Mục Lục
ToggleKhoảng 14h, anh Lê Tất Duy (37 tuổi, trú quận Bình Thạnh, TP HCM) lái xe khách chạy từ khu vực Tây Hòa (Đăk Lăk) về hướng Vạn Thắng (Khánh Hòa) để sửa chữa. Khi đến đoạn đường thuộc thôn Ninh Lâm, xã Tu Bông, phần đuôi xe bất ngờ bốc cháy, nghi xuất phát từ khu vực lốc máy.
Lúc này, trên xe có thêm hai người là ông Nguyễn Khắc Long (52 tuổi) và chị Lê Thị Thu Sang (32 tuổi), đều trú tại Tây Hòa (Đăk Lăk), ngồi ở hàng ghế phía trước.
Phát hiện sự cố, tài xế cho xe tấp vào lề, hô hoán những người trên xe mang theo tài sản rời khỏi phương tiện, đồng thời dùng bình chữa cháy dập lửa nhưng không thành. Đám cháy bùng phát khiến nhiều phương tiện cùng chiều phải dừng từ xa, gây ùn ứ khoảng một km.
Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH Công an tỉnh Khánh Hòa huy động hai xe chữa cháy cùng hàng chục cán bộ, chiến sĩ đến hiện trường. Đến 15h30, đám cháy được dập tắt.
Vụ cháy không gây thiệt hại về người, song xe khách bị thiêu rụi, trơ khung. Thời điểm xảy ra sự cố, trên xe không chở hàng hóa. Cơ quan chức năng đang phong tỏa hiện trường, điều tiết giao thông và điều tra nguyên nhân vụ cháy.
Bùi Toàn
Tin Gốc: https://vnexpress.net/xe-khach-boc-chay-tren-quoc-lo-1-ba-nguoi-thoat-nan-5061238.html

Trao đổi với PV Báo Thanh Niên ngày 9.4, ông Nguyễn Thái Hậu, Phó hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo cho biết đơn vị đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp đối với ông Đ.V.T (36 tuổi, ở đặc khu Côn Đảo) số tiền 3 triệu đồng do vi phạm quy định về quản lý lâm sản, liên quan việc cất giữ 42 cây mai vàng.
Ông Hậu cho biết trước đó khoảng 14 giờ 30 ngày 2.4, tổ tuần tra liên ngành của Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo trong quá trình kiểm tra, truy xuất nguồn gốc lâm sản đã phát hiện trên đường Tôn Đức Thắng (khu dân cư số 5, đặc khu Côn Đảo), ông T. cất giữ có 42 cây mai vàng đang sinh trưởng ổn định.
Ông T. cho biết đã mua 45 cây mai từ đất liền vận chuyển ra Côn Đảo để chăm sóc, tuy nhiên sau đó có 3 cây bị chết, còn lại 42 cây.
Theo ông Hậu, mai vàng là cây thân gỗ phân bố trong rừng tự nhiên tại Côn Đảo, đồng thời cũng được người dân trồng, nhân giống làm cây kiểng phục vụ làm cảnh tại nhà, mua bán ngoài thị trường, nhất là vào mùa xuân.
Những năm gần đây, tại Côn Đảo đang diễn ra tình trạng một số người lén lút vào rừng đào gốc mai rừng về tàng trữ, cất giữ chăm sóc thành cây kiểng để mua bán, trao đổi… việc này đã được UBND huyện Côn Đảo (cũ) có văn bản số 162 ngày 20.1.2021 chỉ đạo tăng cường quản lý khai thác, vận chuyển, buôn bán cây có nguồn gốc rừng tự nhiên và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Ngày 2.4 vừa qua, Tổ tuần tra liên ngành theo kế hoạch kiểm tra, truy xuất nguồn gốc lâm sản trên địa bàn đặc khu Côn Đảo. Tổ tuần tra này do Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo chủ trì cùng với Công an đặc khu Côn Đảo và Ban Chỉ huy phòng thủ Khu vực 6 đặc khu Côn Đảo kiểm tra tại địa chỉ số 36 Tôn Đức Thắng, khu 5, đặc khu Côn Đảo.
