Mục Lục
ToggleNgày 11.4, kỳ thi giải toán trên máy tính cầm tay do Sở GD-ĐT Hà Nội phối hợp tổ chức tại Trường THCS Cầu Giấy (Hà Nội), thu hút khoảng 400 học sinh đến từ các trường THCS, THPT trên địa bàn.
Theo ban tổ chức, trong hơn hơn 400 học sinh tham dự kỳ thi năm nay, mỗi trường THPT cử tối đa 2 học sinh lớp 11 hoặc lớp 12, mỗi trường THCS cử 1 học sinh lớp 8 hoặc lớp 9.
Tại buổi khai mạc, ông Nguyễn Văn Hiền, Giám đốc Sở GD-ĐT Hà Nội, chia sẻ: “Thông qua cuộc thi, Sở GD-ĐT Hà Nội hướng tới việc đánh giá và phát triển ở học sinh hai năng lực cốt lõi, đó là năng lực tư duy và lập luận toán học, giúp các em hiểu sâu bản chất vấn đề, hình thành cách tiếp cận logic, khoa học; năng lực giải quyết vấn đề, thể hiện khả năng vận dụng kiến thức một cách linh hoạt, sáng tạo trong các tình huống đa dạng.
Đồng thời, việc sử dụng máy tính cầm tay trong cuộc thi không chỉ dừng lại ở vai trò là công cụ hỗ trợ tính toán, mà còn là phương tiện giúp học sinh tiếp cận phương pháp học tập hiện đại”.
“Tuy nhiên, điều quan trọng là các em cần biết sử dụng công cụ một cách hợp lý, kết hợp hài hòa với tư duy toán học, tránh lệ thuộc, qua đó phát huy tối đa năng lực cá nhân”, ông Hiền nhắn nhủ.
Ban tổ chức kỳ vọng sự trở lại của “sân chơi học thuật” tại thủ đô sẽ góp phần lan tỏa tinh thần học tập chủ động, sáng tạo trong học sinh; đồng thời tạo cơ hội để các nhà trường, giáo viên và học sinh giao lưu, học hỏi, nâng cao chất lượng dạy và học môn toán trong bối cảnh giáo dục ngày càng gắn với công nghệ.
Kỳ thi tại Hà Nội năm nay đánh dấu sự trở lại của một sân chơi sau nhiều năm gián đoạn. Năm 1995 kỳ thi được tổ chức lần đầu tại TP.Hồ Chí Minh, sau đó là Hà Nội năm 1996. Năm 2000, kỳ thi được Bộ GD-ĐT tổ chức ở cấp quốc gia. Trong giai đoạn cao điểm, đã có 17 kỳ thi cấp quốc gia được triển khai.
Tại nhiều địa phương như TP.HCM, Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang, Quảng Ngãi, kỳ thi vẫn được duy trì với quy mô lớn, thu hút hàng nghìn học sinh mỗi năm.

Năm 2026, Trường đại học Kinh tế (UEB) tuyển 3.000 sinh viên đại học chính quy cho 6 ngành, 8 chương trình đào tạo và 30 chuyên ngành chuyên sâu.
Trường dự kiến sử dụng 8 tổ hợp xét tuyển cho tất cả các ngành đào tạo chính quy trong nước gồm: D01 (toán, văn, tiếng Anh), C01 (toán, văn, vật lý), C04 (toán, văn, địa lý), C03 (toán, văn, sử), X01 (toán, văn, giáo dục kinh tế và pháp luật), A01 (toán, vật lý, tiếng Anh), D09 (toán, sử, tiếng Anh), D10 (toán, địa lý, tiếng Anh).
Trong đó, 4 tổ hợp dùng để xét tuyển kết hợp với chứng chỉ tiếng Anh quốc tế là A01, D01, D09, D10.
Về phương thức tuyển sinh, với hệ chính quy trong nước, năm nay nhà trường bỏ phương thức xét học bạ để gia tăng chất lượng đầu vào thí sinh. Với hệ chính quy liên kết đào tạo với nước ngoài, nhà trường vẫn sử dụng phương thức xét học bạ.
Đối với tuyển sinh đào tạo trong nước, ngoài xét điểm thi tốt nghiệp THPT hoặc xét tuyển kết hợp với chứng chỉ tiếng Anh, trường còn xét điểm thi đánh giá năng lực HSA do Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức, xét tuyển thẳng, xét tuyển dự bị đại học và lưu học sinh.
Đối với tuyển sinh liên kết đào tạo với nước ngoài, trường xét theo 6 phương thức: xét kết hợp học bạ với chứng chỉ tiếng Anh quốc tế; xét học bạ; xét chứng chỉ SAT, ACT, A-LEVEL; xét điểm thi tốt nghiệp THPT; xét điểm thi đánh giá năng lực HSA; xét thí sinh tốt nghiệp THPT tại nước ngoài.
