Mục Lục
ToggleNgày 7-4, Công an Hà Nội thông tin về vụ cháy nhà xảy ra vào rạng sáng cùng ngày tại xã Bình Minh.
Theo đó, khoảng 1h16, hỏa hoạn bùng lên tại nhà dân số 249 thôn Thượng, xã Bình Minh.
Tại hiện trường, đám cháy xuất phát tại khu vực tầng 1, tỏa nhiều khói, khí độc, có nguy cơ lan lên các tầng phía trên.
Trung tâm thông tin chỉ huy Công an thành phố Hà Nội đã điều động 4 xe chữa cháy của các Đội chữa cháy và cứu nạn cứu hộ khu vực số 4 và số 33 cùng 24 cảnh sát đến hiện trường.
Qua trinh sát nắm tình hình, xác định bên trong nhà có người mắc kẹt, chỉ huy chữa cháy chỉ đạo cán bộ, chiến sĩ sử dụng bình thở và các thiết bị chuyên dụng tiếp cận các tầng nhà để tìm kiếm cứu nạn.
Đồng thời lực lượng chữa cháy triển khai đội hình chữa cháy từ nhiều hướng, ngăn chặn cháy lan sang các khu vực xung quanh.
Sau khoảng 17 phút, đám cháy được dập tắt hoàn toàn, không gây thiệt hại về người.
Lực lượng chức năng đã kịp thời cứu và đưa 2 nạn nhân mắc kẹt ra vị trí an toàn.
Hiện vụ cháy đang được làm rõ nguyên nhân.
Tin Gốc: https://tuoitre.vn/cuu-2-nguoi-mac-ket-trong-dam-chay-nha-dan-luc-rang-sang-20260407074056883.htm
Thời Sự
Vụ 42 cây mai vàng ở Côn Đảo: Phải chứng minh lâm sản, mới xử phạt được

Trao đổi với PV Báo Thanh Niên ngày 9.4, ông Nguyễn Thái Hậu, Phó hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo (gọi tắt Hạt Kiểm lâm) cho biết đơn vị đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với ông Đ.V.T (36 tuổi, ở đặc khu Côn Đảo, TP.HCM) 3 triệu đồng và tịch thu 42 cây mai vàng.
Hôm 2.4, tổ tuần tra liên ngành (do Hạt Kiểm lâm chủ trì cùng Công an đặc khu Côn Đảo và Ban Chỉ huy phòng thủ Khu vực 6 đặc khu Côn Đảo) thực hiện kế hoạch kiểm tra, truy xuất nguồn gốc lâm sản tại địa chỉ số 36 Tôn Đức Thắng, khu 5, đặc khu Côn Đảo.
Tại đây, lực lượng phát hiện 42 cây mai vàng do ông T. cất giữ, chăm sóc. Ông T. khai nhận đã mua 45 cây từ đất liền vận chuyển ra đảo, trong quá trình chăm sóc có 3 cây bị chết, số còn lại 42 cây có tổng khối lượng 0,38 m³.
Theo ông Hậu, mai vàng là cây thân gỗ phân bố trong rừng tự nhiên tại Côn Đảo, đồng thời cũng được người dân trồng, nhân giống làm cây kiểng phục vụ làm cảnh tại nhà, mua bán ngoài thị trường.
Vậy, việc xử phạt trên đã đúng với quy định pháp luật chưa? Trao đổi với PV BáoThanh Niên, luật sư Lê Văn Hoan, Đoàn luật sư TP.HCM, dẫn định nghĩa lâm sản theo khoản 16 điều 2 luật Lâm nghiệp 2017 (được sửa đổi năm 2025): "Lâm sản là sản phẩm khai thác từ rừng bao gồm thực vật rừng, động vật rừng và các sinh vật rừng khác gồm cả gỗ, lâm sản ngoài gỗ, sản phẩm gỗ, song, mây, tre, nứa đã chế biến".