Tại đây, lực lượng làm nhiệm vụ phát hiện 42 cây mai vàng do ông N.V.T cất giữ, chăm sóc. Ông T. khai nhận đã mua 45 cây từ đất liền vận chuyển ra đảo, trong quá trình chăm sóc có 3 cây bị chết, số còn lại 42 cây có tổng khối lượng 0,38 m³.
Theo khoản 3 điều 8 Thông tư số 26 năm 2025 ngày 24.6.2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, gỗ có tên trùng với cây gỗ rừng tự nhiên, cây trồng phân tán, cây vườn nhà do tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư tự đầu tư phải có bản chính bảng kê lâm sản do chủ lâm sản lập hoặc có xác nhận của cơ quan kiểm lâm sở tại (nếu chủ lâm sản đề nghị).
Theo khoản 2 điều 11 Thông tư số 26 năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hồ sơ lâm sản quy định tại khoản 3 điều 8 Thông tư 26 khi mua bán, chuyển giao, chuyển quyền sở hữu, vận chuyển trong nước phải bao gồm: bản chính bảng kê lâm sản (do chủ lâm sản bán lập hoặc có xác nhận của kiểm lâm theo điểm đ khoản 3 điều 5 Thông tư 26) và bản sao hồ sơ mua bán liền kề trước đó hoặc mã QR chứa hồ sơ trên bảng kê lâm sản (trừ trường hợp bảng kê đã có xác nhận theo đề nghị của chủ lâm sản).
Tại thời điểm kiểm tra, ông T. không xuất trình được hồ sơ lâm sản theo quy định tại khoản 2 điều 11 Thông tư số 26. Hành vi này vi phạm khoản 6 điều 9 luật Lâm nghiệp năm 2017 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Đồng thời tại biên bản vi phạm hành chính lập ngày 2.4, ông T. có đề nghị với đoàn kiểm tra liên ngành sẽ cung cấp hóa đơn chứng từ mua bán số mai trên cho Hạt Kiểm lâm vào ngày 3.4, nhưng sau đó ông Trình không cung cấp được hóa đơn, chứng từ, bảng kê lâm sản hợp lệ theo quy định.
Do đó, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo quyết định xử phạt 3 triệu đồng, tịch thu 42 cây mai vàng để xử lý theo quy định.
Cũng tại địa chỉ số 36 Tôn Đức Thắng, khu 5, đặc khu Côn Đảo, vào ngày 19.6.2025, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo (thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũ; từ 1.7.2025 thuộc TP.HCM) phối hợp Phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện Côn Đảo (cũ) đã phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực lâm nghiệp đối với ông N.V.Y (33 tuổi, ở Côn Đảo) vì hành vi tàng trữ 23 cây mai vàng, tổng trọng lượng 180 kg. Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo đã xử phạt ông Y. số tiền 3 triệu đồng và tịch thu toàn bộ 23 cây mai vàng để xử lý theo quy định.
"Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo khẳng định việc xử phạt vi phạm hành chính nêu trên là đúng quy định nhằm ngăn chặn hành vi lén lút vào rừng bứng đào bới, bứng mai rừng tự nhiên về chăm sóc thành cây kiểng để mua bán, trao đổi làm ảnh hưởng đến tài nguyên rừng", ông Hậu nhấn mạnh.
Thời Sự
Cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu: Dứt khoát cắt hợp đồng nhà thầu thi công chậm

Ngày 9-4, lãnh đạo tỉnh Đồng Nai đã đi kiểm tra thực tế tiến độ thi công dự án thành phần 1 cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu và đường trục trung tâm Biên Hòa.
Dự án thành phần 1, cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu có chiều dài 16km thuộc địa phận tỉnh Đồng Nai. Ở giai đoạn 1, tuyến cao tốc được đầu tư xây dựng với quy mô 4 làn xe, vận tốc thiết kế 100km/h.
Dự án gồm 2 gói thầu xây lắp đang triển khai thi công, với giá trị thực hiện đến nay đạt 78% giá trị hợp đồng đã ký.
Trong khi đó dự án đường trục trung tâm Biên Hòa, đoạn từ đường Võ Thị Sáu đến đường Đặng Văn Trơn có chiều dài tuyến hơn 5,4km, được chia làm hai nhánh.