Trường đại học Kinh tế quy đổi chứng chỉ IELTS sang điểm 10 môn tiếng Anh như sau:
Về cách tính điểm thưởng, năm nay Trường đại học Kinh tế vẫn giữ nguyên mức điểm quy đổi cho giải nhất, nhì, ba học sinh giỏi quốc gia, quốc tế nhưng không còn cộng điểm thưởng cho giải khuyến khích.
Với điểm xét thưởng, năm nay kỳ thi Olympic và kỳ thi chọn học sinh giỏi bậc THPT cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, cũng như kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương năm 2026 không còn xét giải khuyến khích, đồng thời có sự điều chỉnh giảm điểm xét thưởng giải nhất, nhì, ba nhằm đảm bảo sự công bằng cho các thí sinh xét tuyển thông thường.
Điểm mới năm 2026, nhà trường đã cộng điểm xét thưởng cho các giải tại kỳ thi khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia, quốc tế do Bộ GD-ĐT tổ chức, cử tham gia.
Bảng quy đổi điểm khuyến khích với thí sinh có SAT, ACT, A-Level như sau:
Về lệ phí xét tuyển, các chương trình chính quy trong nước trường thu lệ phí theo quy định chung của Bộ GD-ĐT.
Với phương thức xét tuyển ngành quản trị kinh doanh do Đại học Troy hoặc Đại học St.Francis, Hoa Kỳ cấp bằng, lệ phí tuyển sinh 2.639.100 đồng/sinh viên (tương đương 100 USD).
Với khóa tuyển sinh năm 2026 chương trình đào tạo chính quy trong nước, nhà trường dự kiến áp dụng mức học phí 48 triệu đồng/năm, sau đó tăng 2 triệu đồng mỗi năm.

Theo tiến sĩ Verónica Boix-Mansilla, nghiên cứu viên chính tại Project Zero - nhóm nghiên cứu thuộc Trường sau ĐH về giáo dục Harvard thuộc ĐH Harvard (Mỹ), con em của chúng ta đang sống trong một thời đại mới nơi xung đột ngày càng gia tăng, sự phân cực chính trị ngày càng rõ rệt và những bất định ngày càng bủa vây. Thực tế đó đòi hỏi một thế hệ người trẻ có năng lực chung sống và làm việc với những người có suy nghĩ, lối sống hoàn toàn khác mình.
Để làm được điều này, bà đề cập đến khái niệm "năng lực toàn cầu" (global competence) - tức năng lực hiểu biết, phân tích và hành động trước các vấn đề toàn cầu hoặc liên văn hóa. Bà lưu ý, năng lực toàn cầu không phải là sao chép ý tưởng của người khác để áp dụng ở đất nước mình hay tệ hơn là trở thành ai đó khác. Ngược lại, đó là hiểu rõ bản thân: biết mình là ai, đến từ nền văn hóa nào và tôn trọng những giá trị gì.
"Năng lực toàn cầu phải được xây dựng trên những người trẻ có kết nối vững chắc với văn hóa bản địa và biết cách chủ động, sáng tạo, sống có trách nhiệm khi bước ra thế giới", tiến sĩ Boix-Mansilla nêu quan điểm tại hội thảo quốc tế "Việt Nam - Điểm chạm học thuật toàn cầu" tổ chức mới đây ở Dinh Độc Lập.
Kể với Thanh Niên, bà Boix-Mansilla khẳng định trong bối cảnh toàn cầu hóa, căn tính dân tộc là yếu tố vô cùng quan trọng. Nếu hòa tan quá mức (over-adaptation), bạn trẻ tăng nguy cơ bị khủng hoảng căn tính cá nhân và dễ đối diện với các vấn đề sức khỏe tinh thần. Nhưng ngược lại, nếu chỉ giữ khư khư căn tính Việt mà không chịu khó tìm hiểu về những nền văn hóa khác, khả năng thích nghi của các bạn với trật tự toàn cầu mới cũng bị hạn chế.
Căn tính dân tộc cũng cần đề cao khi người trẻ phát triển năng lực toàn cầu.
"Người trẻ cần học tiếng Anh không chỉ để hiểu những gì đang diễn ra ở New York và Điện Buckingham, mà còn để kể câu chuyện xảy ra ở đất nước nơi mình thuộc về cũng như tăng cường hiện diện trong những cuộc đối thoại toàn cầu", bà nói. Điều này đặc biệt quan trọng vì trong một thế giới mở, các bạn cần kết nối hiểu biết về địa phương với hiểu biết toàn cầu để đi tìm lời giải cho các vấn đề cộng đồng mình đang gặp phải.
