Mục Lục
ToggleTrung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia cho biết, sáng nay 9.4, một vùng áp thấp trên khu vực tây bắc Thái Bình Dương đã mạnh lên thành áp thấp nhiệt đới. Lúc 7 giờ sáng nay, tâm áp thấp nhiệt đới ở vào khoảng 9 độ vĩ bắc và 152,2 độ kinh đông, cách Philippines khoảng gần 3.000 km, cường độ hiện tại mạnh cấp 7, giật cấp 9.
Hiện tại, áp thấp nhiệt đới này đang nằm ở phần phía đông của lưỡi áp cao cận nhiệt đới. Dự báo trong 24 giờ tới, áp thấp di chuyển chậm theo hướng tây, khả năng mạnh lên thành bão, đây sẽ là cơn bão thứ 4 hình thành và hoạt động trên tây bắc Thái Bình Dương trong năm nay.
Theo trường dòng dẫn của lưỡi áp cao cận nhiệt đới, cơn bão này khả năng cao sẽ di chuyển lên phía bắc, sau đó đổi hướng tây tây bắc, di chuyển về phía nam của Nhật Bản.
Cũng theo Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, với hình thế thời tiết và mô hình dự báo hiện nay cho thấy rất ít khả năng bão di chuyển vào Biển Đông. Đây là dạng đường đi điển hình di chuyển theo quỹ đạo Parabol của các cơn bão đầu mùa xuất hiện trên khu vực tây bắc Thái Bình Dương.
Cơ quan khí tượng Nhật Bản – đơn vị được Tổ chức Khí tượng thế giới phân theo dõi, dự báo, cảnh báo các cơn bão, áp thấp nhiệt đới trên khu vực tây bắc Thái Bình Dương – cũng nhận định áp thấp nhiệt đới có khả năng mạnh lên thành bão, sau đó đi lên phía bắc.
Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia đang tiếp tục theo dõi sát diễn biến của cơn áp thấp nhiệt đới có khả năng mạnh lên thành bão này.

Nhờ đất đai màu mỡ, địa thế bằng phẳng và nằm bên sông lớn, Đồng Nai trở thành lựa chọn ưu tiên của những nhóm người Việt đầu tiên vào phương Nam khai hoang, lập nghiệp. Các khu vực Biên Hòa, Long Thành, Bà Rịa... thuộc lưu vực sông Đồng Nai là những nơi sớm đón bước chân những người mở cõi.
Theo Gia Định Thành Thống Chí, năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu "vào kinh lược đất Đồng Nai", lập phủ Gia Định gồm hai huyện: Phước Long dựng dinh Trấn Biên, Tân Bình dựng dinh Phiên Trấn. Đây là dấu mốc lịch sử quan trọng, xác lập chủ quyền và bộ máy quản lý nhà nước, đặt nền móng cho sự hình thành vùng Biên Hòa - Đồng Nai ngày nay.
Những năm đầu khai mở, nhờ vị trí thuận lợi bên sông Đồng Nai thông ra biển Cần Giờ, vùng đất Biên Hòa sớm phát triển sầm uất thành đô thị nhộn nhịp. Trên cù lao Phố (nay thuộc phường Trấn Biên), Nông Nại đại phố từng được xem là một trong những thương cảng lớn nhất Nam Bộ vào thế kỷ XVII-XVIII.
Theo ông Trần Quang Toại, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Đồng Nai, truyền thống thương mại cùng giao lưu kinh tế, văn hóa hình thành rất sớm đã tạo nền tảng quan trọng cho quá trình đô thị hóa của địa phương ở các giai đoạn sau.
Đến năm 1808, dưới triều vua Gia Long, dinh Trấn Biên được đổi thành trấn Biên Hòa, trở thành một trong năm trấn thuộc Gia Định thành, với địa giới rộng lớn bao trùm phần lớn vùng đất thuộc Đồng Nai và TP HCM ngày nay. Trải qua nhiều biến động lịch sử và điều chỉnh địa giới, nơi đây vẫn luôn giữ vai trò quan trọng trong việc định hình không gian kinh tế - xã hội Nam Bộ.
Từ những tiền đề đó, các tuyến giao thông huyết mạch như đường thủy, quốc lộ, đường sắt dần được xây dựng qua Đồng Nai, kết nối Sài Gòn với duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
"Cù lao Phố vẫn còn nhiều dấu tích văn hóa, cho thấy Đồng Nai là cái nôi phát triển kinh tế - xã hội của Nam Bộ hơn 325 năm", ông Trần Quang Toại nói.
