Trong bài Tăng tốc bứt phá, quyết tâm thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 14 của Đảng, người đứng đầu Chính phủ nêu rõ tăng trưởng hai con số là yêu cầu khách quan từ đòi hỏi phát triển đất nước và khát vọng vươn lên của dân tộc, đồng thời là mục tiêu chiến lược phải thực hiện cho bằng được. Tăng trưởng cao phải gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn và phát triển nhanh, bền vững.
Nhìn lại nhiệm kỳ 2021-2025, Thủ tướng cho biết trong bối cảnh khó khăn, thách thức nhiều hơn thuận lợi, đất nước đã vượt qua “giông bão”, kiểm soát hiệu quả đại dịch Covid-19, phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội, duy trì tăng trưởng thuộc nhóm cao trong khu vực và thế giới. Nền kinh tế giữ vững ổn định vĩ mô, nợ công, bội chi trong giới hạn cho phép; các đột phá chiến lược được triển khai, mở ra không gian phát triển mới theo hướng “thể chế thông thoáng, hạ tầng thông suốt, quản trị thông minh”.
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số được thúc đẩy mạnh mẽ; nhiều tồn đọng kéo dài được xử lý, góp phần giải phóng nguồn lực. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có bước tiến; an sinh xã hội được bảo đảm với tinh thần không để ai bị bỏ lại phía sau; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn khoảng 1,3%. Quốc phòng, an ninh được củng cố; đối ngoại và hội nhập quốc tế là điểm sáng, góp phần nâng cao vị thế, uy tín đất nước.
Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, Thủ tướng đúc kết 5 bài học kinh nghiệm có ý nghĩa định hướng cho giai đoạn tới. Bài học đầu tiên là phải kiên định sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, đồng thời triển khai chủ trương, chính sách chủ động, linh hoạt, sáng tạo, nắm chắc tình hình, phản ứng chính sách kịp thời, hiệu quả, nhất là với những vấn đề mới, khó, chưa có tiền lệ.
Cùng với đó là yêu cầu không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đoàn kết quốc tế, đi cùng quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt. Người dân được xác định là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, đồng thời là nguồn lực và động lực quan trọng nhất của phát triển, từ đó tạo dựng và củng cố niềm tin xã hội.
Một bài học xuyên suốt khác là phải kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, trong đó nội lực là cơ bản, chiến lược, lâu dài, mang tính quyết định; ngoại lực là quan trọng, cần thiết và có thể tạo đột phá. Tư duy phát triển phải nhìn xa, trông rộng, nghĩ sâu, làm lớn, coi trọng thời gian, trí tuệ và sự quyết đoán đúng thời điểm.
Cùng với đó, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền phải đi đôi với phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; phân công nhiệm vụ theo tinh thần “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả.
Bước vào nhiệm kỳ 2026-2030, bối cảnh thế giới được dự báo tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược gia tăng; chuỗi cung ứng, thương mại, đầu tư toàn cầu biến động mạnh; các yếu tố an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, dịch bệnh tiếp tục tác động sâu rộng. Trong nước, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, quy mô còn khiêm tốn, độ mở cao, năng lực cạnh tranh và khả năng chống chịu cần tiếp tục được củng cố.
Trong bối cảnh đó, Thủ tướng yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy bị động sang chủ động thích ứng, “biến nguy thành cơ”, “xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái”, kiểm soát rủi ro hiệu quả thành lợi thế cạnh tranh. Các bộ, ngành, địa phương phải khẩn trương cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội 14 thành chương trình hành động, kế hoạch thực hiện với mục tiêu, lộ trình, giải pháp rõ ràng, có thể “cân đong, đo đếm, lượng hóa được”, gắn trách nhiệm người đứng đầu, khắc phục bệnh hình thức, bệnh thành tích.
Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa 14, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khái quát 5 nội dung công việc quan trọng của nhiệm kỳ, gồm: công tác chính trị, tư tưởng với “4 kiên định”; mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số; phát huy hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; và bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế. Trong đó, tăng trưởng hai con số được xác định là yêu cầu khách quan, gắn với khát vọng phát triển đất nước.
Để đạt mục tiêu này, Thủ tướng nhấn mạnh phải khơi thông, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, phát huy tối đa nội lực, đồng thời tận dụng hiệu quả ngoại lực; vừa làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống như đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu, vừa thúc đẩy mạnh mẽ các động lực mới, trong đó khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh giữ vai trò nền tảng.