Nhánh 1 có điểm đầu giao với đường Võ Thị Sáu, điểm cuối giao với đường Đặng Văn Trơn tại nút giao cầu An Hảo với chiều dài hơn 3,7km.
Nhánh 2 có điểm đầu tại vòng xoay giao với nhánh 1, điểm cuối giao với đường Đặng Văn Trơn tại nút giao đường đầu cầu Bửu Hòa với chiều dài hơn 1,7km.
Theo Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh Đồng Nai, hiện dự án đã thi công đạt gần 96% giá trị hợp đồng đã ký.
Tại buổi kiểm tra, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai Nguyễn Văn Út đánh giá các nhà thầu đang thi công khá tốt ở dự án đường trục trung tâm. Tuy nhiên ông yêu cầu các đơn vị cần đẩy nhanh tiến độ thi công để sớm hoàn thành dự án.
Đối với dự án thành phần 1 cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, ông nhận định tiến độ thi công hiện nay chưa đạt yêu cầu. Đặc biệt, ở dự án này tỉnh đặt mục tiêu hoàn thành, thông xe vào cuối tháng 4 tới.
Vì vậy lãnh đạo tỉnh Đồng Nai giao Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh (chủ đầu tư) làm việc với các nhà thầu thi công.
Ông lưu ý đơn vị nào thực hiện tốt thì tiếp tục hỗ trợ, còn nhà thầu nào làm không tốt thì phải dứt khoát cắt hợp đồng, đưa đơn vị khác vào hỗ trợ, không thể để tình trạng thi công đủng đỉnh tiếp tục kéo dài.
Ông Nguyễn Văn Út giao Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh Đồng Nai rà soát lại tiến độ thi công của các nhà thầu tại dự án thành phần 1. UBND tỉnh sẽ làm việc cụ thể với những đơn vị chưa đạt yêu cầu.

Buổi sáng đầu tháng 4, đứng bên con kênh ở phường Hải Dương, TP Hải Phòng, ông Lê Văn Sử buồn bã nhìn dòng nước đen đặc, ruồi nhặng bu vào một số con cá chết lập lờ trên mặt nước. Người đàn ông 85 tuổi không thể ngờ mạch sống của người dân Hải Dương cũng như nhiều tỉnh thành lân cận lại ô nhiễm đến thế.
Mười năm chín hạn
Trước khi công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng, cánh đồng của tỉnh Hải Dương cũ chỗ thì khô hạn kéo dài, chỗ lại ngập úng quanh năm. Nhà ông Sử ở xã Thanh Hồng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương cũ, vốn đông người, ruộng có nhưng nhiều vụ phải bỏ không vì thiếu nước hoặc vì nước ngập quá lâu không thể cấy lúa. Những mùa giáp hạt trở thành nỗi ám ảnh của ông.
"Cái đói kéo dài hết năm này sang năm khác, nhìn ai cũng gầy gò, ốm yếu, đen đúa", ông Sử nhớ lại những năm 1940-1950.
Vùng Bắc Hưng Hải là đồng bằng rộng hơn 214.000 ha, được bao bọc bởi bốn con sông lớn gồm sông Hồng, Đuống, Luộc và Thái Bình. Lưu vực hệ thống trải dài trên toàn bộ tỉnh Hưng Yên (cũ), phần lớn Hải Dương (cũ), cùng một phần Hà Nội và Bắc Ninh.
Địa hình tương đối thấp, cao trung bình chỉ khoảng 0,5-1 m so với mực nước biển, vốn rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp nếu có nguồn nước ổn định. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ trước đó, phần lớn ruộng đồng trong vùng vẫn phải phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nước mưa.
Những năm hạn hán, đất đồng nứt nẻ, lúa chết khô. Khi mưa lớn hoặc nước sông dâng cao, đồng ruộng lại ngập úng kéo dài khiến mùa màng thất bát. Người dân trong vùng vẫn truyền nhau câu nói "mười năm chín hạn" (10 năm thì hết 9 năm hạn hán) để nói về sự bấp bênh trong sản xuất nông nghiệp.
