Chương trình Tư vấn mùa thi vừa được tổ chức tại Trường ĐH Cửu Long (Vĩnh Long) vào hôm 12.4, với nhiều người nước ngoài là sinh viên quốc tế của trường tham gia hỗ trợ. Trao đổi với Thanh Niên, sinh viên Lào Khamsavay Xayakong, đang học năm 3 ngành dược, kể cô sinh ra và lớn lên ở xã Phornuan – một vùng nông thôn tại huyện Laongam, tỉnh Saravanh tọa lạc miền nam nước Lào.
Xuất thân từ gia đình có truyền thống học y khoa, Khamsavay cũng nuôi ước mơ tương tự. Vì thế, khi được người thân và bạn bè giới thiệu Việt Nam có thế mạnh đào tạo y dược, cô biết đây chính là tương lai những năm ĐH của mình. Quyết định này còn được đưa ra trong bối cảnh tại Lào, chỉ một số địa phương lớn và xa với quê nhà của nữ sinh như Viêng Chăn, Champasak… mới có trường đào tạo các ngành này.
“Là người nước ngoài học chương trình dạy bằng tiếng Việt, nhiều lúc tôi nghe không hiểu bài giảng trên lớp. Biết được điều đó, thầy cô và bạn bè người Việt đã giúp đỡ tôi rất nhiều, từ giảng chậm lại đến thực hành trước cho tôi nắm rõ”, nữ sinh đạt trình độ 4/6 trong khung năng lực tiếng Việt bộc bạch. “Thầy cô và bạn bè yêu thương tôi như anh em trong nhà”, Khamsavay nói thêm.
Sau khi tốt nghiệp tại Việt Nam, Khamsavay chia sẻ cô sẽ trở về quê hương để làm việc tại một bệnh viện tại xã Houynamsun gần nhà. Trước đó, ngoài việc học, cô còn đăng ký tham gia câu lạc bộ văn nghệ của trường để lan tỏa văn hóa nước Lào đến bạn bè người Việt thân thiết của mình.
Tương tự, sinh viên Campuchia Tuorn Angkea Seyla, năm 2 ngành điều dưỡng, cũng mong có thể về quê Kompong Speu để làm việc ở bệnh viện tỉnh sau khi tốt nghiệp. Seyla kể rằng, thử thách lớn nhất cô đang đối diện là có thể nghe hiểu nhưng chưa nói sành sỏi tiếng Việt, một phần vì tiếng Việt có dùng dấu câu khác với tiếng Campuchia. Để khắc phục, nữ sinh chủ động giao tiếp với các bạn người Việt để rèn cách phát âm.
Seyla chia sẻ thêm, cô rất trân quý thầy cô và bạn bè người Việt khi luôn sẵn lòng giải thích lại những vấn đề cô chưa hiểu rõ, dù trong hay ngoài giảng đường. Cô cũng có bạn thân là người Việt, cả hai đã nên duyên sau thời gian thường xuyên học tập cùng nhau.
Hiện trong thời gian học dự bị tiếng Việt trước khi vào chuyên ngành, hai nữ sinh Sri Lanka Ravi Gowry Shanthi cùng Pattiyge Mihini Methsari Peiris cho biết đều chọn Việt Nam làm điểm đến du học vì có nền văn hóa lâu đời và ẩm thực đa dạng, trong khi cả hai lại yêu thích khám phá. “Đồ ăn Việt Nam vừa miệng, không cay nồng như ở Sri Lanka. Ở đây, chúng tôi cũng được chỉ cách dùng đũa để thưởng thức các món ăn”, hai nữ sinh kể.
“Người Việt còn rất thân thiện”, cả hai chia sẻ.
Dù cuộc sống tại Việt Nam luôn tràn đầy niềm vui, Ravi và Mihini cho biết cũng nhiều lần rơi vào tình huống trớ trêu khi bị nhận nhầm là… người Ấn Độ. “Những lúc này, chúng tôi sẽ rất vui vẻ giải thích về đất nước và văn hóa của mình”, hai nữ sinh nói.