Đồng tình, tiến sĩ Murat Günel, nguyên Tổng giám đốc The Koç School (Thổ Nhĩ Kỳ), cho biết nhiều học sinh trường ông chuộng đi nước ngoài để làm việc, trải nghiệm, từ Thái Lan, Ấn Độ đến Anh, Mỹ. Trong số đó, có em cho rằng việc tìm hiểu văn hóa nước mình là điều gì đó "tầm thường" và việc tỏ tường những nền văn hóa khác mới là "đẳng cấp".
"Các em chưa biết rằng, nếu không hiểu mình thì chẳng thể hiểu được người", ông nói.
Đó là lý do nam tiến sĩ khuyên người trẻ cần nắm chắc nguồn lực nội tại của bản thân trước, từ đó mới có thể chuyển hóa thành điều khác. Ví dụ việc học ngoại ngữ như tiếng Anh phải được xây dựng trên vốn liếng của ngôn ngữ mẹ đẻ - ở trường hợp này là tiếng Việt.
Ông Trung Lê, đồng sáng lập ReGenerating Education (Mỹ), cho biết trong một trật tự thế giới mới, một niềm tin cũ đang quay trở lại. Đó là đặt người trẻ vào những vấn đề thật, với quyền chủ động thực sự để tạo ra tác động đến xã hội thay vì chỉ để các em học trong những tòa "tháp ngà" học thuật. Điều này đã và đang thay đổi mục đích của việc học, từ "Con biết được bao nhiêu kiến thức?" thành "Con biết mình sẽ trở thành kiểu người thế nào?".
Đồng tình, tiến sĩ Verónica Boix-Mansilla lưu ý thế giới ngày nay đòi hỏi nhiều hơn ở việc học. Không chỉ là học kiến thức, mà còn phải học cách bảo vệ Trái đất, học cách tránh xung đột, học cách làm chủ những tiến bộ kỹ thuật, công nghệ... "Tri thức không còn cố định mà liên tục sinh sôi, khiến những điều ta biết rõ hôm nay có thể chẳng là gì vào ngày mai", bà chia sẻ.
Nghệ sĩ Thanh Bùi, nhà sáng lập Trường phổ thông liên cấp Việt Nam Tinh Hoa (TP.HCM), chung quan điểm. Làm quen với sự thay đổi sẽ là kỹ năng sống còn, ông nhận định, vì ngày nay đã không còn cái gọi là "an toàn tuyệt đối". "Hàng chục nghìn gia đình nhận email lúc 6 giờ sáng để nhận tin mình bị sa thải vì cắt giảm nhân sự không còn là điều mới mẻ", ông chia sẻ.
"Trẻ cần học cách đủ dũng cảm chấp nhận sự thay đổi và chủ động thích nghi với nó", ông nói thêm.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Diệu Anh, giảng viên ở Khoa Tâm lý học, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM), thì lưu ý thêm song song với kiến thức, các em cũng cần được giáo dục nhận thức và hành vi về sức khỏe tâm thần, và yếu tố này cũng phải tích hợp trong bộ khung năng lực toàn cầu. "Để thành công, điều này cần có sự chung tay, đồng thuận giữa ba bên là giáo viên, phụ huynh và nhà trường", bà nói.

Từ luận văn tốt nghiệp của sinh viên Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM), một nghiên cứu về kỹ thuật mới giúp AI trả lời câu hỏi trắc nghiệm ổn định hơn được đăng trên tạp chí quốc tế Q1.
Khởi nguồn từ một luận văn tốt nghiệp đại học, công trình nghiên cứu của thầy trò khoa khoa học và kỹ thuật máy tính của trường này đã được công bố trên tạp chí quốc tế hàng đầu về trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục sau khi trải qua nhiều vòng phản biện.
Bài báo Enhancing Large Language Model Performance for Automatic Zero-Shot Multiple-Choice Question Answering via Single-Token Logit Prompting của nhóm tác giả từ Việt Nam đã được công bố trên tạp chí Computers and Education: Artificial Intelligence.
Đây là tạp chí mở thuộc Nhà xuất bản Elsevier, hiện xếp hạng Q1, đứng đầu lĩnh vực giáo dục (Education), hạng 4 trong lĩnh vực khoa học máy tính ứng dụng (Computer Science Applications) và hạng 5 lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI- Artificial Intelligence), theo SCImago.
Nhóm tác giả gồm Đặng Phú Quốc - cựu sinh viên Trường ĐH Bách khoa (đồng tác giả chính), Trần Trương Tuấn Phát - giảng viên Trường ĐH Bách khoa (đồng tác giả chính), TS Vũ Đức Lý (giảng viên Trường ĐH Quốc tế Miền Đông), Nguyễn Song Thiên Long và Võ Thị Như Quỳnh cùng là sinh viên năm thứ ba Trường ĐH Bách khoa, được PGS.TS Quản Thành Thơ - Trưởng khoa khoa học và kỹ thuật máy tính Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM) hướng dẫn.
