Hôm qua, tôi đến thăm nhà một người bạn trong khu dân cư. Vừa đến nơi, đập vào mắt tôi là đống rác nằm ngổn ngang ngay dưới tấm biển cấm. Điều tệ hại hơn nữa, nó lại nằm ngay dưới cổng chào đề “khu dân cư văn hóa” – một hình ảnh khiến tôi phải khựng lại vài giây vì sự đối lập giữa lời nói và việc làm, giữa khẩu hiệu và thực tế.
Ngay bên cạnh đống rác là tấm biển đỏ chói, trích dẫn rõ ràng quy định, thậm chí viện dẫn cả nghị định của Chính phủ về xử phạt hành vi đổ rác không đúng nơi quy định. Nghĩa là không phải không có luật, không có cảnh báo, nhưng rác vẫn nằm đó, thản nhiên như thể tất cả những dòng chữ kia chỉ để cho có. Vậy nguyên nhân do đâu?
Trước hết, phải thẳng thắn nhìn nhận một điều: ý thức của một bộ phận người dân còn kém. Khi đã có biển cấm rõ ràng mà vẫn cố tình vi phạm, đó không còn là thiếu hiểu biết, mà là coi thường quy định chung. Có thể là sự tiện tay, có thể là tâm lý “vứt nhanh rồi đi”, cũng có thể là suy nghĩ “mỗi mình thì có đáng gì”. Nhưng khi thói quen đó lặp lại nhiều lần, từ nhiều người, đã biến thành một đống rác rất đáng kể.
Thứ hai là tâm lý đám đông và sự buông xuôi. Một người vứt, người sau thấy thế sẽ mặc nhiên coi đó là điểm đổ rác. Dần dần, cái sai trở thành bình thường. Biển cấm mất tác dụng không phải vì nó không rõ ràng, mà vì nó không còn được tôn trọng. Khi không có ai nhắc nhở, không có ai xử lý, thì hành vi sai cứ thế được “hợp thức hóa” trong im lặng.
Nhưng sẽ là thiếu công bằng nếu chỉ đổ lỗi cho người dân. Một nguyên nhân không thể bỏ qua là sự thiếu quyết liệt trong quản lý và thực thi. Treo biển là một chuyện, nhưng kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm lại là chuyện khác. Khi một tấm biển có thể trích dẫn cả nghị định xử phạt của Chính phủ mà dưới chân nó vẫn đầy rác, thì rõ ràng vấn đề không nằm ở quy định, mà nằm ở việc quy định không được thực thi đến nơi đến chốn.
>> Tôi phát bực vì mua một phần đồ ăn nhưng nhận về 10 túi nilon
Có thể ở đó thiếu thùng rác hợp lý, thiếu lịch thu gom phù hợp. Có thể người dân không được nhắc nhở thường xuyên. Nhưng quan trọng hơn là việc xử phạt chưa đủ nghiêm, chưa đủ thật. Khi người vi phạm không thấy hậu quả cụ thể, họ sẽ tiếp tục vi phạm. Khi không có sự hiện diện của lực lượng quản lý, thì mọi khẩu hiệu đều trở nên vô nghĩa.
Một nghịch lý đáng suy ngẫm là càng nhiều khẩu hiệu, càng nhiều biển cấm, nhưng nếu không đi kèm biện pháp cụ thể, thì hiệu quả lại càng thấp. Thậm chí, nó còn tạo ra một cảm giác “nhờn luật” khi người ta thấy rằng nói thì rất nhiều, nhưng làm thì chẳng bao nhiêu.
Vì vậy, câu hỏi “nguyên nhân do đâu?” không chỉ dành cho người dân, mà còn phải được đặt ra một cách nghiêm túc với các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương. Phải chăng công tác quản lý còn lỏng lẻo? Phải chăng việc tuyên truyền mới dừng ở hình thức? Hay việc xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe?
Xây dựng một “khu dân cư văn hóa” không thể chỉ dừng lại ở việc treo biển. Văn hóa không nằm trên cao, mà nằm ngay dưới mặt đất – nơi từng hành vi nhỏ của con người diễn ra mỗi ngày. Nếu dưới chân tấm biển vẫn là rác, thì mọi danh hiệu cũng trở nên chông chênh.
