Sáng 8/4, tại Phủ Chủ tịch, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trao quyết định của Bộ Chính trị chỉ định Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031. Thủ tướng Lê Minh Hưng được chỉ định giữ chức Bí thư Đảng ủy Chính phủ.
Người đứng đầu Đảng, Nhà nước cũng trao quyết định bổ nhiệm các Phó thủ tướng gồm ông Phạm Gia Túc giữ chức Phó thủ tướng thường trực; Đại tướng Phan Văn Giang, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; các Phó thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà, Hồ Quốc Dũng, Nguyễn Văn Thắng, Lê Tiến Châu.
Các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được bổ nhiệm gồm Bộ trưởng Bộ Công an, đại tướng Lương Tam Quang; Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung; Bộ trưởng Nội vụ Đỗ Thanh Bình; Bộ trưởng Tư pháp Hoàng Thanh Tùng; Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn; Bộ trưởng Công Thương Lê Mạnh Hùng; Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng; Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh; Bộ trưởng Văn hóa Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh; Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân; Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn; Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan; Bộ trưởng Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang; Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Đức Ấn; Tổng Thanh tra Chính phủ Nguyễn Quốc Đoàn; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp của Chính phủ nhiệm kỳ 2021-2026 dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Phạm Minh Chính và tập thể thành viên Chính phủ.
Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp, đất nước chịu tác động nặng nề của đại dịch Covid-19, thiên tai và sức ép kinh tế toàn cầu, Chính phủ đã điều hành quyết liệt, linh hoạt, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy phục hồi tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Những kết quả này là nền tảng để bước vào nhiệm kỳ mới với yêu cầu cao hơn và trách nhiệm lớn hơn.
“Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi ghi nhận, biểu dương và trân trọng cảm ơn những đóng góp tâm huyết của đồng chí Thủ tướng Phạm Minh Chính cùng tập thể Chính phủ nhiệm kỳ 2021- 2026”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nói.
Ông nhấn mạnh nhiệm kỳ 2026-2031 là giai đoạn bản lề, quyết định việc Việt Nam có vươn lên tầm phát triển mới hay không. Ông cho rằng yêu cầu đặt ra là nâng cao chất lượng tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; tăng năng lực cạnh tranh; củng cố tự chủ chiến lược và nâng tầm quản trị quốc gia.
Nhiệm kỳ này vì vậy “không chỉ là sự tiếp nối mà phải là bước chuyển lên nấc thang phát triển cao hơn. Kết quả cuối cùng phải được đo bằng chất lượng cuộc sống của nhân dân và vị thế, uy tín của đất nước”. Ông nhấn mạnh nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Chính phủ nhiệm kỳ mới là kiến tạo môi trường phát triển mới, mở ra không gian tăng trưởng mới, tạo động lực tăng trưởng mới và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện để đạt mục tiêu đề ra.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị Chính phủ tập trung đặc biệt vào 7 yêu cầu lớn. Nhiệm vụ đầu tiên là giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, củng cố các cân đối lớn, kiểm soát rủi ro, đồng thời tạo động lực tăng trưởng mới để đạt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững.
Đi cùng với đó là yêu cầu nâng năng lực thực thi, làm cho pháp luật và nghị quyết đi vào cuộc sống nhanh, rõ ràng, nhất quán hơn, để người dân và doanh nghiệp thực sự yên tâm sản xuất, kinh doanh.
Ông cũng đặt ra yêu cầu bộ máy Chính phủ phải vận hành thông suốt, kỷ luật, kỷ cương, chuyển mạnh từ quản lý sang phục vụ, kiến tạo, với trách nhiệm được phân định rõ và gắn với kết quả cụ thể.
Yêu cầu thứ tư là coi khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nền tảng của mô hình tăng trưởng mới, là trách nhiệm chung của toàn bộ hệ thống, không chỉ của riêng ngành khoa học công nghệ.
Cùng với đó, Chính phủ phải cải thiện thực chất môi trường đầu tư kinh doanh, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng, đồng thời xóa bỏ cơ chế xin – cho và các chi phí không chính thức.
Yêu cầu tiếp theo là gắn chặt phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh và mở rộng đối ngoại, chủ động ứng phó các thách thức từ sớm, từ xa, bảo đảm các an ninh thiết yếu.
