tổng Bí thư - Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là"Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững; nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân, để nhân dân được thụ hưởng mọi thành quả của phát triển; gia tăng đóng góp của Việt Nam cho hòa bình, ổn định, phát triển, tiến bộ ở khu vực và thế giới".
Cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tập trung xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự lực, tự cường; nền quốc phòng - an ninh toàn dân, toàn diện và hiện đại; hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; xã hội phát triển, đoàn kết, văn hóa và nhân văn. Kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới, thực hiện tự chủ chiến lược, lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển nhanh, bền vững đất nước. Xác lập mô hình tăng trưởng mới với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, phát triển toàn diện con người Việt Nam, phát triển nhân lực chất lượng cao, trình độ cao đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Hoàn thiện mô hình, cơ chế, chính sách quản lý phát triển xã hội hiện đại, toàn diện, bao trùm, bền vững. Xây dựng kỷ luật trách nhiệm, kỷ luật thực thi, nói đi đôi với làm, làm đến cùng, làm vì nhân dân, kết quả công việc phải hiệu quả, thực chất trong toàn hệ thống chính trị.
Triển khai công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế ở tầm cao mới, đóng góp hiệu quả hơn vào những mục tiêu chiến lược của đất nước và thể hiện trách nhiệm lớn hơn đối với hòa bình và phát triển của thế giới; với phương châm "Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc; lấy hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường là nền tảng; đặt người dân là trung tâm của mọi chính sách; coi đóng góp cho cộng đồng quốc tế là trách nhiệm"; đưa đất nước ta hòa cùng dòng chảy của nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại.
Hoàn thiện và triển khai Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược an ninh quốc gia đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia trong kỷ nguyên mới. Ưu tiên tăng cường tiềm lực, thực hiện tự chủ chiến lược về quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đủ sức chủ động loại trừ từ sớm, từ xa mọi nguy cơ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia trong mọi tình huống. Củng cố môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh ở tầm mức cao, đóng góp vào hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.
Trong thực hiện nhiệm vụ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, trọng tâm hàng đầu là quán triệt sâu sắc, thực hành triệt để quan điểm "Dân là gốc", phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của nhân dân, huy động sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mục tiêu cao nhất, đích đến cuối cùng là nhân dân được thụ hưởng thành quả của phát triển.
Tôi mong muốn nhận được sự phối hợp chặt chẽ của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các ban, bộ, ngành, địa phương và đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài, để tôi hoàn thành sứ mệnh cao cả nhất của người đứng đầu nhà nước: bảo vệ, xây dựng, phát triển Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và phục vụ nhân dân.
Với truyền thống nghìn năm dựng nước, giữ nước và những giá trị di sản vĩ đại từ cha ông, với khát vọng vươn lên không ngừng, ý chí sắt đá và bản lĩnh kiên cường, với chân lý "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một", với quyết tâm không thể để đất nước tụt hậu, không thể để nhân dân mất cơ hội phát triển, phải hành động vì tương lai lâu dài và tươi sáng cho dân tộc, với sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, nhất định Việt Nam sẽ viết tiếp những chương mới rực rỡ trong hành trình phát triển, hoàn thành các mục tiêu chiến lược đã đề ra.
Một lần nữa, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc về việc Đảng, Nhà nước, Quốc hội, nhân dân đã tin cậy giao cho tôi trọng trách lớn.
Chúc các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đồng chí lão thành cách mạng, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các vị đại biểu Quốc hội, các vị khách quý và toàn thể nhân dân sức khỏe, hạnh phúc.
Theo thông cáo của Bộ Ngoại giao, nhận lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình và phu nhân, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ thăm cấp nhà nước đến Trung Quốc từ ngày 14 - 17.4.
Quan hệ Việt - Trung thời gian qua tổng thể duy trì đà phát triển tích cực và đạt nhiều kết quả quan trọng. Năm 2025, trong bối cảnh kỷ niệm 75 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt - Trung, trao đổi chiến lược cấp cao được tăng cường, các chuyến thăm giữa các lãnh đạo chủ chốt với tần suất chưa từng có.
Từ đầu năm 2026 đến nay, hai bên tiếp tục trao đổi, tiếp xúc cấp cao với nhiều hình thức linh hoạt. Lãnh đạo chủ chốt hai nước trao đổi điện mừng nhân dịp kỷ niệm 76 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao.
Hợp tác kinh tế - thương mại, đầu tư và du lịch nhìn chung đạt kết quả tích cực. Năm 2025, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam; Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN và là đối tác thương mại thứ 4 của Trung Quốc trên thế giới theo tiêu chí quốc gia với kim ngạch thương mại Việt - Trung đạt 256,4 tỉ USD, tăng 24,8%; ta xuất khẩu 70,4 tỉ USD, tăng 14,8%; nhập khẩu 186 tỉ USD, tăng 29%.
Trong 2 tháng đầu năm 2026, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch thương mại Việt - Trung 66,7 tỉ USD, tăng 30,2%; xuất khẩu 17,4 tỉ USD, tăng 32,5%; nhập khẩu 49,3 tỉ USD, tăng 29,4%.
Về đầu tư, năm 2025, Trung Quốc đứng thứ 2 về tổng số vốn đăng ký với 5,96 tỉ USD, tăng 33,4%.
Về du lịch, năm 2025, Việt Nam đón 5,28 triệu lượt khách Trung Quốc, tăng 41,3%, chiếm 25% tổng lượt khách quốc tế đến Việt Nam, đứng đầu về tổng lượt khách quốc tế đến Việt Nam.