Song song đó, cả hai cũng đang đối diện với một thử thách “sống còn” là vượt qua bài kiểm tra tiếng Việt sẽ được tổ chức sau 4 tháng nữa, đặc biệt khi một từ tiếng Việt có nhiều nghĩa khác nhau. “Đây là cái khó nhất”, Ravi nói. Ngoài ra, cách phát âm cũng là một vấn đề làm nữ sinh đau đầu.
Cô ví dụ, để chỉ cái chết, tiếng Anh chỉ có từ “death” trong khi tiếng Việt sẽ có thêm các từ mất, ra đi, qua đời, từ trần, hy sinh, băng hà… tùy ngữ cảnh. Trong khi đó, khi phát âm chữ nấm, nếu cô không nói đúng thì người nghe có thể hiểu nhầm thành nam (men), năm (year), năm (số 5), nằm (lie) chứ không biết đó là nấm (mushroom).
Sau khi hoàn thành khóa tiếng Việt, Ravi cùng Mihini sẽ được vào học chuyên ngành công nghệ thông tin. Chia sẻ về kế hoạch tương lai sau tốt nghiệp, Mihini nói cô dự định về nước sắp xếp công việc rồi lên lịch trở lại Việt Nam, còn Ravi mong muốn gắn bó lâu dài với dải đất hình chữ S. “Mọi người tại đây rất tốt bụng và luôn giang tay giúp đỡ người nước ngoài. Tôi yêu Việt Nam”, nữ sinh bộc bạch.
Điểm đặc biệt của 4 sinh viên quốc tế nêu trên là đều được trao học bổng toàn phần nhờ thành tích học tập xuất sắc. Tuy nhiên trong vài năm trở lại đây, một tín hiệu tích cực là số lượng sinh viên quốc tế học diện tự túc ở trường ngày càng tăng, theo tiến sĩ Nguyễn Thanh Dũng, Phó hiệu trưởng kiêm Viện trưởng Viện Hợp tác và đào tạo quốc tế Trường ĐH Cửu Long.
Thầy Dũng thông tin, trường đang thu hút 137 sinh viên quốc tế gồm 56 sinh viên Lào, 74 sinh viên Campuchia, 5 sinh viên Sri Lanka và 2 sinh viên Đức. Tất cả đều theo học chương trình cấp bằng từ cử nhân tới thạc sĩ. Tất cả cũng đều dành năm đầu để học tiếng Việt trước khi vào chuyên ngành dạy bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh. Các ngành đào tạo phổ biến với sinh viên quốc tế là sức khỏe, kinh tế, công nghệ thông tin…, thầy Dũng cho biết thêm.
Cũng theo tiến sĩ Dũng, trừ 7 sinh viên Sri Lanka và Đức đều nhận học bổng toàn phần, số lượng sinh viên quốc tế du học tự túc tại trường là 46 bạn, chiếm khoảng 33% và mang lại nguồn thu đáng kể cho nhà trường. Trong đó, số lượng tự túc tăng nhanh ở nhóm sinh viên Campuchia, trong khi nhóm sinh viên Lào tự túc đang chững lại.
“Trường cũng là một trong số ít cơ sở giáo dục ĐH trên cả nước thu hút sinh viên Sri Lanka và là đơn vị duy nhất tại Đồng bằng sông Cửu Long được Bộ GD-ĐT cho phép đào tạo và cấp chứng chỉ tiếng Việt cho người nước ngoài”, tiến sĩ Dũng cho hay. Đồng thời ông cho biết thêm những năm học trước trường còn thu hút sinh viên từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Đài Loan đến học các khóa dạy ngôn ngữ Việt.
Để hỗ trợ sinh viên quốc tế, Trường ĐH Cửu Long không chỉ xây dựng khu ký túc xá riêng mà còn phân công 3 bộ phận phối hợp quản lý là Ban Quản lý ký túc xá, Phòng Công tác sinh viên cùng Viện Hợp tác và đào tạo quốc tế. “Chúng tôi đặc biệt quan tâm tới yếu tố an toàn cho các bạn”, thầy Dũng nói thêm.
