Bài viết “Ăn gì bổ nấy, vậy ăn bì heo có đẹp da không?” trên Tuổi Trẻ Online nhận được nhiều phản hồi của bạn đọc về chuyện ăn uống, làm đẹp và những thường thức về tiêu hóa da heo.
Nhiều bạn đọc bày tỏ sự thú vị khi nhận ra những nguyên liệu bình dân ngay trong bếp lại là nguồn cung cấp collagen dồi dào, không thua kém các loại dược phẩm, thực phẩm chức năng xa xỉ.
Bạn đọc Ngọc Linh nhận định: “Chị em cứ đổ xô đi mua thực phẩm chức năng đắt tiền, thực ra cơ chế hấp thụ cũng tương tự da heo thôi”.
Thậm chí, bạn đọc tên Thanh Hoa còn bóc tách sự thật: “Nhiều loại collagen quảng cáo thần thánh thực chất cũng chỉ là acid amin được thủy phân sẵn mà thôi”.
Người đọc tên Thái An gợi ý: “Móng và giò heo chứa rất nhiều gân, dây chằng và sụn. Đây là những mô liên kết có mật độ collagen cực kỳ cao, thậm chí ‘đậm đặc’ hơn cả da heo.
Collagen ở móng giò khi hầm kỹ sẽ chuyển hóa thành gelatin rất mạnh (đó là lý do nước dùng hầm xương để nguội sẽ đông lại như thạch). Dạng này cơ thể dễ hấp thụ hơn hẳn bì heo dai”.
Tuy nhiên, để biến miếng bì trên đĩa thành collagen trong cơ thể, cách chế biến đóng vai trò quyết định.
Đồng quan điểm, bạn đọc Trang Nhi lưu ý da heo sống hoặc dai rất khó tiêu hóa, do đó nên hầm nhừ để collagen được “gelatin hóa” (chuyển sang dạng mềm, dễ tan), giúp cơ thể hấp thụ các acid amin hiệu quả hơn so với dạng bì dai (như trong cơm tấm).
Bạn đọc Lệ Hoa cũng nhắn nhủ: “Muốn dùng da heo hay móng giò để làm đẹp, hãy hầm thật nhừ và nhớ ăn kèm nhiều rau xanh, trái cây có múi để có đủ vitamin C giúp cơ thể ‘nhào nặn’ đống nguyên liệu đó thành collagen thực sự”.
Nhiều bạn đọc phân tích đường đi của chất dinh cưỡng từ bao tử đến da là một lộ trình đầy trắc trở. “Cơ thể vẫn phải phân giải rồi mới dùng lại, nên không thể kỳ vọng ăn là đẹp da ngay”, bạn đọc tên Lan viết. “Nghe chuyên gia nói xong thấy con đường từ cái miệng đến làn da sao mà gian nan quá”, bạn đọc Quốc Hưng bày tỏ.
“Hóa ra câu ‘ăn gì bổ nấy’ đúng là nghe cho vui thôi, chứ không đơn giản như vậy”, người tên Mai đúc kết.
Bạn đọc Nguyệt Cát cho rằng: “Theo tôi, ăn uống cân bằng vẫn là tốt nhất, không nên thần thánh hóa bất kỳ món nào, kể cả bì heo”.
Lý giải sâu hơn về cơ chế hấp thụ, phân giải các chất từ dạ dày để tổng hợp thành chất bổ cho các bộ phận trong cơ thể, bạn đọc tên Thanh Hoa cho biết hệ tiêu hóa sẽ “chặt nhỏ” collagen thành các acid amin (glycine và proline), sau đó cơ thể mới dùng để xây dựng lại protein.
Tuy nhiên, một sự thật phũ phàng là cơ thể không ưu tiên dùng các acid amin này để làm đẹp da ngay.
“Nó sẽ ưu tiên cho những bộ phận mang tính sinh tồn hơn như gân, sụn, niêm mạc ruột hoặc mạch máu. Làn da và mái tóc thường nằm ở cuối danh sách ưu tiên”, một bạn đọc phân tích.
