Mục Lục
ToggleNgân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) từ đầu tháng 4 triển khai chứng chỉ tiền gửi trực tuyến trên nền tảng ứng dụng VCB Digibank dành cho khách hàng cá nhân với lãi suất tối đa lên tới 7,9%/năm, cao hơn khoảng 2 điểm phần trăm so với lãi suất gửi tiết kiệm thông thường. Cụ thể, khách hàng có thể mua trực tuyến chứng chỉ tiền gửi của Vietcombank với mệnh giá tối thiểu từ 100.000 đồng, kỳ hạn 6 tháng sẽ có lãi suất 7,5%/năm và 12 tháng là 7,9%/năm.
Đáng chú ý, so với đợt phát hành cuối tháng 1, Vietcombank đã có sự điều chỉnh đáng kể về lãi suất. Trước đó, ngân hàng này chỉ phát hành chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn 12 tháng với lãi suất cố định 6%/năm. Khách hàng không được tất toán trước hạn nhưng khách hàng có thể bán lại cho Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS) trực tiếp trên ứng dụng. Đồng thời, tài sản này cũng có thể chuyển nhượng, cầm cố vay vốn hoặc sử dụng cho các mục đích hợp pháp khác.
Một nhà băng khác là Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) cũng triển khai chứng chỉ tiền gửi online với mức sinh lời cao hơn rõ rệt so với tiền gửi tiết kiệm thông thường. Cụ thể, lãi suất áp dụng cho kỳ hạn 6 tháng lên tới 7,6%/năm và 15 tháng lên 7,8%/năm. Sản phẩm có mệnh giá tối thiểu từ 10 triệu đồng. Chương trình này được thực hiện từ cuối tháng 3 đến hết tháng 6 hoặc đến khi hết hạn mức phát hành 1.000 tỉ đồng. Lãi suất chứng chỉ tiền gửi này cao hơn đến 0,3 điểm phần trăm so với lãi suất gửi tiền online tại BVBank với mức cao nhất là 7,2%/năm cho kỳ hạn từ 12 – 24 tháng.
Tương tự, Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank) đang phát hành chứng chỉ tiền gửi đợt 2/2026 với tổng mệnh giá 2.000 tỉ đồng. Theo đó, chứng chỉ tiền gửi tại ngân hàng này được áp dụng cho hai kỳ hạn 6 và 7 tháng với lãi suất lần lượt 7,89% và 7,99%/năm. Lãi được chi trả định kỳ hằng tháng, chuyển trực tiếp vào tài khoản thanh toán cho nhà đầu tư. Thời gian phát hành kéo dài đến giữa tháng 6 hoặc khi phát hành đủ mệnh giá nêu trên. Nếu khách hàng đề nghị thanh toán chứng chỉ tiền gửi trước ngày đến hạn thì phải chịu phí 0,05%/mệnh giá chứng chỉ tiền gửi.
Trong khi đó, Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) cũng phát hành chứng chỉ tiền gửi An Phúc và khách hàng có thể đăng ký online. Chứng chỉ tiền gửi này có kỳ hạn 24 tháng, mệnh giá 10 triệu đồng/chứng chỉ. Lãi suất của chứng chỉ tiền gửi An Phúc bằng lãi suất tham chiếu cộng biên độ 1%/năm và được điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần kể từ ngày phát hành. Theo thông báo từ ABBank, lãi suất tham chiếu chứng chỉ tiền gửi này từ ngày 7.4 là 5%/năm, tương ứng chủ sở hữu chứng chỉ tiền gửi sẽ nhận lãi 6%/năm. Mức lãi suất này thấp hơn lãi suất gửi tiết kiệm thông thường lên đến 6,3%/năm cho kỳ hạn từ 6 tháng trở lên của chính nhà băng này…
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/lai-suat-chung-chi-tien-gui-ngan-hang-len-8-nam-185260409100917271.htm

Diễn ra từ ngày 8 - 11.4, SaigonTex - SaigonFabric 2026 năm nay có chủ đề "Xu hướng AI và phát triển ngành dệt may bền vững" nhằm giúp các doanh nghiệp nắm bắt xu hướng thị trường và tiếp cận trực tiếp các thiết bị và giải pháp công nghệ dệt may mới nhất, thúc đẩy quá trình chuyển đổi của doanh nghiệp trong ngành.