Nguồn nước sinh hoạt cũng không khá hơn. Ao làng có nước song chua đến mức người lội xuống lâu một chút là rụng cả lông chân. Bệnh ngoài da khá phổ biến. Ông Sử nhớ những lần đi thực tập về quê không dám rửa chân bằng nước ao làng, phải xách nước nuôi cá ở chỗ khác về rửa. Dân gian khi ấy còn truyền nhau câu nói khá nặng nề về vùng đất "sống ngâm da, chết ngâm xương".
Đại thủy nông lớn nhất miền Bắc
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, nhu cầu đảm bảo nước cho sản xuất nông nghiệp trở thành cấp bách. Năm 1956, Chính phủ quyết định xây dựng hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải nhằm đưa nước từ sông Hồng vào tưới tiêu cho vùng đồng bằng rộng lớn.
Theo thiết kế, nước từ sông Hồng qua cống Xuân Quan (Hưng Yên), dẫn theo kênh trục chính rồi tỏa ra mạng lưới kênh nhánh trước khi thoát ra cống An Thổ (Hải Phòng), tạo thành tuyến thủy lợi dài hơn 230 km trên trục chính và hàng nghìn kilomet kênh mương nội đồng. Toàn bộ hệ thống có khoảng 1.900 công trình cống, trạm bơm các loại, đảm bảo khả năng tưới tiêu chủ động cho hơn 130.000 ha đất canh tác trong lưu vực Bắc Hưng Hải.
Trước khi chuẩn bị khởi công, ngày 20/9/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về nói chuyện với công nhân và nhân dân trên công trường Bắc Hưng Hải. Bác động viên người dân: "Nay Đảng và Chính phủ quyết định cùng nhân dân xây dựng công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải để đưa nước vào ruộng cho đồng bào. Cán bộ và đồng bào quyết tâm vượt mọi khó khăn, làm cho nhanh, cho tốt. Bây giờ chịu khó phấn đấu mấy tháng, sau này sẽ hưởng hạnh phúc lâu dài hàng trăm năm".
Ngày 1/10/1958, công trình khởi công. Hàng chục nghìn bộ đội, dân công, học sinh, sinh viên và cán bộ từ nhiều địa phương tham gia đào kênh, đắp đập và xây dựng các cống, trạm bơm điều tiết nước. Ở làng gốm Bát Tràng, gần 150 hộ dân tự nguyện dỡ nhà lấy đất đào tuyến kênh trục chính.
Sau khi cống Xuân Quan hoàn thành và đưa nước vào đồng ngày 30/10/1959, việc xây dựng toàn hệ thống được triển khai nhanh chóng. Giai đoạn đầu, 26 trạm bơm cố định và 26 trạm bơm thuyền được xây để cấp nước cho các khu ruộng cao và hỗ trợ tiêu thoát nước. Các tuyến sông tự nhiên như Kim Sơn, Đình Đào, Cửu An, Tứ Kỳ được cải tạo, nạo vét và kết nối với mạng lưới kênh đào mới, tạo thành hệ thống thủy lợi liên hoàn.
Sau 7 tháng thi công, hệ thống hoàn thành, trở thành công trình thủy lợi lớn nhất miền Bắc thời bấy giờ, còn được gọi là "Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải". Ông Sử bảo cuộc sống của gia đình ông và hàng triệu người đã thay đổi vì đại thủy nông này.
Từ mùa vàng bội thu đến dòng nước đổi màu
Năm 1962, sau khi tốt nghiệp đại học, ông Sử được phân công về làm việc tại Công ty Bắc Hưng Hải. Những chuyến đi kiểm tra hệ thống khi đó khiến ông không khỏi ngạc nhiên trước sự thay đổi của dòng nước trong vùng.
"Nước trong đến mức nhìn thấy đáy. Ai cũng có thể tắm giặt ngay trên kênh", ông nhớ lại.
Nguồn nước dồi dào nhanh chóng làm thay đổi sản xuất nông nghiệp. Những cánh đồng trước kia phụ thuộc vào nước mưa bắt đầu có thể gieo cấy hai vụ lúa mỗi năm, năng suất vụ đầu đã đạt 60-62 tạ/ha, tổng sản lượng lúa trong vùng hơn 1,2 triệu tấn. Nhiều địa phương trong lưu vực Bắc Hưng Hải dần trở thành những vùng sản xuất lúa trọng điểm của đồng bằng Bắc Bộ.