Đã đến lúc cần một cách tiếp cận thực chất hơn: tuyên truyền đi đôi với giám sát, nhắc nhở đi kèm xử phạt, và quan trọng nhất là làm cho người dân thấy rõ trách nhiệm của mình với không gian chung. Đồng thời, chính quyền địa phương cần quan tâm, kiểm tra và có biện pháp cụ thể, lâu dài để chấn chỉnh tình trạng này, góp phần tạo dựng một cảnh quan đô thị sạch sẽ, văn minh, xứng đáng với những gì được treo trên các tấm biển.
Phú DũngTôi phục người Nhật tích rác trong nhà cả tuần
‘Tôi vứt rác ghế sofa, giường cũ miễn phí ở Đức’
300.000 đồng thuê người vứt bộ sofa vì nhân viên thu gom từ chối rác cồng kềnh
Tôi là thành viên của một nhóm học thuật trên mạng xã hội từ lâu. Thành viên của nhóm là người Việt Nam trên toàn thế giới đã, đang và sẽ có ý định đi theo con đường học thuật.
Đến nay, số thành viên đã hơn trăm nghìn và tôi tin trong đó rất nhiều đã tốt nghiệp tiến sĩ. Đây là tín hiệu tích cực. Phần nhiều trong số đó đang định cư tại nước ngoài và có ý định trở về Việt Nam sinh sống, làm việc.
Cũng nhiều trong số đó đã lập gia đình, có con cái. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi đưa ra quan sát cá nhân về nhưng bài viết và bình luận trên nhóm kết hợp với những trường hợp mình quan sát ngoài đời thực.
Việc ở lại làm đúng chuyên ngành, có vị trí ổn định nói chung, đặc biệt trong môi trường học thuật là điều khó vô cùng. Khi một vị trí đưa ra là có tới hàng trăm, hàng nghìn hồ sơ xuất sắc trên thế giới ứng nộp chưa kể xác suất cao là hội đồng đã có ứng viên sáng giá được đề cử trước dựa trên năng lực và mạng lưới quen biết.
Tôi sống ở Đức và làm việc trong ngành Y sinh. Tôi biết không ít người làm xong tiến sĩ nhưng rồi để đi tới đích là một vị trí vĩnh viễn trong ngành học thuật chỉ đếm đầu ngón tay.
Có nhiều người cố gắng làm sau tiến sĩ (Postdoc) đến khi nào hết quy định thì thôi (thường là 12 năm làm nghiên cứu và không tìm được vị trí vĩnh viễn). Lúc này bài toán đặt ra và vô cũng nan giải. Làm gì tiếp theo khi mà con cái đã lớn đều đã hòa nhập tốt vào môi trường bên này? Ở lại thì không có việc phù hợp.
Nhiều người đi làm việc bình thường trong siêu thị, bệnh viện, nhà máy với mức thu nhập tối thiểu theo quy định như những người không được đào tạo. Nếu ai hài lòng thì tốt, cả gia đình tổng hòa sẽ vui vẻ.
Nhưng nếu không chấp nhận, cơn bão ngầm bắt đầu nổi lên khi họ muốn về nước để tìm được công việc phù hợp, được tôn trọng và còn một lý do khác nữa là gần cha mẹ già.
Mọi thứ sẽ thực sự không dễ thở với những ai có gia đình, con cái. Ở bên này, anh em có dịp nói chuyện với nhau đều thống nhất rằng nếu hai vợ chồng đi làm mức lương tối thiểu thì cơ bản sẽ đủ tiêu và dư chút. Hàng năm vẫn đi chơi thoải mái và vài năm về nước một lần.
Ba vấn đề tôi mạn phép chia sẻ ở đây là nhà ở, y tế và môi trường nghiên cứu.
Đầu tiên là nhà ở, nước Đức có tỷ lệ sở hữu nhà riêng là khoảng 50%. Tức là 50% số người như tôi vẫn đang đi thuê mà rất yên tâm. Luật của Đức bảo vệ quyền lợi người thuê bằng quy định.