Tư vấn mùa thi là chương trình thường niên do Báo Thanh Niên phối hợp thực hiện với Bộ GD-ĐT và các cơ quan, đoàn thể địa phương. Sự kiện diễn ra ở Trường ĐH Cửu Long mới đây cũng là trạm dừng cuối của Tư vấn mùa thi trong năm 2026 và đánh dấu mốc 28 lần tổ chức thành công chương trình trên toàn quốc.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 125/2026/NĐ-CP quy định về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục ĐH, áp dụng đối với cơ sở giáo dục ĐH, các đơn vị thuộc và trực thuộc cơ sở giáo dục ĐH, giảng viên, nghiên cứu viên, người học và tổ chức, cá nhân liên quan tham gia hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục ĐH.
Nghị định quy định trong cơ sở giáo dục ĐH được xây dựng các nhóm nghiên cứu tiềm năng và nhóm nghiên cứu mạnh.
Theo đó, nhóm nghiên cứu tiềm năng có ít nhất 3 thành viên, trong đó trưởng nhóm là giảng viên cơ hữu của trường và ít nhất 2 thành viên chủ chốt.
Còn nhóm nghiên cứu mạnh bao gồm ít nhất 5 thành viên, trong đó trưởng nhóm là giảng viên cơ hữu của trường và ít nhất 4 thành viên chủ chốt.
Nguyên tắc phát triển nhóm nghiên cứu theo hướng tạo ra sản phẩm khoa học có giá trị học thuật hoặc khả năng thương mại hóa; đồng thời tạo cơ hội cho giảng viên, nghiên cứu viên, người học, nhà khoa học, chuyên gia tham gia nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu và bảo đảm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Bên cạnh đó, tạo điều kiện để thúc đẩy hợp tác giữa các cơ sở giáo dục đại học, tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Các nhóm nghiên cứu này sẽ được hưởng một số quyền lợi ưu đãi. Cụ thể, nhóm nghiên cứu tiềm năng sẽ được ưu tiên xem xét đặt hàng nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhiệm vụ hợp tác quốc tế và hợp tác với doanh nghiệp; được ưu tiên hỗ trợ ươm tạo, nâng cao năng lực nghiên cứu nhằm phát triển lên nhóm nghiên cứu mạnh.
Trưởng nhóm nghiên cứu tiềm năng được giảm đến 50%, thành viên chủ chốt nhóm nghiên cứu tiềm năng được giảm đến 20% định mức giờ chuẩn giảng dạy hằng năm và được khấu trừ tương ứng vào định mức giảng dạy khi xét tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư.
Không những vậy, được trường ưu tiên bố trí không gian làm việc, điều kiện nghiên cứu và hỗ trợ kinh phí khởi động trong phạm vi nguồn lực và quyền tự chủ của cơ sở giáo dục ĐH.
Đối với nhóm nghiên cứu mạnh được hưởng các ưu đãi từ Nhà nước, đồng thời được trường bố trí kinh phí hoạt động thường xuyên, phòng làm việc và các phương tiện cần thiết; được hỗ trợ kinh phí theo khả năng của trường để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu đã được phê duyệt.
Trưởng nhóm được giảm đến 80% định mức giờ chuẩn giảng dạy hằng năm; thành viên chủ chốt là giảng viên của trường chủ trì được giảm đến 50% định mức giờ chuẩn hàng năm và được khấu trừ vào định mức giảng dạy khi xét tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư.
Nghị định cũng làm rõ quyền và trách nhiệm của giảng viên, đặc biệt là giáo sư, phó giáo sư và giảng viên trẻ có trình độ tiến sĩ.
Theo đó, giảng viên được bảo đảm điều kiện nghiên cứu, tiếp cận nguồn tài trợ, giảm định mức giảng dạy và hưởng lợi ích tương xứng với kết quả nghiên cứu.
Đặc biệt, giảng viên có học vị giáo giáo sư có thể được giảm tới 60% giờ giảng, phó giáo sư giảm tới 40%, thậm chí được tạm dừng giảng dạy tối đa một năm để phục vụ nghiên cứu và hợp tác quốc tế.
Ngoài ra, giáo sư, phó giáo sư được ưu tiên đặt hàng, giao chủ trì nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đối với nhóm công nghệ chiến lược và những lĩnh vực mà Nhà nước ưu tiên.
Giảng viên có trình độ tiến sĩ từ 40 tuổi trở xuống được trường xem xét hỗ trợ kinh phí nghiên cứu trong 3 năm đầu kể từ khi được công nhận học vị tiến sĩ.
