Ngay khi mở cửa, chứng khoán đã tăng hơn 10 điểm và giữ sắc xanh liên tục. Chỉ số của sàn HoSE nhìn chung dao động quanh vùng 1.750-1.760 điểm trong suốt cả ngày hôm nay.
Buổi sáng, thị trường có lúc cao hơn tham chiếu khoảng 26 điểm, với đà dẫn dắt của nhóm ngân hàng. Ngành này có lực mua chủ động chiếm ưu thế và cũng ghi nhận xu hướng gom hàng từ khối ngoại.
Đến cuối buổi sáng, cổ phiếu dầu khí và phân bón cũng xuất hiện diễn biến trên. Dòng tiền ở hai nhóm này duy trì tốt sang buổi chiều, trở thành một trong những động lực hỗ trợ cho chỉ số chung. Trong đó, BSR chạm giá trần.
Nhờ hỗ trợ của các nhóm ngành này, VN-Index tăng hơn 13 điểm, đóng cửa ở 1.750 điểm.
Tuy nhiên, toàn sàn HoSE chỉ có 164 cổ phiếu tăng, không quá chênh lệch so với số lượng 144 cổ phiếu giảm. Điều này cho thấy mức độ đồng thuận trên thị trường chưa cao.
Ngoài nhóm ngân hàng, dầu khí hay phân bón, chỉ số chung còn được hỗ trợ bởi VIC. Mã chứng khoán của Vingroup tăng 1,7% lên 151.700 đồng một đơn vị và đóng góp hơn 4 điểm cho VN-Index.
Thị trường tăng điểm nhưng thanh khoản sàn HoSE hôm nay giảm hơn 4.200 tỷ, về còn gần 24.700 tỷ đồng. Trong buổi sáng, các lệnh mua chủ động chiếm ưu thế nhiều hơn. Thị trường dần cân bằng trở lại ở phiên chiều.
Điểm sáng là diễn biến của dòng tiền khối ngoại khi họ trở lại mua ròng khoảng 841 tỷ đồng, dứt chuỗi bán ròng 5 phiên liên tiếp trước đó. Lực cầu tập trung mạnh ở TCB, HPG, MBB và VNM.
Trong bản tin trước giờ giao dịch sáng nay, Chứng khoán VPBank (VPX) dự báo nếu vùng 1.700-1.730 điểm được giữ vững trong 1-2 phiên, VN-Index nhiều khả năng sẽ tích lũy thêm trước khi hướng lên kiểm định lại 1.740-1.750 điểm, xa hơn là 1.780 điểm.
Theo đó, chiến lược được khuyến nghị là tiếp tục nắm giữ các vị thế đang có, hạn chế mua đuổi ở các nhịp hồi mạnh. Nhà đầu tư có thể ưu tiên canh mua ngắn hạn khi chỉ số rung lắc về vùng 1.700 điểm với các nhóm đang thu hút dòng tiền.
Chúng tôi khuyến nghị nhà đầu tư duy trì vị thế đối với cổ phiếu đang trong đà tăng mạnh mẽ, bên cạnh đó, nhà đầu tư có thể cân nhắc gia tăng tỷ trọng hoặc giải ngân từng phần ở những mã có sự gia tăng đáng chú ý ở thanh khoản mua chủ động và chưa tăng nhiều từ vùng hỗ trợ.
Kết luận được Liên Hợp Quốc nêu trong báo cáo mới công bố, trước thềm các cuộc họp mùa Xuân sắp diễn ra ở Washington của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (World Bank) - hai định chế tài chính toàn cầu chủ chốt thúc đẩy tăng trưởng.
Ông Li Junhua, Phó tổng thư ký Liên Hợp Quốc phụ trách các vấn đề kinh tế và xã hội, cho rằng căng thẳng địa chính trị khiến các nước đang phát triển khó thu hút tài chính hơn. "Đây là thời điểm đáng lo ngại với hợp tác quốc tế, khi các yếu tố địa chính trị ngày càng chi phối quan hệ kinh tế và chính sách tài chính", ông nói.