Theo ông, sau khi chiếm Nam Bộ, người Pháp bắt đầu khai thác tài nguyên với hàng loạt nông trường cao su, tập trung chủ yếu ở Đồng Nai. Từ nền kinh tế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp manh mún, người dân dần làm quen với máy móc qua các nhà máy chế biến mủ cao su, gỗ, từ đó hình thành lực lượng công nhân đông đảo, thu hút lao động từ nhiều nơi.
Ông Toại cho rằng vị trí giáp Sài Gòn, giao thông thuận lợi và nguồn lao động dồi dào là những yếu tố thúc đẩy sự ra đời của nhiều nhà máy trong thế kỷ XX, tiêu biểu khu kỹ nghệ Biên Hòa, được xem là khu công nghiệp đầu tiên của Việt Nam.
Từ khi xây dựng năm 1962 đến 1975, khu kỹ nghệ Biên Hòa có 94 nhà máy, xí nghiệp, với phần lớn máy móc nhập từ Nhật, Đức, Pháp, Đài Loan... Đến năm 1990, Đồng Nai thành lập Công ty Phát triển khu công nghiệp Biên Hòa (Sonadezi Biên Hòa) để đầu tư, nâng cấp hạ tầng và thu hút vốn nước ngoài.
Từ khu công nghiệp Biên Hòa, địa phương tiếp tục mở rộng hàng loạt khu công nghiệp lớn như Biên Hòa 2, Amata, Long Bình, Long Thành, Nhơn Trạch, Chơn Thành...
Với quy mô kinh tế lớn và cơ cấu chuyển dịch theo hướng công nghiệp - dịch vụ hiện đại, Đồng Nai từng bước khẳng định vị thế là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của khu vực phía Nam và cả nước.
Hiện tỉnh nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước về phát triển khu công nghiệp với 89 khu công nghiệp được quy hoạch, tập trung tại Biên Hòa, Nhơn Trạch, Long Thành, Chơn Thành... Các khu này thu hút doanh nghiệp từ 45 quốc gia, với 2.269 dự án và tổng vốn đăng ký 44,38 tỷ USD.
Giai đoạn 2021-2025, kinh tế - xã hội Đồng Nai tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại, môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng cải thiện, tiếp tục khẳng định vai trò là trung tâm công nghiệp lớn của khu vực phía Nam.
Ông Nguyễn Văn Út, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, cho biết địa phương đang đứng trước thời cơ lịch sử để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, trung tâm công nghiệp, logistics và đô thị hiện đại hàng đầu cả nước.
Theo ông, Đồng Nai có nền tảng công nghiệp vững chắc, vị trí chiến lược tại Đông Nam Bộ và hệ thống hạ tầng đang được đầu tư đồng bộ, nhất là các dự án động lực quốc gia. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, tỉnh không thể đi theo lối mòn cũ mà phải đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển, cách làm và phương thức quản trị.
Lãnh đạo tỉnh cho biết Đồng Nai sẽ tập trung xây dựng mô hình phát triển mới, chuyển từ "tỉnh công nghiệp" sang "thành phố công nghiệp - đô thị - dịch vụ hiện đại", phát triển theo chiều sâu dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số.
Phước Tuấn
Bài 3: Sân bay Long Thành sẽ 'nâng hạng' Đồng Nai ra sao
Tin Gốc: https://vnexpress.net/dong-nai-tu-vung-dat-mo-coi-den-thu-phu-cong-nghiep-5054689.html

Khoảng 20h07 ngày 6/4, tại đường ngang Km788+515 phường Thanh Khê, hai nhân viên là Trương Thị Diệp Thúy và Nguyễn Thị Mộng Tuyền đóng chắn để đón tàu chạy hướng ga Đà Nẵng - Kim Liên.
Khi các phương tiện đã dừng lại, một phụ nữ cố tình dắt xe vượt rào, đi vào phạm vi đường ngang. Dù được nhắc nhở, người này không chấp hành mà dừng xe trong phạm vi đường ngang và chửi bới, xúc phạm nhân viên gác chắn.
Khoảng 4 phút sau, người phụ nữ quay lại, kéo theo một phụ nữ khác, dùng mũ bảo hiểm tấn công vùng đầu và mặt hai nữ nhân viên gác chắn. Hai phụ nữ còn xô đẩy, kéo nạn nhân ra giữa đường ngang để tiếp tục hành hung và chỉ dừng lại khi có người đi đường can ngăn.
Vụ hành hung khiến chị Thúy và chị Tuyền bị đa chấn thương vùng đầu, mặt, sang chấn tâm lý, phải đi cấp cứu tại Bệnh viện Đà Nẵng. Đơn vị quản lý đã điều động nhân sự thay thế để đảm bảo an toàn chạy tàu.