Đối với nghiên cứu sinh là giảng viên cơ hữu được trường nơi công tác bảo đảm các chế độ bao gồm chi trả học phí, được hưởng nguyên lương và các phụ cấp khác theo quy định. Đồng thời được cơ sở đào tạo nghiên cứu sinh ưu tiên giao nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nếu thuộc chương trình đào tạo tài năng trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược, công nghệ cao; được ưu tiên tham gia các hoạt động hỗ trợ giảng dạy hoặc nghiên cứu phù hợp với chương trình đào tạo với thù lao tương xứng.
Không chỉ với giảng viên, việc khuyến khích nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo còn mở rộng đối với cho sinh viên. Cụ thể, sinh viên có cơ hội tham gia nghiên cứu, sử dụng phòng thí nghiệm, hưởng quyền sở hữu trí tuệ và có thể được miễn, giảm học phí hoặc cấp học bổng khi đạt thành tích nghiên cứu xuất sắc.
Theo tiến sĩ Verónica Boix-Mansilla, nghiên cứu viên chính tại Project Zero - nhóm nghiên cứu thuộc Trường sau ĐH về giáo dục Harvard thuộc ĐH Harvard (Mỹ), con em của chúng ta đang sống trong một thời đại mới nơi xung đột ngày càng gia tăng, sự phân cực chính trị ngày càng rõ rệt và những bất định ngày càng bủa vây. Thực tế đó đòi hỏi một thế hệ người trẻ có năng lực chung sống và làm việc với những người có suy nghĩ, lối sống hoàn toàn khác mình.
Để làm được điều này, bà đề cập đến khái niệm "năng lực toàn cầu" (global competence) - tức năng lực hiểu biết, phân tích và hành động trước các vấn đề toàn cầu hoặc liên văn hóa. Bà lưu ý, năng lực toàn cầu không phải là sao chép ý tưởng của người khác để áp dụng ở đất nước mình hay tệ hơn là trở thành ai đó khác. Ngược lại, đó là hiểu rõ bản thân: biết mình là ai, đến từ nền văn hóa nào và tôn trọng những giá trị gì.
"Năng lực toàn cầu phải được xây dựng trên những người trẻ có kết nối vững chắc với văn hóa bản địa và biết cách chủ động, sáng tạo, sống có trách nhiệm khi bước ra thế giới", tiến sĩ Boix-Mansilla nêu quan điểm tại hội thảo quốc tế "Việt Nam - Điểm chạm học thuật toàn cầu" tổ chức mới đây ở Dinh Độc Lập.
Kể với Thanh Niên, bà Boix-Mansilla khẳng định trong bối cảnh toàn cầu hóa, căn tính dân tộc là yếu tố vô cùng quan trọng. Nếu hòa tan quá mức (over-adaptation), bạn trẻ tăng nguy cơ bị khủng hoảng căn tính cá nhân và dễ đối diện với các vấn đề sức khỏe tinh thần. Nhưng ngược lại, nếu chỉ giữ khư khư căn tính Việt mà không chịu khó tìm hiểu về những nền văn hóa khác, khả năng thích nghi của các bạn với trật tự toàn cầu mới cũng bị hạn chế.
Căn tính dân tộc cũng cần đề cao khi người trẻ phát triển năng lực toàn cầu.
"Người trẻ cần học tiếng Anh không chỉ để hiểu những gì đang diễn ra ở New York và Điện Buckingham, mà còn để kể câu chuyện xảy ra ở đất nước nơi mình thuộc về cũng như tăng cường hiện diện trong những cuộc đối thoại toàn cầu", bà nói. Điều này đặc biệt quan trọng vì trong một thế giới mở, các bạn cần kết nối hiểu biết về địa phương với hiểu biết toàn cầu để đi tìm lời giải cho các vấn đề cộng đồng mình đang gặp phải.
Đồng tình, tiến sĩ Murat Günel, nguyên Tổng giám đốc The Koç School (Thổ Nhĩ Kỳ), cho biết nhiều học sinh trường ông chuộng đi nước ngoài để làm việc, trải nghiệm, từ Thái Lan, Ấn Độ đến Anh, Mỹ. Trong số đó, có em cho rằng việc tìm hiểu văn hóa nước mình là điều gì đó "tầm thường" và việc tỏ tường những nền văn hóa khác mới là "đẳng cấp".