Giải pháp được đặt ra theo hướng đồng bộ, có trọng tâm. Về điều hành vĩ mô, các cơ quan tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, vừa giữ ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ sản xuất kinh doanh. Về đầu tư, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, lấy đầu tư công dẫn dắt, kích hoạt đầu tư tư nhân, khai thác hiệu quả dư địa nợ công để huy động thêm nguồn lực phát triển.
Đồng thời, thúc đẩy mạnh mẽ thị trường nội địa trở thành bệ đỡ của nền kinh tế; đa dạng hóa thị trường, sản phẩm, chuỗi cung ứng; nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh. Nguyên tắc “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ” được quán triệt trong hợp tác công tư.
Ba đột phá chiến lược tiếp tục được xác định là hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng hạ tầng đồng bộ. Trong đó, thể chế là “đột phá của đột phá”, phải đi trước, mở đường, xóa bỏ cơ chế “xin cho”, tạo môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, thuận lợi. Nguồn nhân lực được nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo; hạ tầng được phát triển đồng bộ, hiện đại, đặc biệt là giao thông, năng lượng, hạ tầng số.
Cùng với đó, thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; phát triển các ngành công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, năng lượng tái tạo; hình thành các động lực tăng trưởng mới. Các mô hình kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế dữ liệu tiếp tục được khuyến khích phát triển.
Song song với phát triển kinh tế, yêu cầu bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống người dân, phát triển văn hóa, con người, bảo vệ môi trường được đặt ngang tầm. Các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, chăm lo người yếu thế tiếp tục được thực hiện hiệu quả; không hy sinh tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng đơn thuần.
Đặc biệt, Thủ tướng nhấn mạnh phương châm hành động “1 mục tiêu, 2 bảo đảm, 3 có, 4 không, 5 hóa”. Trong đó, “1 mục tiêu” là chăm lo để người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, năm sau tốt hơn năm trước. “2 bảo đảm” là bảo đảm phát triển để ổn định và ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững. “3 có” là có sự tham gia, đóng góp của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. “4 không” là không lãng phí một ngày, không chậm trễ trong một tuần, không bỏ lỡ cơ hội trong một tháng và không để bị động trong cả năm. “5 hóa” gồm xanh hóa, số hóa, tối ưu hóa tiềm năng, thông minh hóa quản trị và hài hòa hóa lợi ích.
Cùng với đó, yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính phục vụ, minh bạch, chuyển từ quản lý sang quản trị phát triển; cắt giảm thủ tục, chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi tối đa cho người dân và doanh nghiệp. Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được thực hiện quyết liệt, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.
Quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố; đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh theo hướng chủ động, tích cực, hiệu quả, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Đối ngoại tiếp tục giữ vai trò tiên phong trong nâng cao vị thế đất nước, gắn kết chặt chẽ với quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế.
Theo Thủ tướng, nhiệm vụ phía trước rất nặng nề nhưng cũng rất vinh quang. Với nền tảng tích lũy qua nhiều năm đổi mới, cùng sự đoàn kết, quyết tâm của toàn hệ thống chính trị, người dân và doanh nghiệp, Việt Nam có đủ điều kiện để thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng hai con số, phát triển nhanh và bền vững, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng.
>>> Nội dung bài viết của Thủ tướng Phạm Minh Chính
Chính phủ ban hành Nghị định số 136 ngày 7.4 quy định chi tiết một số điều của luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội. Đáng chú ý, Chính phủ sửa đổi về điều kiện thu nhập được mua nhà ở xã hội theo hướng tăng mức trần thu nhập từ 5 - 10 triệu đồng tùy đối tượng so với quy định trước đây.
Cụ thể, trường hợp người đứng đơn là người độc thân, thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận (theo bảng lương, tiền công được xác nhận) không quá 25 triệu đồng (tăng 5 triệu đồng so với quy định cũ).
Với người độc thân đang nuôi con dưới tuổi thành niên, mức thu nhập tối đa được nâng lên 35 triệu đồng/tháng (tăng 5 triệu đồng so với quy định cũ). Đối với người đã kết hôn, tổng thu nhập bình quân hàng tháng của hai vợ chồng thực nhận không quá 50 triệu đồng (tăng 10 triệu đồng so với quy định cũ).
Người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân thì có thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 25 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
Người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân đang nuôi con dưới tuổi thành niên thì thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 35 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
Người đứng đơn đã kết hôn theo quy định của pháp luật thì người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó có tổng thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 50 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
Thời gian xác định điều kiện về thu nhập trong 12 tháng liền kề, tính từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền thực hiện xác nhận.
Nghị định 136/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung điều kiện thu nhập để được mua, thuê mua nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân theo hướng mở rộng thành phần thu nhập (bao gồm cả phụ cấp khu vực tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có điều kiện khó khăn).
