Hết một vòng xoay, tuổi 30 vì thế là khi con người đạt tới độ chín muồi.
Còn nhớ hơn 10 năm trước, Hoàng Dũng mới xuất hiện trong Giọng hát Việt. Lúc ấy anh còn hát nhạc của người khác, còn bây giờ anh đã là một nhạc sĩ có chỗ đứng riêng.
Thậm chí hơn năm năm trước, khi anh nổi như cồn với Nàng thơ, nhắc đến Hoàng Dũng là nhắc đến hình tượng chàng “nhạc sĩ mộng mơ”, thì giờ đây những sáng tác của anh cũng đa dạng hơn nhiều.
Trong album đón tuổi 30 của mình vào năm ngoái Xoay tròn ta được thấy một Hoàng Dũng tâm trạng vùng vẫy trong cảm thức vô hướng của cuộc đời ở La bàn; lại được thấy một Hoàng Dũng chống lại sự nhàm chán, lặp đi lặp lại không ngừng của thời gian trong Cuối tuần (1825), làm không ít người giật mình khi nhận ra có thể ta đã trải qua những ngày thứ Hai đến 1.825 lần.
HOÀNG DŨNG – LA BÀN
Ta cũng được thấy một Hoàng Dũng ở tuổi 30 đã chấp nhận những quy luật đổi thay của cuộc đời trong Đừng giữ chỗ: “Đàn chim cũng nối đuôi theo nhau rời đi… Đừng giữ chỗ cho tôi khi tôi rời đi”.
Vậy là từ một nhạc sĩ chuyên trị nhạc tình, giờ đây thế giới âm nhạc của anh đã khác, đã có những suy tư về những điều trừu tượng hơn: vị trí của con người trong thời gian, trong không gian, trên thế gian.
Tuổi 30 cũng là phông nền cho Phùng Khánh Linh khám phá sâu hơn tâm hồn mình trong Giữa một vạn người, một trong những album với concept chắc chắn nhất trong thời gian qua.
Có lẽ nếu gọi vui Citopia, album ra mắt bốn năm trước khi Phùng Khánh Linh vẫn chưa sang tuổi 30, là nàng thiên nga trắng Odette, thì Giữa một vạn người là nàng thiên nga đen Odile.
Cả hai đều cùng nói về tình yêu, về nỗi đau tình yêu, về mất mát tình yêu nhưng Citopia mang đến cảm giác ngọt ngào, tươi sáng bao nhiêu thì Giữa một vạn người lại kỳ bí, ám ảnh, thậm chí đôi khi là mị hoặc bấy nhiêu. Citopia là những mảng màu neon rực rỡ, Giữa một vạn người lại đặc quánh những gam âm tối thẫm. Tuổi 30, có thể là tuổi nhiều bi quan hơn, nhiều hoài nghi hơn.
Nhưng tuổi 30 cũng có thể là tuổi lạc quan hơn. Ta sẽ thấy một Hương Tràm ít nhiều lạc quan hơn trong album trở lại của mình Phao cứu sinh. Ơn trời, cuối cùng Hương Tràm cũng đã trở về với những ca khúc buồn về những cuộc tình tréo ngoe đau khổ!
Ta hoàn toàn có thể tưởng tượng nếu album này ra mắt độ 4, 5 năm trước, nó sẽ đạt thành tích tốt hơn nhiều khi ra mắt vào quãng thời gian qua. Thời Em gái mưa, đâu đâu người ta cũng yêu thích những bản ballad sâu lắng.
Tiếc rằng gu nhạc đã tạm thời thay đổi, vì thế mà những ca khúc như Ước anh nhiều nỗi buồn hay Nhường anh cho cô ấy chưa đưa Hương Tràm trở lại thời đỉnh cao danh tiếng như kỳ vọng. Mặc dù vậy thời thế là chuyện của thời thế, còn giọng hát lại là chuyện khác.
Những giằng xé tâm tư tương đối phức tạp: chỉ một album nhưng tâm trạng của người đàn bà khổ lụy, tủi hờn vì tình nhưng khi thì vị kỷ và nhỏ mọn mong anh nhiều nỗi buồn, lúc lại vị tha và rộng lượng hy vọng cuộc sống nơi anh nhẹ nhàng.
Nhưng gọi là lạc quan hơn là bởi, theo cấu trúc của album, càng đi xa ta lại càng thấy sự nhẹ nhõm trong âm nhạc, trong khi toàn bộ sức nặng của album dồn vào ca khúc đầu tiên. Có lẽ, tuổi 30 dễ bị tổn thương mà cũng dễ buông bỏ hơn.