Hiện nay, các công nghệ dệt may trên thế giới đã có rất nhiều cải tiến, từ quy trình cắt, may, đến các khâu hoàn thiện như gấp, đóng gói sản phẩm hay vệ sinh nhà máy đều đã được tự động hóa. Trong đó, các công nghệ giải pháp tự động và robot đang được áp dụng nhiều dòng sản phẩm máy may như của HIKARI, VITONI, CHNKI, ROBOTECH... hay các giải pháp gấp gói hoàn thiện của THERMOTRON và ASIA ROBOTICS; giải pháp xe tự hành, vệ sinh hút bụi thông minh PUDU phục vụ trong tất cả các khu vực nhà xưởng; cho đến các giải pháp cắt trải tự động thông minh của iECHO và Timing, Maika.
Ngoài ra, còn có các giải pháp điều hòa không khí sử dụng nước tuần hoàn tiết kiệm điện và thân thiện với môi trường. Tại triển lãm năm nay, Phồn Thịnh - Tae Gwang mang tới 8 gian hàng tương ứng với các khâu khác nhau trong quy trình khép kín của hệ sinh thái nhà máy may, với định hướng rõ ràng là tối ưu hóa sản xuất thông qua số hóa, tự động hóa và các công nghệ hỗ trợ vận hành, thay vì chỉ dừng ở các cải tiến đơn lẻ từng thiết bị.
Chia sẻ tại sự kiện, ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS) cho biết: Các doanh nghiệp dệt may đang bước vào một giai đoạn mới, với đơn hàng yêu cầu thời gian giao nhanh hơn, giá cạnh tranh hơn và đặc biệt là chất lượng cao hơn. Trong bối cảnh chung, xu hướng đổi mới công nghệ, tối ưu hóa sản xuất thông qua số hóa, tự động hóa và các công nghệ hỗ trợ vận hành, đặc biệt là ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI, đang trở thành yêu cầu bắt buộc nhằm tối ưu chi phí, nâng cao năng suất và đáp ứng các tiêu chuẩn sản xuất bền vững. "Doanh nghiệp cần thiết quan tâm đầu tư hạ tầng nhà xưởng đạt chuẩn đánh giá quốc tế, đầu tư công nghệ, tự động hóa, robot và thậm chí ứng dụng AI trong sản xuất", ông Vũ Đức Giang nhấn mạnh.
Ông Wu Liang Jie - Chủ tịch Tập đoàn HIKARI (Thượng Hải) cho biết: "Hiện ngành dệt may Việt Nam đang đối mặt với những thách thức mới như chi phí lao động tăng hay thiếu hụt lao động, đây là xu hướng tất yếu mà bất kỳ quốc gia nào cũng gặp phải khi phát triển đến một giai đoạn nhất định. Trên thực tế, lợi thế cạnh tranh cốt lõi của ngành dệt may Việt Nam đã được hình thành. Giai đoạn tiếp theo sẽ là quá trình tích hợp các công nghệ tiên tiến hơn, thiết bị hiện đại hơn, phương thức quản lý hiệu quả hơn và tư duy vận hành mới, từ đó vừa giải quyết thách thức, vừa mở ra một giai đoạn phát triển mới".
Ông Nguyễn Văn Tiếp, Phó tổng giám đốc Công ty TNHH Phồn Thịnh - Tae Gwang, cho biết các doanh nghiệp dệt may đã thực hiện chuyển đổi khoảng 30 - 40% các thiết bị sang công nghệ mới. Việc chuyển đổi này đã góp phần nâng tầm vị thế cho doanh nghiệp, đồng thời, cải thiện năng suất rõ rệt. "Quan trọng hơn là chất lượng sản phẩm đầu ra được đồng nhất, không phụ thuộc vào tay nghề của công nhân. Ngoài ra, việc tự động hóa, chuyên biệt hóa cũng giúp các doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình số hóa, hướng đến xanh hóa để theo kịp xu hướng của thế giới", ông Tiếp nói.