Định nghĩa này chứa đựng một yếu tố quan trọng, đó là có nguồn gốc từ rừng. Một thực vật chỉ được xem là lâm sản khi nó được khai thác từ hệ sinh thái rừng. Đối với cây mai vàng, nếu đây là cây do người dân tự trồng trong vườn nhà, không phải đất rừng, hoặc được mua bán thương mại từ các nhà vườn kiểng có nguồn gốc rõ ràng, thì chúng mang bản chất một loại cây cảnh. Vì thế, đây là một tài sản dân sự, không phải là "lâm sản" theo định nghĩa của luật Lâm nghiệp.
"Tôi cho rằng việc Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo kết luận ông T. vi phạm khoản 6 điều 9 luật Lâm nghiệp về hành vi "tàng trữ... lâm sản trái quy định" mà chưa làm rõ các gốc mai này có nguồn gốc từ rừng là thiếu cơ sở", luật sư Hoan nêu ý kiến.
Một trong những nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính được quy định tại khoản 1 điều 3 luật Xử lý vi phạm hành chính đó là người xử phạt phải có trách nhiệm chứng minh có hành vi vi phạm. Đây là nghĩa vụ của người xử phạt. Còn người bị xử phạt có quyền chứng minh mình không vi phạm. Việc chứng minh mình không vi phạm của người bị xử phạt là quyền chứ không phải nghĩa vụ, nghĩa là không bắt buộc.
"Nguyên tắc này không chỉ áp dụng trong xử lý vi phạm hành chính mà ngay cả trong lĩnh vực hình sự cũng vậy. Nghĩa là bên buộc tội phải có nghĩa vụ chứng minh hành vi phạm tội", luật sư Hoan nhấn mạnh.
Cũng theo luật sư Hoan, việc ông T. cất giữ, chăm sóc gốc mai là một sự thật khách quan, nhưng sự thật đó chỉ trở thành "hành vi vi phạm" nếu cơ quan chức năng chứng minh được đối tượng đó là lâm sản bất hợp pháp. "Nếu không chứng minh được nguồn gốc từ rừng, thì không thể áp dụng các chế tài về lâm nghiệp để xử lý tài sản của công dân", luật sư Hoan nói.
Cơ quan chức năng đang dựa vào việc ông T. không có bảng kê lâm sản theo quy định tại Thông tư 26 năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, được bổ sung bởi Thông tư 84 năm 2025 Bộ Nông nghiệp và Môi trường (về truy xuất nguồn gốc lâm sản) để làm căn cứ xử phạt. Tuy nhiên, về vấn đề này, luật sư cho rằng cần xem xét kỹ đối tượng phải lập bảng kê.
Bởi tại khoản 9 điều 3 Thông tư 26 quy định: "Bảng kê lâm sản là bảng kê khai, mô tả thông tin chi tiết về: gỗ nguyên liệu, sản phẩm gỗ, cây thân gỗ; thực vật rừng ngoài gỗ; động vật rừng, sản phẩm của động vật rừng; thực vật rừng ngoài gỗ; động vật, sản phẩm của động vật, thực vật ngoài gỗ, sản phẩm của thực vật ngoài gỗ thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm, Phụ lục CITES. Bảng kê lâm sản không áp dụng đối với giống cây trồng lâm nghiệp và loài thủy sản thuộc Phụ lục CITES".
Theo kiểm lâm, ông T. vi phạm khoản 6 điều 9 luật Lâm nghiệp năm 2017 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025). Đồng thời, tại biên bản vi phạm hành chính lập ngày 2.4, ông T. có đề nghị sẽ cung cấp hóa đơn chứng từ mua bán số mai trên cho Hạt Kiểm lâm vào ngày hôm sau. Nhưng đến nay, ông T. không cung cấp được hóa đơn, chứng từ, bảng kê lâm sản hợp lệ theo quy định. Do đó, Hạt Kiểm lâm quyết định xử phạt theo Nghị định số 35 năm 2019 (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 07 năm 2022). Theo luật sư Hoan, cần phải xem xét lại vấn đề này.