"Các em chưa biết rằng, nếu không hiểu mình thì chẳng thể hiểu được người", ông nói.
Đó là lý do nam tiến sĩ khuyên người trẻ cần nắm chắc nguồn lực nội tại của bản thân trước, từ đó mới có thể chuyển hóa thành điều khác. Ví dụ việc học ngoại ngữ như tiếng Anh phải được xây dựng trên vốn liếng của ngôn ngữ mẹ đẻ - ở trường hợp này là tiếng Việt.
Ông Trung Lê, đồng sáng lập ReGenerating Education (Mỹ), cho biết trong một trật tự thế giới mới, một niềm tin cũ đang quay trở lại. Đó là đặt người trẻ vào những vấn đề thật, với quyền chủ động thực sự để tạo ra tác động đến xã hội thay vì chỉ để các em học trong những tòa "tháp ngà" học thuật. Điều này đã và đang thay đổi mục đích của việc học, từ "Con biết được bao nhiêu kiến thức?" thành "Con biết mình sẽ trở thành kiểu người thế nào?".
Đồng tình, tiến sĩ Verónica Boix-Mansilla lưu ý thế giới ngày nay đòi hỏi nhiều hơn ở việc học. Không chỉ là học kiến thức, mà còn phải học cách bảo vệ Trái đất, học cách tránh xung đột, học cách làm chủ những tiến bộ kỹ thuật, công nghệ... "Tri thức không còn cố định mà liên tục sinh sôi, khiến những điều ta biết rõ hôm nay có thể chẳng là gì vào ngày mai", bà chia sẻ.
Nghệ sĩ Thanh Bùi, nhà sáng lập Trường phổ thông liên cấp Việt Nam Tinh Hoa (TP.HCM), chung quan điểm. Làm quen với sự thay đổi sẽ là kỹ năng sống còn, ông nhận định, vì ngày nay đã không còn cái gọi là "an toàn tuyệt đối". "Hàng chục nghìn gia đình nhận email lúc 6 giờ sáng để nhận tin mình bị sa thải vì cắt giảm nhân sự không còn là điều mới mẻ", ông chia sẻ.
"Trẻ cần học cách đủ dũng cảm chấp nhận sự thay đổi và chủ động thích nghi với nó", ông nói thêm.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Diệu Anh, giảng viên ở Khoa Tâm lý học, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM), thì lưu ý thêm song song với kiến thức, các em cũng cần được giáo dục nhận thức và hành vi về sức khỏe tâm thần, và yếu tố này cũng phải tích hợp trong bộ khung năng lực toàn cầu. "Để thành công, điều này cần có sự chung tay, đồng thuận giữa ba bên là giáo viên, phụ huynh và nhà trường", bà nói.
Ngày 7-4, PGS.TS Tô Văn Phương - Trưởng phòng đào tạo Trường đại học Nha Trang - xác nhận hội đồng thi tại trường đã phát hiện hai trường hợp thí sinh khai không đúng thông tin cá nhân để được dự thi kỳ thi đánh giá năng lực.
Theo đó, trước giờ làm bài sáng 5-4, trong quá trình kiểm tra giấy tờ, giám thị phát hiện sự chênh lệch về năm sinh của hai thí sinh, căn cước công dân của thí sinh này ghi năm 2009, trong khi giấy báo dự thi thể hiện năm 2008.
“Thông thường, học sinh lớp 12 sinh năm 2008. Nếu có trường hợp đặc biệt, Đại học Quốc gia TP.HCM sẽ gửi danh sách riêng về các điểm thi để theo dõi” - ông Phương cho hay.
Ngay sau khi phát hiện sai lệch, hội đồng thi đã mời hai thí sinh ra ngoài trước thời điểm phát đề để làm rõ.
Làm việc với nhà trường, hai thí sinh thừa nhận đã khai gian tuổi với mục đích được tham gia kỳ thi để trải nghiệm và tự đánh giá năng lực học tập.
Theo đại diện Trường đại học Nha Trang, quy chế kỳ thi không cho phép hai trường hợp này dự thi. Tuy nhiên, khi đủ điều kiện theo quy định, hai thí sinh này vẫn có thể đăng ký tham gia các đợt thi sau.