Theo báo cáo kinh tế - xã hội quý 1/2026 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng sản phẩm trong nước (GDP) ước tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước (quý 1/2025 tăng 7,07%). Đây cũng là mức tăng GDP quý đầu năm cao nhất trong vòng 10 năm qua. Đáng chú ý, những lĩnh vực vốn được đánh giá sẽ chịu tác động trực tiếp ngay khi chiến sự tại Trung Đông nổ ra vẫn có sự bứt phá ngoạn mục. Trong đó, hoạt động xuất khẩu vẫn tăng cao bất chấp cước phí logistics nhảy vọt. Cụ thể, cước container đi Mỹ và EU tăng gấp 2 - 3 lần so với trước đó nhưng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 3 vẫn tăng đến 40,3% so với tháng 2 và tăng 20,1% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này đưa xuất khẩu cả nước trong quý đầu năm đạt 122,93 tỉ USD, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước.
Tương tự, thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã có sự đảo chiều ngoạn mục. Nếu như tháng đầu năm, vốn FDI đăng ký chỉ đạt khoảng 2,57 tỉ USD, giảm so với cùng kỳ năm trước và tổng cộng sau 2 tháng chỉ đạt hơn 6 tỉ USD thì bước sang tháng 3, vốn FDI nhảy vọt. Tổng cộng cả quý 1, VN thu hút vốn FDI đạt 15,2 tỉ USD, tăng 42,9% so với cùng kỳ năm trước. Cùng với đà tăng của tổng số vốn đăng ký, vốn FDI thực hiện trong 3 tháng đầu năm đạt 5,41 tỉ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn FDI thực hiện cao nhất của 3 tháng đầu năm trong 5 năm qua, tiếp tục giữ vững mức đỉnh liên tục cao nhất trong 5 năm trở lại đây của vốn giải ngân. Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) nhận định trong bối cảnh bất ổn địa chính trị thế giới gia tăng, nhiều tập đoàn đa quốc gia có xu hướng điều chỉnh chiến lược đầu tư theo hướng thận trọng hơn, ưu tiên tối ưu hóa chuỗi cung ứng hiện hữu và đánh giá lại kế hoạch mở rộng đầu tư ra nước ngoài. Tuy nhiên, quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng khu vực châu Á - Thái Bình Dương vẫn tiếp tục diễn ra, trong đó VN vẫn được đánh giá là điểm đến có sức hấp dẫn nhờ môi trường chính trị ổn định, mạng lưới hiệp định thương mại tự do rộng và vị trí thuận lợi trong chuỗi sản xuất khu vực.
Một lĩnh vực giữ vững phong độ dù bị tác động trực tiếp là du lịch. Số liệu công bố cho thấy trong tháng 3, VN đón gần 2,1 triệu lượt khách quốc tế, đánh dấu lần đầu tiên 3 tháng liên tiếp VN vượt mốc 2 triệu lượt khách quốc tế. Tổng cả quý 1, VN đón 6,76 triệu lượt khách quốc tế, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là mức cao nhất trong quý 1 từ trước đến nay. Tuy nhiên, nếu chỉ nói về mức tăng số lượng khách nước ngoài là chưa đủ bởi việc duy trì ở mức cao liên tục trong tháng 3 cho thấy trong mắt du khách, VN vẫn là điểm đến an toàn, hấp dẫn. Con số này càng trở nên ý nghĩa khi trong tháng 3, hàng loạt chuyến bay quốc tế bị hoãn, hủy cũng như giá vé máy bay nhảy vọt khiến nhiều người phải thay đổi kế hoạch du lịch. Thế nhưng, khách quốc tế đến VN vẫn tăng trưởng ổn định, góp phần thúc đẩy tăng trưởng của ngành thương mại và dịch vụ trong những tháng đầu năm...
Chuyên gia kinh tế, đại biểu Quốc hội, PGS-TS Trần Hoàng Ngân nhận định kết quả tăng trưởng ấn tượng quý 1/2026 của VN không đến một cách tự nhiên mà là kết quả của quá trình cải cách, chuẩn bị trong thời gian vừa qua. Đó là cải cách thể chế, thực hiện chính quyền theo mô hình 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp phân quyền cho địa phương. "Xuất phát từ khát vọng, niềm tin của người dân từ các hoạt động kỷ niệm 50 năm ngày đất nước thống nhất, kỷ niệm 80 năm thành lập nước, thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và cả dân tộc bước vào kỷ nguyên mới cũng góp phần tạo nên tăng trưởng kinh tế cao. Hơn nữa, kết quả đó cũng thể hiện sự điều hành sát sao, kịp thời của Chính phủ, đặc biệt trong bối cảnh bất ổn địa chính trị thế giới lên cao trong đầu năm nay", ông Trần Hoàng Ngân lý giải.