Chủ cho thuê không đuổi vô tội vạ trừ khi người thuê làm hỏng nhà đến mức tệ hoặc chủ muốn lấy lại nhà để ở hoặc cho con. Giá cho thuê chỉ được tăng vài phần trăm sau vài năm.
Tuy có một số mặt trái nhưng đa phần người thuê sẽ yên tâm khi ở nhà thuê trong khoảng thời gian dài. Nếu mua nhà sở hữu thì sẽ phải tuân thủ quy định về thời gian sau ở bao lâu mới được bán cũng như đóng thuế phần chênh lệch.
Có lẽ đó là hai yếu tố chính khiến thị trường mua và thuê ở đây có sự ổn định, không tăng giảm quá sốc.
Tôi nghĩ nếu cơ quan chức năng vào cuộc và đưa các quy định rõ ràng hơn và ràng buộc pháp lý khi thuê nhà cũng như mua nhà thì đại đa số người dân trong đó có những người muốn trở về sẽ không phải quá trăn trở về chỗ ở, một khoản chi tiêu lớn hàng tháng cho hộ gia đình.
Về y tế, Đức thực hiện chính sách y tế toàn dân. Tức là ai cũng có bảo hiểm và được chữa trị giá hợp lí, không phát sinh nhiều chi phí y tế ngoài bảo hiểm. Đặc biệt Đức chịu chi rất nhiều cho khám sàng lọc ở mọi lứa tuổi.
Họ biết rằng nếu chi cho sàng lọc tốt thì chữa sẽ giảm chi phí nhiều. Bên cạnh việc chi thường xuyên cho nhiều xét nghiệm sàng lọc thường niên, một sáng kiến rất hay đưa ra là một năm một người sẽ được bảo hiểm công chi tới 500 Euro cho sàng lọc phụ thêm như sàng lọc ung thư da, làm sạch răng, tiêm phòng ra nước ngoài...
Chúng ta có thể bắt đầu bằng những gói phụ sàng lọc hỗ trợ từ năm trăm nghìn đến vài triệu đồng một năm tùy đối tượng. Làm được tốt từ khâu khám sàng lọc thì khâu chữa chúng ta sẽ tiết kiệm được chi phí y tế rất nhiều, một cấu thành lớn trong chi tiêu mà những người đang ở bên nước phát triển có nền y tế toàn dân rất quan tâm khi trở về.
Việc xin dự án nghiên cứu ở Đức là tương đối cạnh tranh và minh bạch. Nhà khoa học được dành nhiều thời gian cho nghiên cứu và có thời gian không quá nhiều cho giảng dạy.
Việt Nam vẫn nên duy trì các quỹ nghiên cứu, đó là mạch máu nuôi dưỡng sức sống của người làm khoa học.
Về phía mỗi cá nhân, khi trở về đều nên hiểu và chuẩn bị cho một kịch bản sống mang nhiều khác biệt. Lấy việc ở gần cha mẹ, họ hàng, được nói ngôn ngữ của mình là điểm cộng để tự động viên bản thân cho hành trình trở về.
Ngay cả tại Trung Quốc, một nước đi trước chúng ta nhiều năm, quá trình đi và trở về cũng đang diễn ra và như những đồng nghiệp, hàng xóm tôi biết người Trung Quốc ở bên Đức, việc đi hay ở cũng không thuận lợi với bất kỳ ai.
Quyết định cuối cùng là của mỗi cá nhân và xin chúc mọi người đều vui vẻ với quyết định của mình.
Chiều hôm ấy, người yêu tôi gặp tôi với vẻ háo hức hiếm thấy. Vừa ngồi xuống, cô cẩn thận mở một chiếc hộp nhỏ, bên trong là một cây bút đen bóng. Cô đưa tôi xem, ánh mắt lấp lánh: "Em vừa được tặng đấy".
Tôi nhìn vài giây, rồi buột miệng, gần như theo phản xạ: "Anh tưởng gì... mấy loại này anh cũng được tặng vài cái rồi. Nhưng nói thật, chả cái nào dùng được. Viết không ra mực. Toàn bỏ xó, phí của, phí tiền".