Và “để tổng hợp được collagen từ bì heo, cơ thể không chỉ cần acid amin mà còn cần các chất xúc tác như vitamin C, đồng, kẽm, mangan và các enzyme. Nếu bạn ăn rất nhiều bì heo nhưng thiếu vitamin C, quá trình tái tạo collagen vẫn sẽ bị đình trệ”, bạn đọc tên Hồng Ánh góp thêm.
Và những lời cảnh báo được đưa ra: “Bì heo là một ‘gói thực phẩm’ hỗn hợp, ăn quá nhiều có thể gây tăng cân hoặc thừa cholesterol trước khi kịp thấy da đẹp”, bạn Khả Tú chỉ ra.
Đa số ý kiến cũng đồng tình bì heo còn có nhiều chất béo, ăn nhiều chưa chắc đẹp da mà có khi lại tăng cân trước.
Nhiều lời khuyên thực tế khác cũng được đưa ra. Bạn đọc Hoàng Hoa gợi ý nên kết hợp ăn cá (đặc biệt là da cá) vì collagen từ cá có cấu trúc phân tử nhỏ hơn, ít chất béo xấu và hấp thụ hiệu quả hơn. “Muốn đẹp da mà chỉ trông chờ vào bì heo thì chắc khó. Phải ăn đủ chất, ngủ nghỉ, sinh hoạt điều độ mới hiệu quả”, bạn đọc tên Linh khuyên.
Bạn đọc Phụng Nguyễn cũng đồng tình: “Không nên quá lạm dụng bì heo vì lượng chất béo cao. Thay vào đó, hãy duy trì chế độ ăn cân bằng, nhiều rau xanh trái cây (để có vitamin C) thì việc ăn thêm một chút bì heo hầm mới thực sự phát huy tác dụng”.
Và bạn đọc này cũng đúc kết: “Ăn bì heo là một cách cung cấp nguyên liệu để cơ thể làm đẹp, nhưng lộ trình từ “miếng bì trên đĩa” đến “làn da mịn màng” là một con đường trắc trở”.
Tránh những sai lầm sau khi tập thể dục buổi sáng có thể giúp giảm nguy cơ chấn thương và đau mạn tính.
Tư thế và kỹ thuật là yếu tố then chốt quyết định mức độ an toàn khi tập luyện. Khi thực hiện sai động tác, lực sẽ phân bố không đúng lên các khớp và cơ, từ đó làm tăng nguy cơ chấn thương. Chẳng hạn, khi squat sai kỹ thuật như để gối đổ vào trong hoặc cong lưng, áp lực sẽ dồn lên khớp gối và cột sống thay vì phân bổ đều, chuyên trang sức khỏe Verywellfit (Mỹ).
Nghiên cứu trên Journal of Strength and Conditioning Research cho thấy tập sai kỹ thuật có thể làm tăng đáng kể áp lực lên mô mềm và khớp, từ đó làm tăng nguy cơ chấn thương. Ngoài ra, không kiểm soát chuyển động, ví dụ thả tạ quá nhanh, cũng khiến cơ và dây chằng chịu lực đột ngột. Để hạn chế rủi ro, người tập nên học kỹ thuật và tập đúng ngay từ đầu.
Nhiều người có suy nghĩ rằng cơ càng đau thì tập càng hiệu quả. Tuy nhiên, điều này không hoàn toàn đúng. Cần phân biệt giữa đau cơ thông thường sau tập và đau cơ do chấn thương. Đau cơ thông thường sẽ lan tỏa và giảm dần sau vài ngày, trong khi đau do chấn thương thường tập trung ở một vị trí, kéo dài và tăng khi vận động.
Tổ chức y tế phi lợi nhuận Mayo Clinic (Mỹ) cho biết nếu cơn đau kéo dài hoặc đi kèm sưng, yếu cơ thì nên ngừng tập và kiểm tra sớm. Đau là tín hiệu cảnh báo của cơ thể khi mô bị tổn thương. Nếu tiếp tục tập luyện trong tình trạng này, tổn thương có thể trở nên nghiêm trọng hơn, làm tăng nguy cơ rách cơ hoặc chấn thương khớp.