Công trình tập trung vào đề xuất kỹ thuật viết lời nhắc (prompting) mới mang tên Single-Token Logit (STL) nhằm nâng cao độ chính xác và tính ổn định của các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) khi tự động trả lời câu hỏi trắc nghiệm (MCQ). Tác giả Đặng Phú Quốc cho biết nghiên cứu xuất phát từ luận văn tốt nghiệp đại học của anh.
"Ban đầu mình chỉ đặt mục tiêu giải quyết tốt một bài toán chuyên môn về mô hình ngôn ngữ lớn, chứ không kỳ vọng sẽ được công bố trên tạp chí thứ hạng cao. Sau khoảng 28 tháng kể từ khi bắt tay nghiên cứu, đến tháng 3-2026 công trình đã được đăng trên tạp chí Computers and Education: Artificial Intelligence", anh Quốc chia sẻ.
Thông tin thêm, anh Trần Trương Tuấn Phát cho hay nhóm đã trải qua nhiều vòng phản biện kín hai chiều. Mỗi vòng đều yêu cầu những cải tiến đáng kể như bổ sung thí nghiệm, làm rõ cách diễn giải, củng cố định hướng nghiên cứu và tái cấu trúc bản thảo.
Việc lựa chọn nơi nộp bài được nhóm thực hiện theo gợi ý của Nhà xuất bản Elsevier. Chỉ sau khi được chấp nhận, nhóm mới có thông tin đây là tạp chí đứng đầu thế giới trong lĩnh vực giáo dục (Education). "Đó là kết quả đặc biệt mà chính nhóm tác giả cũng không ngờ tới", PGS.TS Quản Thành Thơ nói thêm.
Từ thực tế nghiên cứu, nhóm nhận thấy hiện tượng gọi là giới hạn Multiple-Choice Symbol Binding (MCSB) làm giảm đáng kể độ tin cậy của LLM, nhất là khi ứng dụng vào chấm bài hay xây dựng ngân hàng câu hỏi của lĩnh vực giáo dục. Vì thế, nhóm đề xuất kỹ thuật Single-Token Logit (STL).
Thay vì đưa toàn bộ đáp án và yêu cầu mô hình chọn A - B - C - D như thông thường, STL tách từng đáp án riêng biệt và yêu cầu mô hình đánh giá theo dạng đúng - sai cho từng lựa chọn.
Hệ thống lần lượt hỏi "Đáp án này có đúng không?" và sử dụng xác suất của token "yes" để đánh giá mức độ phù hợp. "Cơ chế này giúp mô hình xác minh từng lựa chọn một cách độc lập, không bị chi phối bởi vị trí hay nhãn đáp án, khắc phục trực tiếp hạn chế của giới hạn MCSB", anh Phát nói về ưu điểm của nghiên cứu.
Nghiên cứu còn tích hợp kỹ thuật Retrieval-Augmented Generation (RAG) cho phép mô hình truy xuất kiến thức bên ngoài khi cần, giúp tăng độ chính xác theo ngữ cảnh cũng như kiểm tra độ ổn định của giải pháp trong các điều kiện khác nhau.
Khi thử nghiệm trên ba bộ dữ liệu khoa học chuẩn gồm ARC, OpenBookQA và SciQ, STL cho kết quả ngang bằng hoặc vượt trội so với nhiều phương pháp phổ biến với mức cải thiện lên tới 11 điểm phần trăm trong một số cấu hình, đồng thời giảm đáng kể chi phí tính toán.
Về tiềm năng ứng dụng, kỹ thuật STL có thể hỗ trợ giáo viên rà soát đề thi, tự động gợi ý đáp án cho câu hỏi chưa có lời giải, hỗ trợ chấm bài và phát triển các hệ thống học tập thông minh có khả năng giải thích kết quả đánh giá.
Theo PGS.TS Quản Thành Thơ, công bố không chỉ đóng góp xuất sắc về mặt giá trị học thuật đối với các nghiên cứu trong lĩnh vực LLM mà còn cho thấy việc nâng cao độ tin cậy của AI không nhất thiết phải đến từ mô hình lớn hơn hay kiến trúc phức tạp. "Đôi khi chỉ một thay đổi nhỏ trong cách thiết kế lời nhắc (prompt) cũng có thể tạo ra khác biệt lớn trong ứng dụng thực tế", ông Thơ nhận định.
Tin Gốc: https://tuoitre.vn/sinh-vien-bach-khoa-dua-luan-van-ai-len-tap-chi-q1-20260412080023156.htm