Không khí chùng xuống gần như ngay lập tức. Cô khép hộp lại, động tác nhẹ nhưng dứt khoát. "Đây không phải bút để viết, đây là bút kỷ niệm". Tôi cười nhạt: "Đã là bút thì phải viết được chứ? Không viết được thì tặng làm gì?".
Cô nhìn thẳng vào tôi, không còn chút vui nào: "Anh lúc nào cũng thực dụng như thế à? Không phải cái gì cũng đo bằng việc dùng được hay không. Đây là sự trân trọng".
Tôi cũng bắt đầu khó chịu: "Anh không phủ nhận ý nghĩa. Nhưng tối thiểu nó phải làm đúng chức năng của nó chứ. Một cây bút viết được thì đâu có làm mất đi ý nghĩa?".
Cô lắc đầu, thở dài: "Vấn đề là anh không hiểu cảm xúc của em". Còn tôi thì nghĩ: vấn đề là cô đang bỏ qua một điều rất rõ ràng về công dụng của cây bút.
Cuộc nói chuyện dừng lại ở đó. Không ai thuyết phục được ai. Và rồi, từ một cây bút, chúng tôi giận nhau. Nhìn lại, tôi nhận ra câu chuyện này không chỉ là chuyện riêng của hai người. Nó giống như một lát cắt nhỏ của cách chúng ta nhìn nhận giá trị trong đời sống. Một bên sẽ nói như tôi: Đã là bút thì phải viết được. Không viết được thì dù mang danh nghĩa gì, cũng là một món đồ không trọn vẹn chức năng.
Nhưng một bên khác sẽ nói như cô ấy rằng giá trị của món quà không nằm ở công năng, mà nằm ở hoàn cảnh và ý nghĩa khi nó được trao. Đó là kỷ niệm, là sự trân trọng, không thể đo bằng chuyện "viết được hay không".
Chính sự khác biệt ấy lại dễ đẩy mọi chuyện đi xa hơn mức cần thiết. Bởi lẽ, trong một xã hội mà những giá trị biểu tượng ngày càng được đề cao, người ta có xu hướng chấp nhận rằng có những thứ "không cần dùng".
Trong khi đó, với nhiều người, đặc biệt là những trải nghiệm rất đời thường, một món đồ trước hết vẫn phải làm tốt chức năng của nó. Vậy thì câu hỏi đặt ra là: Một món quà mang tính nghi lễ có cần đảm bảo công năng cơ bản không? Hay chỉ cần "đúng ý nghĩa" là đủ? Và nếu người nhận thấy nó không dùng được, thì đó là lỗi của món quà hay chỉ là sự lệch nhau trong cách nhìn?
Tôi luôn tự xem mình là fan bóng đá "chuẩn chỉnh" vì thuộc lòng lịch thi đấu UEFA Champions League như bản năng, sẵn sàng thức đến 2-3h sáng mà không cần báo thức và giữ niềm tin gần như tuyệt đối với Real Madrid. Đam mê ấy giúp tôi tạm quên áp lực thường ngày để sống trọn trong từng pha bóng. Trớ trêu thay, dù cộng đồng Madridista (người hâm mộ Real Madrid) ở Việt Nam rất đông, tôi lại thường rơi vào cảnh phải xem trận đấu một mình.
Hôm giữa tuần, tôi ngồi trước màn hình, tay cầm ly cà phê vừa pha, mắt dán vào màn chạm trán đầy tốc độ giữa Real Madrid và Bayern Munich. Khi Lunin cứu Real một bàn thua trông thấy sau đường chuyền sai của Pitarch, cảm giác thót tim khiến tôi bật dậy định hét lên nhưng vội hít ngược vào trong vì nhớ ra cả gia đình đang ngủ.
Phút 74, khi Mbappe có pha dứt điểm rút ngắn tỷ số từ đường chuyền sắc lẹm của Trent Alexander-Arnold, những tiếng hò reo bắt đầu vọng lại từ dãy nhà bên kia: "Vàoooo". Hóa ra, quanh tôi cũng có rất nhiều fan Real đang tụ tập xem trận đấu ấy. Giá như tôi cũng được nhập hội, không cần phải kìm nén sự phấn khích. Hay phải chăng chúng tôi đang ngồi xem cùng nhau, có lẽ tôi sẽ quay sang ôm chầm lấy một ông nào đó.