Trong đêm, đại diện Công ty Cổ phần Đường sắt Quảng Nam - Đà Nẵng đã làm việc với công an phường Thanh Khê, đề nghị khẩn trương điều tra, xử lý nghiêm những người có hành vi hành hung nhân viên gác chắn trong lúc làm nhiệm vụ.
Theo Công ty Cổ phần Đường sắt Quảng Nam - Đà Nẵng, hai phụ nữ hành hung nhân viên gác chắn cư trú ngay phía sau trạm, từng nhiều lần gây mất trật tự, đe dọa nhân viên tại đây.
Sự việc đã được báo cáo lên Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, Cục Cảnh sát giao thông, Công an TP Đà Nẵng và Ban An toàn giao thông TP Đà Nẵng.
Ông Khuất Thanh Liêm, Trưởng phòng Kỹ thuật an toàn (Công ty Cổ phần Đường sắt Quảng Nam - Đà Nẵng), cho biết đến sáng 7/4, hai nữ nhân viên bị hành hung vẫn đang phải theo dõi sức khỏe tại bệnh viện.
"Vụ này nghiêm trọng, xâm hại trực tiếp đến lực lượng đảm bảo an toàn giao thông đường sắt và tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn chạy tàu", ông Khuất Thanh Liêm nói.
Nguyễn Đông
Tin Gốc: https://vnexpress.net/hai-nhan-vien-gac-chan-duong-sat-bi-hanh-hung-5059354.html

Với vị thế "tựa sơn hướng thủy", Đền Bến Dược nằm phía thượng nguồn sông Sài Gòn. Khác với vẻ lộng lẫy của những khối bê tông ở hạ nguồn, công trình này là sự kết tinh từ trái tim và trí tuệ của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP.HCM cùng đội ngũ trí thức, nghệ nhân tâm huyết.
Được khởi công vào dịp 103 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19.5.1993), Đền Bến Dược mang sức nặng của lời tri ân. Đó là nơi hơn 45.000 người con từ khắp mọi miền ngã xuống vì nền độc lập của mảnh đất Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định qua 2 cuộc kháng chiến trường kỳ.
Ấn tượng về kiến trúc của Đền Bến Dược không nằm ở sự đồ sộ, mà ở trục đường thẳng tắp, dẫn bước người thăm đi qua từng lớp không gian. Mỗi điểm dừng là một nấc cảm xúc của hành trình tưởng niệm: từ tam quan, nhà văn bia, đến tháp chín tầng, đền chính...
Từ cổng Tam quan, người viếng đi qua Nhà văn bia với khối đá Ngũ Hành Sơn nặng 3,7 tấn. Tại đây, bài văn tế Đời đời ghi nhớ của nhà thơ Viễn Phương khắc trên đá như lời nhắc nhở lặng lẽ: "Chiến thắng lớn từ hy sinh to lớn - Ai đếm khăn tang, ai đong máu chiến trường?".
Chính lời thơ ấy khiến bước chân chúng tôi chậm lại để suy ngẫm trước khi tiến sâu hơn vào trung tâm của khu tưởng niệm. Đường thẳng này không chỉ là lối đi của kiến trúc, mà còn là hành trình đi vào ký ức, nơi mỗi bước chân là một lần đối diện với sự hy sinh.
Vượt qua khoảng sân rộng là tòa tháp chín tầng cao 39 m vươn mình giữa khuôn viên Đền Bến Dược. Phóng mắt từ đỉnh tháp, ngôi đền nép mình bên dòng sông hiền hòa như chưa từng đi qua khói lửa. Nhờ kiến trúc mở, gió sông Sài Gòn có thể lồng lộng thổi vào từng ngóc ngách, giữ cho không gian luôn thông thoáng.
Bên cạnh đó là đền chính, được bố trí theo kiến trúc hình chữ U. Ở vị trí trung tâm là tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh; xung quanh là 3 mặt tường khắc 45.666 tên các anh hùng liệt sĩ. Hình chữ U như vòng tay lớn, bao bọc những người lính đã về với đất mẹ. Trong số đó, hơn 14.000 người con từ hàng chục tỉnh, thành khác đã nằm lại đất này.
Điểm kết của hành trình tưởng niệm là biểu tượng "Hồn thiêng đất nước" cao 16 m, nặng 243 tấn bằng đá granit. Ở khoảng cách gần, công trình mang dáng dấp giọt nước mắt lặng lẽ rơi. Nhưng lùi ra xa, giọt nước mắt bỗng hóa thành ngọn bút sừng sững, kiên nhẫn viết tiếp những trang sử vàng của dân tộc lên nền trời xanh thẳm Củ Chi.