Năm ngoái, 25 quốc gia đã cắt viện trợ phát triển cho các nước nghèo, khiến tổng mức viện trợ giảm kỷ lục 23% so với 2024. Mỹ là quốc gia cắt viện trợ mạnh nhất, tới 59%. Liên Hợp Quốc dự báo viện trợ năm nay giảm thêm 5,8%.
Trong khi đó, các mức thuế quan, gồm những biện pháp của Mỹ, tác động lớn đến các nước đang phát triển. Thuế nhập khẩu trung bình áp lên hàng hóa từ các nước nghèo nhất tăng từ 9% lên 28% năm qua. Với các quốc gia đang phát triển (không gồm Trung Quốc), mức thuế trung bình tăng từ 2% lên 19%.
Báo cáo của Liên Hợp Quốc nhằm đánh giá Cam kết Seville, được lãnh đạo nhiều quốc gia - không gồm Mỹ - thông qua tại Seville (Tây Ban Nha) vào tháng 6/2025. Cam kết này nhất trí thu hẹp khoảng trống tài chính phát triển trị giá 4.000 tỷ USD mỗi năm, kêu gọi tăng cường đầu tư vào các nước đang phát triển và cải cách cấu trúc tài chính quốc tế, bao gồm World Bank và IMF.
Tổng thư ký Liên Hợp Quốc António Guterres nhiều lần kêu gọi cải cách sâu rộng hai tổ chức này, cho rằng IMF đang mang lại lợi ích cho các nước giàu thay vì nước nghèo. Còn World Bank không hoàn thành sứ mệnh, đặc biệt trong đại dịch, khiến hàng chục quốc gia rơi vào nợ nần nghiêm trọng.
Báo cáo của Liên Hợp Quốc cho rằng thực hiện Cam kết Seville là "hy vọng tốt nhất" để thu hẹp khoảng cách tài chính đang ngày càng tăng.
Ngân hàng TNHH MTV HSBC Việt Nam (HSBC Việt Nam) vừa công bố báo cáo tài chính năm 2025 với lợi nhuận giảm về đáy 4 năm.
Thu nhập lãi thuần năm qua ghi nhận giảm 4,7%, còn 5.949 tỷ đồng. Lãi thuần từ dịch vụ cũng giảm gần 5%, xuống còn 853 tỷ đồng. Hai nguồn thu chủ lực trên cùng suy giảm kéo biên lợi nhuận đi xuống.
Ở diễn biến khác, hoạt động kinh doanh ngoại hối tăng hơn 30%, thu về 1.316 tỷ đồng. Hoạt động khác cũng cải thiện, song quy mô các mảng này chưa đủ bù đắp phần sụt giảm từ hoạt động cốt lõi.
Áp lực chi phí hoạt động gia tăng 11%, lên 3.989 tỷ đồng. Năm qua, ngân hàng được biết điều chỉnh giảm chi phí dự phòng rủi ro tín dụng đến 30% so với năm trước, dù vậy không đủ để “kéo đà” lợi nhuận.
Trừ các chi phí, lợi nhuận trước thuế HSBC đạt 4.141 tỷ đồng, giảm 6,9%. Lợi nhuận sau thuế còn 3.300 tỷ đồng, giảm 6,8%, là mức thấp nhất trong 4 năm trở lại đây. Hiệu quả sinh lời cũng đi xuống khi ROE giảm từ 18,47% xuống 16,79%.
Tại ngày 31/12/2025, tổng tài sản đạt 140.855 tỷ đồng, tăng 3,2% so với cuối năm trước. Dư nợ cho vay khách hàng đạt hơn 74.600 tỷ đồng, tăng 8,3%. Tiền gửi khách hàng ghi nhận 117.779 tỷ đồng, tăng 3,2%.
Về chất lượng tài sản, các chỉ số ghi nhận cải thiện; trong đó nợ xấu giảm còn 495 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu từ 0,46% xuống 0,42%. Tỷ lệ nợ quá hạn cũng giảm từ 0,76% xuống 0,69%.
HSBC là một trong những ngân hàng ngoại sớm có mặt tại Việt Nam từ năm 1980. Năm 2009, ngân hàng chính thức thành lập Ngân hàng TNHH một thành viên HSBC (Việt Nam) - ngân hàng 100% vốn nước ngoài đầu tiên.