Yêu cầu cuối cùng là xây dựng Chính phủ liêm chính, trong sạch, vững mạnh, đoàn kết, kỷ luật, gần dân, vì dân; chống cho được bệnh nóng vội, hình thức, bệnh thành tích, giáo điều, dân túy, né tránh trách nhiệm, đùn đẩy công việc, nói nhiều làm ít, nói to làm nhỏ. Ông khẳng định nhân dân không đánh giá Chính phủ qua lời nói mà qua kết quả, không nghe nhiều cam kết mà nhìn vào sự chuyển biến thực tế trong đời sống hàng ngày.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tin tưởng dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự giám sát của Quốc hội, sự đồng hành của Mặt trận, sự ủng hộ của nhân dân, Thủ tướng Lê Minh Hưng cùng tập thể Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031 sẽ “kế thừa và phát huy xứng đáng những kết quả tốt đẹp mà Chính phủ nhiệm kỳ qua đã vun đắp, góp phần xây dựng đất nước ta phát triển nhanh, bền vững, phồn vinh”.
Thủ tướng Lê Minh Hưng đề nghị thành viên Chính phủ đề cao tinh thần đoàn kết, chung sức, đồng lòng kỷ luật, kỷ cương, không ngừng rèn luyện phẩm chất và nâng cao năng lực dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, bản lĩnh, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và hành động quyết liệt, hiệu quả.
Tại buổi lễ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Lê Minh Hưng đã tặng hoa chúc mừng nguyên Thủ tướng Phạm Minh Chính.
Trước đó, ngày 7/4, Quốc hội đã thông qua nghị quyết bầu ông Lê Minh Hưng giữ chức Thủ tướng nhiệm kỳ 2026-2031 với 100% đại biểu tham gia tán thành. Sáng 8/4, Quốc hội tiếp tục phê chuẩn bổ nhiệm các Phó thủ tướng, Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ nhiệm kỳ mới.
Ngày 6.4, tin từ Công an thành phố Cần Thơ cho biết Công an phường Hưng Phú đang củng cố hồ sơ, làm rõ vụ việc 23 thanh thiếu niên có hành vi "cố ý gây thương tích" và "gây rối trật tự công cộng".
Thông tin ban đầu, lúc 0 giờ 30 phút ngày 31.3, Công an phường Hưng Phú nhận được tin báo của người dân tại khu vực Khánh Bình có đông người tụ tập đánh nhau gây mất an ninh trật tự.
Tiếp nhận thông tin, Ban chỉ huy Công an phường Hưng Phú đã chỉ đạo triển khai lực lượng nhanh chóng đến hiện trường tiến hành xác minh, làm rõ vụ việc.
Công an phường đã ngăn chặn và mời 28 thanh thiếu niên có liên quan về trụ sở để phục vụ công tác điều tra. Qua làm việc, lực lượng chức năng xác định có 23 nghi phạm trực tiếp tham gia đến vụ đánh nhau; trong số này, 3 người còn đi học, 20 người đã bỏ học.
Công an cũng xác định 2 nghi phạm cầm đầu vụ đánh nhau là T.Đ.K (16 tuổi, ngụ khu vực Thạnh Mỹ, phường Cái Răng) và N.K (17 tuổi, ngụ khu vực Phú Hưng, phường Hưng Phú).
Nguyên nhân ban đầu được xác định do mâu thuẫn cá nhân trên mạng xã hội, 2 thanh niên này đã rủ bạn bè và hẹn thời gian, địa điểm để đánh nhau. T.Đ.K đã huy động 15 người hỗ trợ, còn N.K đã huy động 8 người.
Vụ đánh nhau đã làm 4 người bị thương. Lực lượng chức năng đã thu giữ tang vật gồm 8 dao tự chế, một số vỏ chai bia và 6 xe mô tô các loại.
Công an phường Hưng Phú cho biết thêm, qua xác minh nhân thân, hầu hết các nghi phạm có độ tuổi từ 14 - 18 tuổi, chưa có tiền án tiền sự. Sự việc này nghiêm trọng, vì nhiều nghi phạm còn tuổi vị thành niên nhưng lại có hành vi giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực, có sự sắp xếp, chuẩn bị hung khí từ trước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.