Trải nghiệm trên có lẽ khá quen thuộc với nhiều fan bóng đá Việt: vỡ òa trước những màn cứu thua, hay tiếc nuối khi đội nhà nếm trái đắng, nhưng cảm xúc nào cũng khó trọn vẹn khi xung quanh không có ai để chia sẻ cùng.
Nielsen.com từng thống kê Việt Nam có tỷ lệ người quan tâm bóng đá cao nhất ở châu Á, với 75% dân số yêu môn thể thao vua. Mỗi khi đội tuyển quốc gia thi đấu, đường phố lập tức biến thành biển người đi "bão". Người lạ khoác vai nhau hò reo, thậm chí leo cả lên xe người khác ăn mừng. Tuy nhiên khi trở lại với bóng đá quốc tế, người hâm mộ lại quay về trạng thái "ẩn thân".
Nguyên nhân không khó lý giải. Các trận cầu quốc tế thường diễn ra vào những khung giờ "oái oăm". Không phải ai cũng sẵn sàng tụ tập lúc 2-3h sáng để xem bóng, nhất là khi hôm sau vẫn phải có mặt đúng giờ ở nơi làm việc. Xem tại nhà là lựa chọn hợp lý nhưng cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận sự tĩnh lặng.
Bên cạnh đó là khoảng cách địa lý. Chúng ta không sống giữa "cái nôi" của bóng đá châu Âu - nơi chỉ cần bước chân ra đường sẽ gặp fan cùng đội, người cùng đam mê. Nhìn sang những khán đài tại London (Anh) hay Madrid (Tây Ban Nha) mà thèm, chỉ một bàn thắng cũng có thể khiến hai người xa lạ ôm chầm lấy nhau như anh em thất lạc.
Lâu dần, việc xem bóng đá một mình trở thành điều quen thuộc với tôi và nhiều fan Việt, không phải vì không muốn kết nối, mà do chưa có đủ cơ hội hoặc thói quen để kết nối.
Thực tế, xem trận cầu một mình cũng có cái hay là bạn tập trung hơn, không bị "bình luận viên nghiệp dư" nào làm phiền. Nhưng đồng thời nó cũng thiếu đi một phần quan trọng, đó là cảm giác được chia sẻ và "sống" cùng trận đấu.
Fan Việt không hề thiếu nhiệt, ngược lại chúng ta rất nhiệt, chỉ là sự nhiệt thành ấy chưa có nhiều cơ hội để lan tỏa. Tôi cho rằng giải pháp không cần quá lớn lao, chỉ cần chút thay đổi nhỏ như rủ thêm một người bạn, đôi khi dịp cuối tuần có thể bước ra không gian đông hơn hoặc đơn giản là thử bắt chuyện với người ngồi cạnh trong một quán bia xem bóng đá.
Không cần phân biệt bạn là ai, chỉ cần chung đam mê là đủ để kết nối, và điều đáng nói là sự gắn kết ấy diễn ra rất tự nhiên. Một pha suýt thủng lưới làm cả quán ồ lên, bàn thắng ở phút bù giờ khiến tất cả bật dậy cụng ly, choàng vai bá cổ. Chính sự cộng hưởng ấy khiến trận đấu trở nên sống động hơn và mang đến cảm giác "thuộc về" một cộng đồng anh em chung đam mê cháy bỏng.
Bóng đá, suy cho cùng, không chỉ là câu chuyện của 22 cầu thủ trên sân mà còn là nỗi niềm của hàng triệu người ngoài sân - những người có thể đã dành những năm tháng tuổi trẻ để cùng vui, cùng buồn và cùng mất ngủ với đội bóng yêu thích.
Còn tôi, tôi vẫn sẽ xem bóng đá lúc rạng sáng. Nhưng hy vọng ở trận lượt về Champions League, khi Real Madrid lội ngược dòng, tôi sẽ có cơ hội gào thét cùng một ông bạn mới quen ở quán bia nào đó, chứ không phải hét thầm một mình nữa.