Hiện, quy mô nhân sự của ngân hàng này tại Việt Nam vào khoảng 1.400 người, giảm nhẹ so với năm trước. Tổng chi phí cho lương và thu nhập khác đạt 1.295 tỷ đồng, tăng 6,6%. Thu nhập bình quân đạt 925 triệu đồng/người/năm, tương đương khoảng 77 triệu đồng/người/tháng - mức cao nổi trội so với mặt bằng chung hiện nay.
Ghi nhận báo cáo tài chính của 27 ngân hàng trong nước, mức thù lao cao nhất đang vào khoảng 50 triệu đồng/người/tháng, mặt bằng chung ở mức 30 triệu đồng/người/tháng. Thực tế, con số thu nhập bình quân gần 1 tỷ đồng/người/năm chỉ mang tính tương đối. Thực tế, mức thù lao mỗi cá nhân sẽ khác nhau, tùy thuộc vào cấp bậc, phòng ban…
Theo công ty phân tích thị trường Kpler, xuất khẩu dầu của Mỹ trong tháng 4 có thể đạt 5,2 triệu thùng/ngày, tăng gần một phần ba so với mức 3,9 triệu thùng/ngày của tháng 3.
Đáng chú ý, nhu cầu từ châu Á dự kiến tăng vọt 82%, lên khoảng 2,5 triệu thùng/ngày, biến khu vực này trở thành động lực chính thúc đẩy làn sóng xuất khẩu.
Theo báo Financial Times ngày 10-4, diễn biến này phản ánh sự dịch chuyển nhanh chóng của dòng chảy năng lượng toàn cầu, trong bối cảnh nguồn cung từ Trung Đông - đặc biệt qua eo biển Hormuz - bị gián đoạn nghiêm trọng.
Khu vực châu Á, vốn phụ thuộc lớn vào tuyến vận tải này, buộc phải tìm đến các nguồn cung thay thế ổn định hơn, trong đó Mỹ nổi lên như lựa chọn hàng đầu.
Dữ liệu từ Kpler cho thấy hoạt động vận chuyển cũng đang gia tăng đáng kể. Hiện có tới 68 tàu chở dầu trống đang trên đường tới Mỹ để nhận hàng, cao gấp gần ba lần so với mức 24 tàu trong tuần trước. Con số này cũng vượt xa mức trung bình 27 tàu của năm ngoái, cho thấy nhu cầu vận chuyển dầu Mỹ đang tăng đột biến.
"Cả một đội tàu chở dầu đang đổ về Mỹ", ông Matt Smith, chuyên gia phân tích tại Kpler nhận định, nhấn mạnh quy mô chưa từng có của làn sóng vận chuyển hiện tại.
Sự bùng nổ xuất khẩu cũng củng cố vai trò ngày càng quan trọng của Mỹ như một "nhà cung cấp điều tiết" trên thị trường dầu mỏ toàn cầu. Trong bối cảnh các nguồn cung truyền thống gặp gián đoạn, khả năng đẩy nhanh xuất khẩu giúp Mỹ linh hoạt lấp đầy khoảng trống, đặc biệt tại các thị trường tiêu thụ lớn ở châu Á.
Ngoài ra việc Mỹ gia tăng nhập khẩu dầu thô từ Venezuela trong thời gian gần đây cũng gián tiếp hỗ trợ hoạt động xuất khẩu.
Khi các nhà máy lọc dầu sử dụng nguồn dầu nặng nhập khẩu, lượng dầu nhẹ trong nước - đặc biệt là dầu chuẩn WTI - có xu hướng được chuyển hướng ra thị trường nước ngoài nhiều hơn.
Theo các chuyên gia, xu hướng này có thể tiếp diễn trong ngắn hạn, khi nhu cầu từ châu Á vẫn ở mức cao và nguồn cung từ Trung Đông chưa ổn định hoàn toàn. Trong bối cảnh đó, Mỹ nhiều khả năng tiếp tục duy trì vai trò trung tâm trong việc tái cân bằng thị trường dầu mỏ toàn cầu.
Tuy nhiên mức độ bền vững của đà tăng này sẽ phụ thuộc vào diễn biến địa chính trị trong thời gian tới, cũng như khả năng duy trì sản lượng và hạ tầng xuất khẩu của Mỹ.