"Gốc rễ vấn đề trong trường hợp này là Hạt kiểm lâm phải có nghĩa vụ chứng minh 42 gốc mai đó là lâm sản. Chỉ khi nào chứng minh được thì mới có căn cứ áp dụng chế tài như xử phạt hành chính và tịch thu tang vật", luật sư Hoan chia sẻ.
Nếu 42 gốc mai của ông T. là mai vườn, được trồng và bứng từ đất thổ cư hoặc đất vườn của hộ gia đình (không phải đất rừng), thì không có cơ sở xử phạt.
Trường hợp không chứng minh được 42 gốc mai là lâm sản, thì phải mặc định đó là tài sản dân sự hợp pháp. Do đó, việc tịch thu tang vật là 42 gốc mai và phạt ông T. 3 triệu đồng khi chưa chứng minh được tính chất "lâm sản" là không đảm bảo tính pháp lý.
Đồng tình với luật sư Hoan, luật sư Hoàng Hà (Đoàn luật sư TP.HCM) cho rằng kiểm lâm muốn chứng minh 42 cây mai là lâm sản để xử phạt thì cần phải thực hiện nhiều bước nghiệp vụ.
"Việc xác minh phải thể hiện bằng văn bản và có thể trưng cầu giám định. Vì vậy trong vụ này, kiểm lâm không thể chỉ dừng ở việc ghi nhận ông T. không xuất trình được bảng kê lâm sản, rồi suy ra ngay hành vi tàng trữ lâm sản trái pháp luật", luật sư Hoàng Hà nói.
Lẽ ra, việc kiểm lâm phải làm là xác định đúng đối tượng quản lý. Muốn áp dụng chế tài lâm nghiệp thì phải có căn cứ cho thấy 42 cây mai thuộc loại "thực vật rừng ngoài gỗ". Tức là lâm sản theo luật Lâm nghiệp và Thông tư 26 năm 2025.
Nếu còn lấn cấn giữa "mai rừng" và "mai vườn" thì cơ quan xử lý phải thu thập lời khai về nơi mua, người bán, địa điểm bứng cây, phương thức vận chuyển, chứng từ giao dịch, người làm chứng, đặc điểm thực vật học của cây. Cũng có thể trưng cầu chuyên môn nếu cần để làm rõ cây có nguồn gốc từ rừng, hay chỉ là cây cảnh do nhà vườn trồng.
"Chỉ sau khi qua bước nhận diện này mới có thể nói tới nghĩa vụ lập bảng kê lâm sản theo điều 11 Thông tư 26 năm 2025", luật sư Hoàng Hà nhấn mạnh.
Sau khi làm các bước trên, nếu có căn cứ xử phạt, thì kiểm lâm phải lập hồ sơ xử phạt đầy đủ, trong đó có biên bản vi phạm, tài liệu xác minh, chứng cứ nguồn gốc, lời khai của đương sự và các giấy tờ liên quan.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/vu-42-cay-mai-vang-o-con-dao-chua-du-can-cu-de-xu-phat-185260410104829808.htm

Ngày 8.4, Trung tâm Dịch vụ việc làm Khánh Hòa cho biết nhu cầu tuyển dụng lao động tháng 4.2026 tập trung vào 3 nhóm ngành chủ lực. Trong đó, lĩnh vực sản xuất - chế biến dẫn đầu với 3.710 vị trí, tiếp đến là xây dựng với 2.038 vị trí và du lịch - nhà hàng - khách sạn với 599 vị trí. Diễn biến này phản ánh rõ đà phục hồi của ngành du lịch Khánh Hòa trước mùa hè.
Ngoài ra, các doanh nghiệp còn đăng ký tuyển dụng 420 vị trí các ngành nghề khác và 31 vị trí thuộc lĩnh vực thông tin truyền thông. Mức lương phổ biến dao động từ 5 - 38 triệu đồng/tháng, tùy theo vị trí và năng lực ứng viên.