Tập khi đang mệt, thiếu ngủ hoặc chưa ăn đủ có thể làm giảm khả năng kiểm soát vận động. Khi đó, phản xạ chậm hơn, cơ dễ mất ổn định và nguy cơ sai kỹ thuật tăng lên. Tình trạng này sẽ làm tăng nguy cơ chấn thương khi vận động.
Chỉ tập một số bài quen thuộc mỗi ngày, chẳng hạn chỉ chạy bộ hoặc chỉ tập chân, có thể gây quá tải lặp lại lên cùng một nhóm cơ và khớp. Nghiên cứu đăng trên chuyên san Sports Medicine cho thấy các chấn thương do lặp lại thường xảy ra khi một mô phải chịu áp lực liên tục mà không có thời gian phục hồi hoặc không có sự thay đổi chuyển động.
Đa dạng bài tập giúp phân bổ áp lực lên nhiều nhóm cơ khác nhau, nhờ đó giảm áp lực lên một vùng cụ thể và cải thiện sự cân bằng cơ thể, theo Verywellfit.
Theo ông Hưng, cha mẹ của bé (36 và 32 tuổi) đã mong con 5 năm mà chưa được toại nguyện, lần này mẹ bé mang thai đôi nhờ hỗ trợ sinh sản (IVF).
Đến tuần thai thứ 20 (cuối năm 2025), mẹ bé có dấu hiệu dọa sẩy thai nên đã vào Bệnh viện Phụ sản Hà Nội điều trị, các bác sĩ nỗ lực cấp cứu nhưng đến tuần thai thứ 25 thì bé gái trong cặp song sinh đã chào đời.
"Những em bé sinh ở tuần thứ 25 của thai kỳ được coi là rất non, bệnh viện đã phối hợp các chuyên khoa sản khoa - nhi khoa - gây mê hồi sức và chống nhiễm khuẩn phối hợp điều trị, hiện bé đã có cân nặng khoảng 1,9kg và phát triển khá tốt, hy vọng bé có các chỉ số bình thường. Nhưng thời điểm đó, giữ em bé còn lại là thách thức với y khoa.
Lý do dẫn đến khó khăn trong chăm sóc em bé còn lại là vì khi bé thứ nhất chào đời thì tử cung người mẹ có cơn co để sinh bé, ảnh hưởng đến việc giữ bé còn lại trong bụng mẹ. Thứ hai là vấn đề chống nhiễm khuẩn, bé trong bụng mẹ có hai hàng rào bảo vệ là tử cung và nước ối, khi sinh bé thứ nhất nguy cơ vi khuẩn xâm nhập, ảnh hưởng tới an toàn của bé thứ hai" - ông Hưng cho hay.
Trong tình huống khó khăn này, ông Hưng nói bên cạnh sự nỗ lực của y bác sĩ là sự phối hợp của cha mẹ bé, đặc biệt mẹ bé đã có 13 tuần vừa qua rất vất vả để giữ con. Kết quả em bé còn lại là một bé trai đã chào đời ở tuần thai thứ 38, nặng 2,4kg và có các chỉ số sức khỏe như các em bé sơ sinh bình thường.
Theo Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, việc giữ được em bé còn lại trong cặp song sinh ở tình huống tương tự đến tuần thai thứ 38 chưa từng được ghi nhận ở Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cũng như ở Việt Nam.
"Chúng tôi hy vọng những phương pháp hỗ trợ đã áp dụng điều trị cho mẹ con bé sẽ góp thêm kiến thức để các đồng nghiệp có thêm thông tin cho điều trị trong sản khoa" - ông Hưng nói.
Hưởng ứng Ngày Sức khỏe toàn dân 7-4, báo Sức Khỏe & Đời Sống phối hợp tổ chức chương trình tọa đàm trực tuyến với chủ đề "Sàng lọc ung thư phổi - Từ câu chuyện người bệnh đến nhu cầu chính sách quốc gia".
Theo PGS.TS Đỗ Hùng Kiên - Phó giám đốc Bệnh viện K, thực tế điều trị cho thấy chỉ khoảng 20% bệnh nhân ung thư phổi đến viện ở giai đoạn sớm có thể phẫu thuật.