Hiện, Công an phường Hưng Phú tiếp tục điều tra, làm rõ vụ việc để xử lý.
Thời buổi gì mà chỉ cần có chút mâu thuẫn, va chạm nho nhỏ là sẵn sàng sử dụng bạo lực ngôn từ, chửi cha mắng mẹ, xưng bố xưng ông, rút hung khí đánh người không gớm tay, thậm chí là truy sát kiểu đuổi cùng giết tận.
Những vụ việc bạo lực đời thường liên tục xảy ra gần đây đã đủ để chúng ta lo lắng về một thứ "hội chứng rối loạn" của xã hội chưa?. Hay chỉ nên đặt những chuyện như thế ở tầm mức "quan ngại"?
Đừng tránh né nữa! Bạo lực đời thường phổ biến như thế chắc chắn là bằng chứng không thể bỏ qua của sự bất lực về văn hóa ứng xử và ngôn ngữ. Khi một cá nhân dùng bạo lực để giải quyết vấn đề, đó thường là dấu hiệu cho thấy họ thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc và khả năng thương thuyết.
Khi xã hội coi bạo lực là phương thức hiệu quả để bắt người khác tuân phục, đó chính là sự thụt lùi về văn minh. Nhất là soi vào nếp truyền thống ứng xử "dĩ hòa vi quý" của người Việt thì sự phổ biến bạo lực đời thường phản ánh một sự tha hóa rõ ràng của chuẩn mực hành xử truyền thống.
Nhưng tại sao chuẩn mực hành xử truyền thống bền vững cả ngàn đời mà giờ lại dễ dàng bị giẫm qua như thế?. Phải chăng có điều gì đó hằng ngày, từng chút một, tưởng vô hại nhưng rất nguy hiểm, đã làm xói mòn những chuẩn mực này?
Sự xói mòn chuẩn mực hành xử có thể xảy ra bởi những kiểu ngôn từ thô bạo mà người Việt đang ngày càng dễ dãi sử dụng và chấp nhận. Chính sự tha hóa của ngôn từ là một trong những tiền đề cho sự băng hoại của hành vi. Chúng ta có bao giờ thật sự cân nhắc điều này chưa, dù ngay trong những câu nói đùa giỡn hay trong những ngữ cảnh cho phép sự suồng sã?
Khi những lời chửi thề, những từ ngữ mang tính nhục mạ hoặc hạ thấp người khác xuất hiện tràn lan trên mạng xã hội và trong giao tiếp đời thường, chúng ta dần hình thành kiểu trạng thái trơ lì cảm xúc.
Ban đầu thì còn cảm thấy sốc và khó chịu. Rồi dần dần chấp nhận nó như một phần của cá tính hoặc ngôn ngữ mạng. Cuối cùng thì ta sử dụng nó như một phản xạ tự nhiên. Khi ngôn từ trở nên thô bạo, ranh giới giữa tranh luận và mạt sát bị xóa nhòa.
Một khi đã chấp nhận nhục mạ nhau bằng lời nói, việc chuyển sang dùng nắm đấm chỉ còn là một bước tiến rất ngắn về mặt tâm lý. Đó là kiểu hiệu ứng "con ếch bị luộc chín" (boiling frog syndrome) trong ngôn ngữ. Chúng ta đã không "canh giữ" nhau trong ngôn từ hằng ngày trên mạng, trong đời thường, để rồi thứ chúng ta nhận lại là sự tha hóa tồi tệ của hành xử bạo lực.
Rồi khi ngôi nhà có một ô cửa kính bị vỡ mà không được sửa, người ta sẽ sớm đập phá những ô cửa còn lại. Ngôn ngữ cũng vậy. Sự dễ dãi chấp nhận ngôn từ thô bạo chính là "ô cửa sổ vỡ" đầu tiên. Khi cái sai nhỏ được chấp nhận, cái sai lớn hơn (bạo lực thể xác) sẽ có mảnh đất màu mỡ để tồn tại.
Nguy hiểm nhất là khi bạo lực ngôn từ được khoác chiếc áo "thẳng thắn", "thật thà" hay "sống thật". Vì nhầm lẫn giữa sự thô lỗ và chân thành, nhiều người không còn động lực để tu dưỡng sự điềm tĩnh.