Nguồn nước từ hệ thống kênh mương còn tạo điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản. Ở xã Đại Thắng (Hải Phòng), ông Vũ Văn Kế đã gắn bó với nghề nuôi thủy sản trên kênh Bắc Hưng Hải gần nửa thế kỷ. Có thời điểm gia đình ông nuôi tới 4-5 lồng cá trên kênh. Nguồn nước sạch giúp cá sinh trưởng tốt.
Không chỉ cá nuôi lồng, nhiều loại thủy sản tự nhiên cũng phát triển mạnh. Có những vụ, riêng rươi ông Kế thu hoạch được hơn 2 tấn. "Cá mè, cá chép nhiều vô kể. Riêng khu vực cống Xuân Quan có lần kéo lưới lên được hàng chục tấn cá", ông Kế nhớ lại. Nguồn lợi thủy sản dồi dào khiến nhiều gia đình sống ven kênh có thêm sinh kế ngoài trồng lúa.
Tuy nhiên, từ cuối những năm 1990 trở lại đây, dòng kênh từng trong xanh bắt đầu thay đổi. Những đoạn nước đục và có mùi hôi xuất hiện trước tiên ở khu vực gần khu dân cư và làng nghề, sau đó lan dần ra nhiều tuyến kênh trong hệ thống, ông Sử nhớ lại.
"Nguồn nước ô nhiễm trầm trọng từ năm 2000. Mỗi lần thả lưới xuống đánh cá, nếu thu được 5 kg cá thì tôi phải mất tới 3 ngày để gỡ hết túi nylon mắc trên lưới", ông Kế kể.
Quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp trong lưu vực khiến lượng nước thải đổ vào hệ thống ngày càng lớn. Hiện Bắc Hưng Hải phải tiếp nhận nước thải từ khu dân cư, làng nghề và nhiều khu công nghiệp nằm dọc tuyến kênh.
Theo Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mỗi ngày tổng lượng nước thải xả vào hệ thống khoảng 538.830 m3, trong đó phần lớn chưa được xử lý triệt để. Khi lượng nước thải vượt quá khả năng tự làm sạch của dòng chảy, chất lượng nước bắt đầu suy giảm.
Báo cáo tháng 2/2026 của Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường cho biết tình trạng ô nhiễm tập trung chủ yếu tại các điểm Xuân Thụy, Bình Lâu và Ngọc Đà. Các chỉ tiêu dinh dưỡng và hữu cơ trong nước tại đây đều vượt xa quy chuẩn môi trường nước mặt.
Đơn cử nồng độ amoni cho phép chỉ khoảng 0,3 mg/l, nhưng tại trạm Xuân Thụy (Hưng Yên) lên 25,6 mg/l, cao gấp hơn 85 lần. Hàm lượng oxy hòa tan chỉ khoảng 2 mg/l, thấp hơn nhiều so với mức tối thiểu 4 mg/l cần thiết để duy trì hệ sinh thái thủy sinh. Tại trạm Bình Lâu (Hải Phòng), nồng độ amoni trung bình khoảng 22 mg/l, cao gấp hơn 70 lần quy chuẩn.
Dọc nhiều tuyến kênh, nước chuyển màu đen, bọt trắng nổi dày và mùi hôi bốc lên nồng nặc. Những lồng cá từng mang lại thu nhập cho gia đình ông Kế buộc cũng phải tháo dỡ. Nước bẩn, cá, rươi nuôi không nổi vì năng suất giảm bảy, tám lần. Cả gia đình con cái ngày trước quây quần làm thủy sản, giờ phải phân tán đi làm công ty, ông Kế kể.
Chứng kiến các dòng kênh trong hệ thống Bắc Hưng Hải đang chết dần, ông Kế, ông Sử không khỏi xót xa. Không dám hy vọng có những mùa cá bội thu như trước, họ chỉ mong dòng kênh trở lại trong xanh.
"Mong ước đó không biết có viển vông quá không?", ông Sử tự hỏi.
Gia Chính - Mộc Miên
Tin Gốc: https://vnexpress.net/bac-hung-hai-tu-dai-thuy-nong-den-dong-song-chet-5050257.html