Phần lớn còn lại đã ở giai đoạn 3 hoặc 4. Khoảng 40 - 50% bệnh nhân ở giai đoạn 4; 25 - 30% ở giai đoạn 3. Khi đó mục tiêu điều trị không còn là chữa khỏi, mà chủ yếu kiểm soát bệnh, kéo dài sự sống.
Trong khi đó nếu phát hiện sớm, cơ hội sống thay đổi hoàn toàn. Tỉ lệ sống trên 5 năm ở giai đoạn 1 có thể lên tới 70 - 90%, thậm chí 92% ở giai đoạn rất sớm. Nhưng con số này giảm mạnh còn khoảng 10% ở giai đoạn 4.
Theo PGS Kiên, không chỉ khác biệt về cơ hội sống, phát hiện sớm còn giúp giảm đáng kể chi phí điều trị. Trường hợp người bệnh phát hiện ở giai đoạn rất sớm, chi phí phẫu thuật chỉ khoảng 20 - 30 triệu đồng nhờ có bảo hiểm. Nếu phát hiện muộn, chi phí điều trị kéo dài, có thể cao hơn rất nhiều lần.
Bên cạnh đó, PGS Kiên cũng cho rằng hiện nay với sự tham gia ngày càng lớn của trí tuệ nhân tạo (AI) trong y tế giúp phát hiện sớm tổn thương phổi.
Tại nhiều quốc gia như Nhật Bản, Malaysia, AI đã được ứng dụng trong phân tích hình ảnh X-quang, CT để phát hiện sớm tổn thương phổi.
AI có thể giúp phát hiện những tổn thương nhỏ mà mắt thường khó nhận ra, đồng thời rút ngắn thời gian đọc phim và hỗ trợ tuyến dưới.
"AI không thay thế bác sĩ, nhưng là công cụ rất quan trọng để mở rộng sàng lọc diện rộng, đặc biệt ở những nơi thiếu nhân lực", PGS Kiên chia sẻ.
Dù lợi ích rõ ràng nhưng theo các chuyên gia, việc phát hiện sớm ung thư phổi tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân không chỉ nằm ở nhận thức người dân mà còn ở hệ thống. Hiện nay việc tầm soát chủ yếu diễn ra rải rác tại một số cơ sở y tế, hoặc dựa vào khám sức khỏe định kỳ tự phát.
TS Lê Thái Hà, Phó cục trưởng Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế), cho rằng khó khăn lớn nhất là sự không đồng đều về năng lực y tế cơ sở, cả về nhân lực lẫn trang thiết bị.
"Sàng lọc cần triển khai từ tuyến cơ sở, nhưng hiện nay nhiều nơi còn thiếu thiết bị như X-quang, CT liều thấp, cũng như nhân lực được đào tạo bài bản. Bên cạnh đó chi phí cũng là rào cản. Các kỹ thuật sàng lọc hiệu quả như CT liều thấp vẫn còn đắt đỏ và chưa được bảo hiểm y tế chi trả rộng rãi", TS Hà nói.
Để triển khai hiệu quả tầm soát ung thư phổi, theo TS Hà, cần nhiều giải pháp đồng bộ như xây dựng chương trình sàng lọc ung thư phổi cấp quốc gia; ưu tiên nhóm nguy cơ cao; đầu tư trang thiết bị, đặc biệt tại y tế cơ sở; ứng dụng AI và kết nối tuyến trên - tuyến dưới. Ngoài ra cần có cơ chế hỗ trợ tài chính, mở rộng chi trả bảo hiểm và tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức.
Mục tiêu không chỉ là phát hiện bệnh mà còn giúp người dân nhận diện nguy cơ và chủ động quản lý sức khỏe.
Dự kiến trong thời gian tới, Bộ Y tế đặt mục tiêu đến năm 2028 mỗi người dân sẽ có hồ sơ sức khỏe điện tử, làm nền tảng cho việc theo dõi và sàng lọc lâu dài. Đồng thời các hướng dẫn chuyên môn về khám sức khỏe định kỳ và sàng lọc sẽ được chuẩn hóa trên toàn quốc.