Điều chúng ta cần không chỉ là pháp luật nghiêm minh, mà còn cần một cuộc phục hưng về năng lực ngôn ngữ và sự thấu cảm, bắt đầu từ việc từ chối những ngôn từ độc hại hằng ngày.
Đại thủy nông Bắc Hưng Hải - hệ thống từng cung cấp nước tưới cho 130.000 ha đất nông nghiệp vùng đồng bằng Bắc Bộ, đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến hàng chục triệu dân. Phải làm gì để hồi sinh hệ thống là câu hỏi khiến cả nhà quản lý và chuyên gia sông ngòi phải tính toán thấu đáo.
Tổng điều tra và đánh giá lại toàn bộ hệ thống
Bắc Hưng Hải gồm hơn 230 km kênh trục chính, hàng nghìn km kênh mương nội đồng cùng khoảng 1.900 cống, trạm bơm. Với mạng lưới quy mô lớn, trải dài qua Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh và Hải Phòng, PGS.TS Đào Trọng Tứ, Trưởng ban điều hành Mạng lưới sông ngòi Việt Nam, cho rằng muốn cải tạo phải bắt đầu từ tổng điều tra và đánh giá lại toàn bộ hệ thống.
Bắc Hưng Hải được thiết kế trong bối cảnh cơ cấu sử dụng đất, nhu cầu nước tưới rất khác so với hiện nay. Nhiều năm qua, một phần lớn diện tích đất nông nghiệp trong lưu vực đã được chuyển đổi sang đô thị, khu công nghiệp hoặc các loại hình sử dụng đất khác. Điều này khiến nhu cầu cấp nước và tiêu thoát nước của hệ thống thay đổi đáng kể so với thiết kế chỉ phục vụ tưới tiêu ban đầu.
"Cần xem lại năng lực tưới tiêu thực tế của hệ thống hiện nay đã thay đổi như thế nào, diện tích đất nông nghiệp còn bao nhiêu và nhu cầu cấp nước ra sao. Trên cơ sở đó mới có thể tính toán phương án cải tạo phù hợp", ông Tứ nói và nhận định việc đánh giá lại toàn bộ hiện trạng hệ thống là bước quan trọng để xác định quy mô đầu tư hợp lý, bảo đảm hiệu quả lâu dài của dự án cải tạo.
Cấp bách kiểm soát nguồn thải
Sau bước đánh giá toàn bộ hệ thống Bắc Hưng Hải, ông Nguyễn Tùng Phong, Cục trưởng Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho rằng phải cấp bách kiểm soát nguồn thải. Cùng với quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp nhanh của khu vực, lượng nước thải từ các khu công nghiệp, làng nghề và khu dân cư đổ vào Bắc Hưng Hải ngày càng tăng, tạo áp lực lớn đối với chất lượng nước.
Theo tính toán, hiện tổng lượng nước thải xả vào Bắc Hưng Hải khoảng 538.838 m3 mỗi ngày đêm, phân bố rộng khắp trên toàn lưu vực. Trong đó, Hưng Yên chiếm tỷ lệ lớn nhất 31%, tiếp đến là Hải Phòng 21%, Hà Nội 13%, Bắc Ninh hơn 9%. Nhiều nguồn xả thải vẫn chưa được kiểm soát hoặc xử lý đạt yêu cầu khiến nhiều đoạn kênh rơi vào tình trạng ô nhiễm kéo dài.
Cũng cho rằng phải kiểm soát nguồn thải, ông Lương Xuân Chính, Phó giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải, phân tích khả năng tự làm sạch của kênh chỉ tồn tại trong giới hạn nhất định. Khi lượng nước thải vượt quá khả năng chịu tải, chất lượng nước sẽ suy giảm nhanh.
"Bổ sung nguồn nước chỉ giúp pha loãng ô nhiễm trong một số thời điểm, còn muốn xử lý tận gốc thì phải kiểm soát được nguồn thải", ông Chính nói.
Tuy nhiên, kiểm soát nguồn thải trên mạng lưới như Bắc Hưng Hải là bài toán rất tốn kém, có thể vượt quá nguồn lực của địa phương, theo GS.TS Trần Đức Hạ, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cấp thoát nước và Môi trường. Bởi chi phí xây dựng và vận hành các nhà máy xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn cao rất lớn, trong khi nhiều địa phương chưa hoàn thiện hệ thống thu gom nước thải đô thị.