Hương Tràm đã trở lại là chính Hương Tràm nhưng trưởng thành hơn, dồn nén hơn, đa đoan hơn. Không ai tắm hai lần trên một dòng sông. Sao Thổ có quay trở lại vị trí ban đầu cũng đã là một sao Thổ khác.
Theo WWW, bodysuit khoét hông cao theo kiểu thập niên 1980 tiếp tục là một trong những thiết kế được giới trẻ lựa chọn nhiều nhất mùa nóng năm nay. Trên TikTok, các video chia sẻ cách mặc món đồ này thu hút hàng trăm nghìn lượt yêu thích.
Theo WWW, bodysuit khoét hông cao theo kiểu thập niên 1980 tiếp tục là một trong những thiết kế được giới trẻ lựa chọn nhiều nhất mùa nóng năm nay. Trên TikTok, các video chia sẻ cách mặc món đồ này thu hút hàng trăm nghìn lượt yêu thích.
Bodysuit vốn là trang phục dành cho môn ballet, gym, biểu diễn. Cuối thập niên 1970, thiết kế này trở thành xu hướng được yêu thích khi phong trào aerobic bùng nổ tại Mỹ. Theo Elle, người góp phần khiến bodysuit thành mốt hot là minh tinh Jane Fonda với video tập aerobic năm 1982. Sau video này, phụ nữ bắt đầu mặc theo công thức bodysuit, quần legging và ống bao chân.
Bodysuit vốn là trang phục dành cho môn ballet, gym, biểu diễn. Cuối thập niên 1970, thiết kế này trở thành xu hướng được yêu thích khi phong trào aerobic bùng nổ tại Mỹ. Theo Elle, người góp phần khiến bodysuit thành mốt hot là minh tinh Jane Fonda với video tập aerobic năm 1982. Sau video này, phụ nữ bắt đầu mặc theo công thức bodysuit, quần legging và ống bao chân.
Jane Fonda hướng dẫn tập aerobic
Jane Fonda hướng dẫn tập aerobic năm 1982. Video: Tonic
Khác với vẻ sexy cổ điển, bodysuit đem tới sự khỏe khoắn vì gắn liền phong trào thể dục.
Khác với vẻ sexy cổ điển, bodysuit đem tới sự khỏe khoắn vì gắn liền phong trào thể dục.
Nhiều người yêu thích thiết kế này vì nó mang lại hiệu ứng kéo dài chân, nhấn vòng hông và tạo hình chữ V hút mắt.
Nhiều người yêu thích thiết kế này vì nó mang lại hiệu ứng kéo dài chân, nhấn vòng hông và tạo hình chữ V hút mắt.
Một chiếc bodysuit khoét hông cao mang nhiều yếu tố khiến Gen Z ưa chuộng, như kiểu dáng đơn giản nhưng vẫn nổi bật, ôm sát, đường cắt táo bạo.
Một chiếc bodysuit khoét hông cao mang nhiều yếu tố khiến Gen Z ưa chuộng, như kiểu dáng đơn giản nhưng vẫn nổi bật, ôm sát, đường cắt táo bạo.
Áo thường được kết hợp với quần cạp trễ hoặc váy kéo tụt để làm lộ đường xẻ sâu.
Áo thường được kết hợp với quần cạp trễ hoặc váy kéo tụt để làm lộ đường xẻ sâu.
Một chiếc áo dáng này có giá dao động 180.000-350.000 đồng. Chất liệu thịnh hành gồm thun co giãn, ren.
Một chiếc áo dáng này có giá dao động 180.000-350.000 đồng. Chất liệu thịnh hành gồm thun co giãn, ren.
Một bạn trẻ kết hợp áo cùng quần shorts, bốt cao bồi và túi xách họa tiết da bò khi dạo phố.
Một bạn trẻ kết hợp áo cùng quần shorts, bốt cao bồi và túi xách họa tiết da bò khi dạo phố.
Công thức gồm áo, quần jeans ống rộng và sneakers được nhiều cô gái áp dụng.
Công thức gồm áo, quần jeans ống rộng và sneakers được nhiều cô gái áp dụng.
Phong cách gợi cảm được thể hiện với áo xẻ sâu, áo ngực ren theo mốt khoe nội y.
Theo Sina, người đẹp 58 tuổi hiện nhận nhiều sự chú ý khi tham gia show thực tế Tỷ tỷ đạp gió rẽ sóng của Mango TV. Ở tập đầu tiên, cô hát Nhất liêm u mộng, bài hát chủ đề phim cùng tên chuyển thể tiểu thuyết Quỳnh Dao, nhận điểm số cao nhất từ giám khảo và khán giả.