Đồng thời, thay cách xác định trần thu nhập đối với trường hợp vợ/chồng không thuộc đối tượng: từ hệ số cố định (1,5 lần thu nhập bậc đại tá) sang công thức linh hoạt hơn (thu nhập bậc đại tá + mức lương).
Trường hợp người đứng đơn là người độc thân thì có thu nhập hàng tháng thực nhận không quá tổng thu nhập của sỹ quan có cấp bậc hàm đại tá (gồm lương cơ bản và phụ cấp theo quy định, bao gồm cả phụ cấp khu vực tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có điều kiện khó khăn) được cơ quan, đơn vị nơi công tác, quản lý xác nhận.
Người đứng đơn và vợ (chồng) có tổng thu nhập hàng tháng thực nhận không quá 2 lần tổng thu nhập của sỹ quan có cấp bậc hàm đại tá.
Vợ (chồng) của người đứng đơn có tổng thu nhập hàng tháng thực nhận không quá tổng thu nhập của sỹ quan có cấp bậc hàm đại tá.
Vợ (chồng) của người đứng đơn không có hợp đồng lao động thì thực hiện việc xác nhận điều kiện về thu nhập theo quy định tại khoản 2 Điều 30 của Nghị định.
Đây là yêu cầu được Ủy viên T.Ư Đảng, Phó trưởng Ban Tuyên giáo - Dân vận Trung ương Trần Thanh Lâm nêu rõ tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cho các cơ quan báo chí, xuất bản và đại biểu văn nghệ sĩ, trí thức, sáng 8.4.
Hội nghị diễn ra theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối hơn 40 điểm cầu trên toàn quốc với khoảng 7.000 đại biểu tham dự.
Phát biểu tại hội nghị, Phó trưởng ban Tuyên giáo - Dân vận Trung ương Trần Thanh Lâm nhấn mạnh, để triển khai hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, văn hóa, ông Lâm đề nghị cần tránh hình thức, coi việc học tập nghị quyết không chỉ là nhiệm vụ của riêng năm 2026 mà là xuyên suốt cả nhiệm kỳ.
"Không đơn thuần là ban hành hướng dẫn, kế hoạch, xây dựng chương trình hành động, mà mỗi cấp ủy viên, mỗi lãnh đạo cần thấm nhuần tư tưởng, tinh thần đổi mới, mục tiêu chiến lược, nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp đột phá trong các nghị quyết để từ đó tổ chức triển khai quyết liệt, sáng tạo, hiệu quả vào đặc thù của từng lĩnh vực", ông Lâm nhấn mạnh.
Theo ông Trần Thanh Lâm, Nghị quyết Đại hội XIV đã xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm đối với báo chí, xuất bản, văn hóa văn nghệ và khoa học công nghệ. Trong đó, lực lượng báo chí, xuất bản cần quyết tâm xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại.
Với lĩnh vực văn hóa, Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị khẳng định văn hóa phải đặt ngang tầm với kinh tế và chính trị, con người là trung tâm. Đội ngũ văn nghệ sĩ được xác định là lực lượng xây dựng, bồi đắp tâm hồn dân tộc, thắp lửa khát vọng cho nhân dân, cần có cơ chế phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò này.
Đối với trí thức và nhà khoa học, Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị nhấn mạnh khoa học công nghệ là động lực chủ yếu của tăng trưởng, trong đó đội ngũ trí thức là nhân tố quan trọng nhất. Vì vậy, cần tháo gỡ các nút thắt về cơ chế, đầu tư, tự chủ để tạo môi trường sáng tạo và cống hiến.
Đặc biệt, yếu tố con người được xác định là khâu đột phá. Theo ông Lâm, mọi mục tiêu sẽ khó trở thành hiện thực nếu không có đội ngũ cán bộ báo chí, trí thức, nghệ sĩ đủ tâm và đủ tầm.
Ông cũng lưu ý, các nghị quyết chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi được cụ thể hóa bằng chương trình hành động, dự án, đề án với địa chỉ rõ ràng, có thời hạn và thước đo hiệu quả cụ thể. Kết quả thực hiện chính là thước đo năng lực lãnh đạo, điều hành và trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân.
Làm rõ hơn quan điểm về báo chí, xuất bản trong văn kiện Đại hội XIV, Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, Tổng biên tập Báo Nhân Dân Lê Quốc Minh cho rằng trong kỷ nguyên mới, báo chí, truyền thông phải đóng vai trò tiên phong trong định hướng, phản ánh và thúc đẩy hành động xã hội.