Đối với xuất khẩu lao động, toàn tỉnh có nhu cầu tuyển 1.290 người đi làm việc tại các thị trường trọng điểm. Trong đó, thị trường Nhật Bản cần 530 lao động, Algeria 500 lao động, Romania 150 lao động và các thị trường khác 110 lao động. Các ngành nghề tuyển dụng khá đa dạng như chế biến thực phẩm, gia công cơ khí, bảo dưỡng ô tô, trồng nấm, gia công sắt thép, may, hộ lý...
Theo Trung tâm Dịch vụ việc làm Khánh Hòa, thu nhập của người lao động tại các thị trường nước ngoài này có thể đạt từ 21 - 40 triệu đồng/tháng.
Đây là cơ hội không nhỏ cho người lao động Khánh Hòa, đặc biệt trong bối cảnh nhiều khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đang được đẩy nhanh tiến độ đầu tư, kéo theo nhu cầu nhân lực ngày càng tăng.
Tuy nhiên, cơ quan chức năng khuyến nghị người lao động cần chủ động tìm hiểu kỹ nhu cầu tuyển dụng lao động của các đơn vị, yêu cầu từng vị trí, tránh lựa chọn công việc theo cảm tính dẫn đến bỏ việc giữa chừng.

Ngày 7.4, UBND tỉnh Đồng Tháp tổ chức hội nghị phát động phong trào thi đua thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030, với mục tiêu tạo đột phá tăng trưởng, hướng tới đạt mức 2 con số vào năm 2030.
Theo nội dung ký kết, các cấp, ngành và địa phương trong tỉnh được yêu cầu tập trung cao độ nguồn lực, triển khai đồng bộ và quyết liệt các nghị quyết, chương trình hành động của Chính phủ, Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh. Phong trào thi đua nhằm cụ thể hóa các mục tiêu đã đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030.
Trọng tâm là thúc đẩy tăng trưởng ngay từ năm đầu của giai đoạn. Đồng Tháp đặt mục tiêu năm 2026 đạt mức tăng trưởng từ 8 - 8,5%, tạo nền tảng vững chắc cho chặng đường 5 năm tiếp theo. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản dự kiến tăng 4,1 - 4,5%; công nghiệp - xây dựng tăng 13,1 - 14%; dịch vụ tăng 8,2 - 8,5%; thu ngân sách từ thuế tăng khoảng 5,65 - 6,5%.
Lộ trình tăng trưởng cũng được xác định cụ thể theo từng quý. Quý 2/2026, GRDP ước đạt tối thiểu 59.123 tỉ đồng, tăng trên 8,04% so với cùng kỳ; quý 3 đạt khoảng 70.008 tỉ đồng, tăng tăng 8,4%; quý 4 đạt 70.142 tỉ đồng, tăng 9,1%. Thu ngân sách từ thuế trong năm dự kiến tăng khoảng 6,3%.
Tại hội nghị, ông Phạm Thành Ngại, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp yêu cầu các sở, ngành và địa phương chủ động, linh hoạt trong tổ chức thực hiện, bảo đảm hoàn thành các chỉ tiêu đề ra. Tỉnh phấn đấu duy trì mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt khoảng 9%/năm, tiến tới mốc từ 10% trở lên vào năm 2030.
Bên cạnh đó, Đồng Tháp xác định một số nhiệm vụ then chốt như hoàn thành điều chỉnh quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đúng tiến độ; đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công và các chương trình mục tiêu quốc gia ngay từ đầu năm; tăng cường quản lý thu ngân sách, đặc biệt ở các lĩnh vực tiềm năng như đất đai, thương mại điện tử và kinh tế số.
Công tác giải phóng mặt bằng, tháo gỡ vướng mắc và đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án trọng điểm cũng được yêu cầu thực hiện quyết liệt, nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển toàn diện.