"Làm sao để đưa hơn 45.000 cái tên vào 3 bức tường của đền chính, mà người đời sau vẫn đọc rõ từng quê quán, đơn vị?".
Câu hỏi hóc búa đó đã theo kiến trúc sư Khương Văn Mười (nguyên Phó chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam) suốt những năm tháng thiết kế Đền Bến Dược, một công trình của những "lần đầu tiên".
Trong ký ức của kiến trúc sư Khương Văn Mười, thiết kế Đền Bến Dược là hành trình vượt khó đúng nghĩa. Giữa lúc tư liệu về kiến trúc cổ miền Nam còn khan hiếm, vật liệu xây dựng thiếu thốn khi phải đặt tận Bình Dương, ông cùng các cộng sự đã phải "vừa vẽ, vừa mò mẫm" dưới sự góp ý sát sao của các bậc lão thành cách mạng.
"Lúc đó khó lắm, đền không thể làm quá to, mà chữ phải đủ lớn để đứng dưới nhìn lên vẫn đọc được. Nếu làm chữ lớn thì chỉ ghi được hơn chục ngàn tên là hết chỗ", kiến trúc sư Khương Văn Mười chia sẻ.
Những ngày ấy, chiếc xe cũ của ông Mười gần như chạy liên tục giữa trung tâm thành phố và công trường. Đường xa, nhiên liệu thiếu, nhưng các cuộc thảo luận về việc đưa đất thiêng từ Điện Biên Phủ, Trường Sơn về hội tụ; về việc bố trí vị trí trang trọng nhất cho các mẹ Việt Nam anh hùng gần bàn thờ Bác Hồ thì chưa bao giờ dừng.
Cuối cùng, họ cũng tìm thấy câu trả lời cho bài toán hóc búa: thiết kế vách bia giật cấp 8 tầng. Thay vì một mặt phẳng gây ngộp, vách đá được chia thành các lớp so le chồng lên nhau. Cách làm này vừa giúp bao quát được tầm mắt, vừa tận dụng tối đa không gian sát trần nhà.
Chính lối xếp giật cấp này đã tạo ra hiệu ứng thị giác "vô tận". Ở góc nghiêng, các tấm bia trông như những lớp sóng đá chạy dài hút mắt. Hệ thống đèn âm được giấu khéo léo ở các khe giật, rọi ngược từ dưới lên.
Lúc này, chúng tôi không thấy sự nặng nề của những bức tường đá, mà là hàng vạn đốm sáng như những vì sao đêm. Sự sắp xếp ấy buộc người ta phải ngước nhìn, tạo ra tâm thế cung kính tự nhiên.
Khi ngồi nhìn lại công trình mang tính bước ngoặt của đời mình, kiến trúc sư Khương Văn Mười chỉ có một nỗi nuối tiếc: "Hồi đó mải làm quá, gặp gỡ toàn những người nổi tiếng, những bậc tiền bối tâm huyết mà không chụp lại được tấm ảnh nào làm kỷ niệm".
Nhưng có lẽ, nụ cười nghẹn ngào của những người ở lại khi nhìn tên người thân mình trên bia đá chính là "tấm ảnh" giá trị nhất mà ông Mười đã lưu giữ được.
Gần 30 năm, Đền Bến Dược vẫn nằm lặng lẽ giữa khu di tích anh hùng, ôm theo nghĩa tình sâu nặng được gửi gắm trong từng ý tứ của tiền nhân.
Không chỉ là nơi lưu giữ ký ức, nơi đây còn trở thành điểm chạm để những thế hệ hôm nay tìm về, lắng nghe và thấu hiểu quá khứ.
Cô Ngô Thị Đan Phượng, giáo viên Trường THCS Trần Huy Liệu, chia sẻ rằng đến tham quan và tìm hiểu Đền Bến Dược là dịp để các em học sinh chạm vào chiều sâu lịch sử.
"Tôi mong các em lắng lại để cảm nhận những mất mát, hy sinh của các anh hùng liệt sĩ. Từ đó, mỗi em sẽ tự soi lại mình, nhận ra trách nhiệm trong việc gìn giữ, bảo vệ và góp phần xây dựng đất nước hôm nay và mai sau", cô Phượng nói.
Giờ đây, khi những chuyến xe buýt đường thủy đưa du khách ngược dòng Sài Gòn, Đền tưởng niệm Bến Dược không còn là điểm đến xa xôi. Ngôi đèn này đã trở thành một phần không thể tách rời trong mạch sống của TP.HCM.