Theo Tổng biên tập Báo Nhân Dân, báo chí không chỉ là "người thư ký trung thành của thời đại" mà còn phải là lực lượng định hướng tư tưởng, cổ vũ tinh thần yêu nước, khơi dậy khát vọng xây dựng xã hội Việt Nam phát triển, văn minh và an toàn.
"Trong kỷ nguyên mới, yêu cầu "chuyên nghiệp" với báo chí, xuất bản, truyền thông không chỉ ở vai trò là "người thư ký trung thành của thời đại" mà đề cao tính định hướng tư tưởng, là "ngọn đuốc soi đường" cổ vũ tinh thần yêu nước, khơi dậy khát vọng xây dựng xã hội Việt Nam lành mạnh, kỷ cương, văn minh, an toàn và phát triển", ông Minh lưu ý.
Cũng theo ông Minh, đội ngũ báo chí phải thực sự là những chiến sĩ tinh nhuệ trên mặt trận văn hóa, vững vàng bản lĩnh chính trị, tinh thông nghiệp vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công chúng.
Các cơ quan báo chí cần xây dựng thương hiệu mạnh, đủ sức cạnh tranh với các nền tảng xuyên biên giới, giữ vững chủ quyền thông tin quốc gia và định hướng dòng chảy thông tin tích cực trong xã hội.
Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, báo chí cần liên tục đổi mới cách thức truyền tải thông tin, thu hút công chúng nhưng vẫn đảm bảo vai trò dẫn dắt dư luận, phản biện xã hội và không để các nền tảng không chính thống chiếm lĩnh vị trí này.
Nhấn mạnh báo chí Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt quan trọng, ông Minh cho rằng nếu tận dụng tốt cơ hội và đổi mới kịp thời, có thể xây dựng nền báo chí hiện đại, cạnh tranh cao, đóng góp tích cực cho sự phát triển đất nước. Ngược lại, nếu chậm đổi mới sẽ đối mặt nguy cơ tụt hậu và mất vai trò dẫn dắt.
"Việc quán triệt và triển khai hiệu quả các quan điểm của Đại hội XIV về báo chí, xuất bản là yêu cầu sống còn đối với mỗi cơ quan báo chí, xuất bản", Tổng biên tập Báo Nhân Dân nêu rõ.
Chiều 13/4, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh (phường Phố Hiến), HĐND tỉnh Hưng Yên khóa XVIII, nhiệm kỳ 2026-2031 khai mạc kỳ họp thứ nhất.
Tại kỳ họp, HĐND tỉnh nghe báo cáo kết quả bầu cử đại biểu và xác nhận tư cách đại biểu. Các đại biểu thực hiện quy trình bầu các chức danh của HĐND, UBND tỉnh; bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân tỉnh và các khu vực nhiệm kỳ 2026-2031.
HĐND tỉnh cũng công bố nghị quyết về tổ chức bộ máy, phê chuẩn danh sách phó trưởng ban, ủy viên các ban; thành lập các tổ đại biểu và chỉ định tổ trưởng, tổ phó. Nhiều tờ trình, dự thảo nghị quyết quan trọng được xem xét, thông qua.
Ngay trong chiều cùng ngày, HĐND tỉnh tiến hành bầu các chức danh chủ chốt. Kết quả, ông Nguyễn Mạnh Quyền, Phó Bí thư Tỉnh ủy, được bầu giữ chức Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên nhiệm kỳ 2026-2031.
Các Phó Chủ tịch UBND tỉnh được bầu gồm: Nguyễn Lê Huy, Lê Quang Hòa, Phạm Văn Nghiêm, Lại Văn Hoàn và Nguyễn Hùng Nam.
Cũng tại kỳ họp, ông Trần Quốc Văn được tái cử giữ chức Chủ tịch HĐND tỉnh khóa XVIII. Các Phó Chủ tịch HĐND tỉnh gồm: Lê Xuân Tiến, Đặng Thanh Giang, Trần Thị Tuyết Hương và Vũ Ngọc Trì.
Trước đó, ngày 9/4, ông Phạm Quang Ngọc được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên nhiệm kỳ 2025-2030.
Ông Nguyễn Mạnh Quyền sinh năm 1975, quê Hà Nội, có nhiều năm công tác trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư. Ông từng giữ các chức vụ như Phó Giám đốc, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội; Chủ tịch, Bí thư Huyện ủy Quốc Oai; Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội.
Tháng 3, ông được Ban Bí thư điều động, chỉ định giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên, sau đó được giới thiệu để HĐND tỉnh bầu giữ chức Chủ tịch UBND tỉnh nhiệm kỳ mới.