Trước khi tham gia chương trình về ca hát, vũ đạo, Tiêu Tường sống bình lặng, sinh hoạt điều độ. Cô cho biết ngủ sớm, dậy sớm, hàng ngày đi dạo công viên, tập yoga, chép Kinh phật, luyện thư pháp, chăm sóc thú cưng và cây cảnh.
Diễn viên từng lo âu về tuổi tác, nhan sắc, nhưng sau vài năm chép Kinh, luyện thư pháp, cô cảm thấy tâm trạng ổn định và thanh thản, nhẹ nhõm. Tiêu Tường không đặt nặng cô viết chữ có đẹp hay không, chỉ cảm thấy tận hưởng quá trình đó, hòa tâm trí vào bút mực.
Sống độc thân, Tiêu Tường không cảm thấy cô đơn, trống vắng vì có nhiều việc và sở thích. Cô nói: "Với tôi, kết hôn không còn quan trọng. Trong suy nghĩ của tôi, bạn đời mang ý nghĩa rộng, sở thích hoặc bạn tâm giao cũng có thể là bạn đời của tôi. Bây giờ, mỗi ngày đối với tôi đều dễ thương".
Thời trẻ, Tiêu Tường qua một vài mối tình. Cô yêu lần đầu năm 20 tuổi, cuộc tình kéo dài 10 năm. Diễn viên nói: "Anh ấy là người duy nhất làm tôi khao khát kết hôn. Nhưng thời đó chúng tôi yêu xa quá lâu, cuối cùng chẳng đi đến đâu".
Tiêu Tường vào làng giải trí năm 21 tuổi với vai trò người mẫu ảnh. Cô được tài tử Mã Cảnh Đào phát hiện, giới thiệu đóng phim truyền hình đầu tiên - Tình thâm vô oán. Nhờ nhan sắc nổi bật và diễn xuất tốt, Tiêu Tường tham gia hàng loạt phim như Một thoáng mộng mơ, Tiểu Lý phi đao, Mai này vẫn yêu em, Hiệp cốt đan tâm... Cô là minh tinh Đài Loan hàng đầu thập niên 1990, đắt show quảng cáo.
Khi phiên bản châu Á của Eurovision Song Contest được lên kế hoạch tổ chức tại Bangkok (Thái Lan) trong năm nay, nhiều người xem đó là bước mở rộng tự nhiên của một format toàn cầu. Nhưng ở chiều ngược lại, công chúng cũng nhận ra trong vài năm qua, chính châu Á cũng đã bắt đầu xuất khẩu những "công thức giải trí" của riêng mình và được thế giới mua lại.
Trước, các format giải trí lớn của thế giới như: Next Top Model, The Voice, X-Factor, American Idol, Got Talent... đều có điểm chung là được sinh ra ở trời Tây và được "bản địa hóa" tại các thị trường châu Á.
Tuy nhiên, khoảng 5-7 năm trở lại đây, cục diện thay đổi. Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và gần đây là cả Thái Lan, Việt Nam bắt đầu phát triển những chương trình mang tính nguyên bản cao hơn, không chỉ để phục vụ thị trường nội địa mà còn hướng đến khán giả khu vực.
Một trong những ví dụ rõ ràng nhất là Masked singer - chương trình bắt nguồn từ Hàn Quốc. Format này sau đó được bán bản quyền sang Mỹ với phiên bản The masked singer và nhanh chóng trở thành hit rating trên truyền hình Mỹ rồi lan rộng sang hàng chục quốc gia khác. Tại Việt Nam, phiên bản có tên Ca sĩ mặt nạ cũng rất đình đám.
Một ví dụ khác là Running man. Dù không phải là format bán bản quyền theo cách truyền thống nhưng chương trình này đã được Trung Quốc phát triển thành Keep running - một trong những show giải trí ăn khách nhất nhiều năm liền. Sau đó mô hình show thực tế thiên về tương tác và thể lực này tiếp tục được nhiều quốc gia học hỏi và biến tấu, trong đó có Việt Nam với tên gọi Chạy đi chờ chi.
Những show như Produce 101 hay các phiên bản Đạp gió (Sisters who make waves), Anh trai vượt ngàn chông gai (Call me by fire), Tân binh tài năng (Show it all)... không còn đơn thuần là chương trình giải trí. Chúng trở thành một "hệ sinh thái" hoàn chỉnh gồm: đào tạo, ra mắt nghệ sĩ, xây dựng fandom, tổ chức concert, bán nội dung số. Tất cả được tích hợp trong cùng một format.