"Cần kết hợp nhiều biện pháp, từ kiểm soát nguồn thải, điều tiết dòng chảy đến tận dụng khả năng tự làm sạch của hệ thống sông kênh", ông Hạ đề xuất.
Phối hợp liên tỉnh
So sánh với việc cải tạo sông Tô Lịch, PGS.TS Đào Trọng Tứ cho rằng bài toán của Bắc Hưng Hải phức tạp hơn nhiều. Tô Lịch nằm hoàn toàn trong phạm vi Hà Nội, hệ thống Bắc Hưng Hải lại trải dài qua nhiều tỉnh với hàng loạt nguồn thải. Nếu mỗi địa phương làm một kiểu, không có cơ chế điều phối thống nhất thì rất khó đảm bảo các hạng mục cải tạo được triển khai đồng bộ và phát huy hiệu quả.
TS Trần Đức Hạ cũng cho rằng thách thức lớn nhất hiện nay là làm sao thiết lập được cơ chế quản lý thống nhất cho toàn hệ thống Bắc Hưng Hải. Nếu không có cơ chế điều phối đủ mạnh ở cấp vùng, việc xử lý ô nhiễm hay cải tạo hạ tầng sẽ khó đạt hiệu quả lâu dài.
Bởi Bắc Hưng Hải không chỉ là công trình thủy lợi phục vụ nông nghiệp như trước đây. Nó đang phải gánh thêm nhiều chức năng mới như tiêu thoát nước cho đô thị, khu dân cư và khu công nghiệp; tiếp nhận nước thải và là khung sinh thái cảnh quan cho khu vực.
"Cần có cơ quan đầu mối đủ thẩm quyền để điều phối chung toàn bộ hệ thống, từ đầu tư hạ tầng đến kiểm soát nguồn thải", ông Hạ kiến nghị.
Chờ đề án cải tạo quy mô lớn
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng đề án xử lý ô nhiễm và phát triển tổng thể hệ thống Bắc Hưng Hải, mục tiêu từng bước phục hồi chất lượng nước, nâng cao năng lực tưới tiêu và điều tiết nước, đồng thời thích ứng với quá trình đô thị hóa nhanh trong lưu vực.
Đề án tập trung vào ba nhóm giải pháp chính. Đầu tiên là nâng cấp và hiện đại hóa hệ thống công trình thủy lợi, cải tạo các công trình đầu mối, nạo vét tuyến kênh trục và kênh nhánh, đồng thời lắp đặt trạm quan trắc tự động để theo dõi chất lượng nước và điều tiết dòng chảy.
Nhóm giải pháp thứ hai là kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất lượng nước, thông qua việc xây dựng các công trình kiểm soát nguồn thải tại vị trí xả lớn, từng bước thu gom và xử lý nước thải trước khi đổ vào hệ thống. Cuối cùng là khai thác tổng hợp không gian hai bên kênh, kết hợp chỉnh trang cảnh quan, phát triển các tuyến đô thị sinh thái và dịch vụ.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường tính toán tổng kinh phí dự kiến để cải tạo toàn diện hệ thống khoảng 38.500 tỷ đồng. Trong đó, khoảng 6.000 tỷ đồng vốn đầu tư công để hoàn thiện hạng mục chính của hệ thống, gồm 4.505 tỷ nâng cấp hạ tầng thủy lợi, 100 tỷ hiện đại hóa công tác quản lý vận hành và khoảng 1.394 tỷ cải tạo các tuyến kênh trục. Các địa phương tham gia đầu tư nhiều hạng mục liên quan kiểm soát ô nhiễm và chỉnh trang hệ thống kênh.
Với quy mô lớn và lịch sử vận hành hơn nửa thế kỷ, chuyên gia và nhà quản lý cho rằng việc hồi sinh Bắc Hưng Hải không chỉ là chuyện cải tạo hệ thống thủy lợi mà là bài toán quản lý tổng hợp cả lưu vực rộng lớn. Nó đòi hỏi sự chung sức của nhiều địa phương, bộ ngành và người dân trong lưu vực.