Điều đáng chú ý là chính các format này lại đang được "xuất khẩu ngược" sang nhiều quốc gia khác. Tức là giờ đây châu Á không chỉ mua bản quyền mà còn bán lại ý tưởng.
Một xu hướng nổi bật khác là sự xuất hiện ngày càng nhiều của các chương trình thực tế mang tính xuyên quốc gia, nơi nghệ sĩ từ nhiều nền văn hóa cùng tham gia trong một format chung.
Điều này không chỉ tạo ra sự đa dạng về màu sắc giải trí mà còn là chiến lược "xuất khẩu văn hóa mềm" (soft power) một cách tinh vi. Đảo thiên đường (CATS, sản xuất năm 2024) hay Tân binh thăng cấp (Yeah1, sản xuất năm 2025)... là những ví dụ điển hình cho format này.
Khi các nghệ sĩ Thái Lan, Trung Quốc hay Việt Nam cùng xuất hiện trong một chương trình, họ không chỉ đại diện cho cá nhân mà còn mang theo bản sắc văn hóa của quốc gia mình.
Khán giả vì thế không còn tiếp cận văn hóa qua những sản phẩm "đóng gói sẵn" mà thông qua sự tương tác trực tiếp giữa các nghệ sĩ. Đây là điểm khác biệt rất lớn so với làn sóng Hallyu (Hàn Quốc) trước đây, vốn chủ yếu là xuất khẩu sản phẩm hoàn chỉnh. Giờ đây châu Á đang xuất khẩu cả quá trình tạo ra sản phẩm.
Việc xây dựng một phiên bản tương tự Eurovision Song Contest tại châu Á không phải là ý tưởng mới. Nhưng nếu thành hiện thực, nó phản ánh một xu hướng lớn hơn. Đó là châu Á đã đủ tự tin để tham gia vào "sân chơi format toàn cầu", không chỉ với tư cách người mua mà là đối tác đồng sáng tạo.
Eurovision, ra đời từ năm 1956, vượt qua tầm là một cuộc thi âm nhạc, nó là biểu tượng của sự kết nối văn hóa châu Âu. Nếu châu Á có một sân chơi tương tự, đó sẽ là bước khẳng định rằng khu vực này đã đủ năng lực để tạo ra một "trục văn hóa" riêng, thay vì xoay quanh các trung tâm cũ như Mỹ hay châu Âu.
Tuy nhiên, thách thức cũng không nhỏ bởi châu Á là một khu vực đa dạng về ngôn ngữ, chính trị, tôn giáo và thị hiếu. Việc tìm ra một format có thể dung hòa tất cả những yếu tố này đòi hỏi không chỉ nguồn lực tài chính mà còn cả sự tinh tế trong cách tiếp cận văn hóa. Dẫu vậy, việc dự án này được xúc tiến cho thấy rằng châu Á đã sẵn sàng nghĩ và chơi lớn hơn! Sự chuyển dịch này không ngẫu nhiên mà có. Đó là kết quả của nhiều yếu tố cộng hưởng.
Trước hết là quy mô khán giả. Với hàng tỉ người dùng Internet và mạng xã hội, châu Á hiện là thị trường tiêu thụ nội dung lớn nhất thế giới.
Điều này tạo điều kiện để các nhà sản xuất thử nghiệm, tối ưu và phát triển format ngay trong khu vực, trước khi nghĩ đến việc xuất khẩu.
Thứ hai là sự phát triển của nền tảng số. Các nền tảng video, mạng xã hội và streaming giúp nội dung dễ dàng vượt qua biên giới. Một show thực tế tại Trung Quốc hay Hàn Quốc hoàn toàn có thể trở thành hiện tượng tại Việt Nam, Thái Lan hay thậm chí là Mỹ, chỉ sau vài ngày.
Cuối cùng là sự thay đổi trong tư duy sáng tạo. Thế hệ nhà sản xuất trẻ tại châu Á không còn mặc định rằng "chuẩn mực" phải đến từ phương Tây. Họ sẵn sàng thử nghiệm, pha trộn và tạo ra những format mang bản sắc riêng - đôi khi rất khác biệt nhưng lại có sức hút toàn cầu.
Sẽ còn quá sớm để nói rằng châu Á đã thay thế phương Tây trong việc dẫn dắt văn hóa đại chúng toàn cầu. Nhưng rõ ràng, cán cân đang dần dịch chuyển. Dẫu còn nhiều thách thức, châu Á dần chứng minh mình đang tiến gần hơn tới vị thế của một "công xưởng sản xuất văn hóa đại chúng", thậm chí là "người định hình xu hướng" mới của thế giới.