Đáng chú ý, trong bối cảnh nhiều quốc gia Đông Nam Á lao đao vì cú sốc năng lượng khi chiến sự tại Trung Đông bùng nổ từ cuối tháng 2, VN nổi lên như một điểm sáng hiếm hoi giữa cơn khủng hoảng được đánh giá là nghiêm trọng nhất trong nhiều thập niên khi giữ ổn định thị trường xăng dầu, duy trì nguồn cung năng lượng cho các hoạt động kinh tế - xã hội…
Theo PGS-TS Trần Hoàng Ngân, từ đầu tháng 3 đến nay, tình hình thế giới bắt đầu có những biến động lớn. Căng thẳng tại khu vực Trung Đông, đặc biệt là xung đột giữa Iran và Mỹ - Israel đã tạo ra nguy cơ khủng hoảng năng lượng. Giá dầu thô tăng cực mạnh, chi phí logistics, phí bảo hiểm hàng hóa và chi phí vận chuyển đều tăng vọt. Nhờ Chính phủ có những chính sách kịp thời như giảm thuế, phí liên quan đến xăng dầu, sử dụng Quỹ bình ổn để bình ổn giá nhiên liệu, kịp thời cắt đứt tâm lý kỳ vọng lạm phát và tình trạng đầu cơ, tích trữ. "Chính sách phản ứng linh hoạt, đồng bộ đã giúp kinh tế trong nước vượt qua cú sốc lớn từ thế giới. Đồng thời, việc tiếp tục triển khai tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, các dự án tồn đọng hay giải ngân đầu tư công đã mang lại kết quả rõ nét. Cùng với sự điều hành linh hoạt của Chính phủ và sự đồng lòng của các địa phương, nhất là những đầu tàu kinh tế như TP.HCM, Hà Nội… chúng ta đã đạt được kết quả tích cực. Nếu không có cú sốc từ chiến sự ở khu vực Trung Đông, tăng trưởng kinh tế VN trong quý đầu năm nay có thể còn tăng cao hơn, vượt 8%", PGS-TS Trần Hoàng Ngân nhấn mạnh.
PGS-TS Nguyễn Thường Lạng (Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, ĐH Kinh tế quốc dân) cũng đánh giá rất cao quyết tâm thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số của Bộ Chính trị. Bởi VN đã trải qua 40 năm đổi mới với nhiều thành tựu quan trọng nhưng vẫn thiếu những đột phá mang tính bước ngoặt, khiến nền kinh tế chưa thể vượt khỏi bẫy thu nhập trung bình. Nếu tiếp tục duy trì tốc độ phát triển như hiện nay, phải cần thêm hàng chục năm để hình thành nền công nghiệp hiện đại. Chưa kể, các yếu tố "thiên thời, địa lợi, nhân hòa" đang hội tụ, nếu không kịp nắm bắt, cơ hội này sẽ khó lặp lại.
Với tinh thần đó, Chính phủ đã có ứng biến rất nhanh, rất linh hoạt trước cơn bão giá nhiên liệu bất ngờ ập tới. Mặc dù đã tích lũy được sức mạnh nội sinh vững chắc, song, với đặc thù phụ thuộc một phần vào năng lượng nhập khẩu, VN khó tránh khỏi những tác động lan tỏa từ thị trường quốc tế. Trong bối cảnh đó, nguồn cung xăng dầu trong nước vẫn cơ bản được bảo đảm, chuỗi cung ứng duy trì thông suốt, góp phần giảm áp lực lên sản xuất, kinh doanh và chi phí sinh hoạt của người dân. Một loạt quyết sách thuế mang tính "phòng thủ" và "trợ lực" rất mạnh mẽ, thậm chí hiếm thấy, như rút ngắn chu kỳ điều hành giá xăng dầu, đã được ban hành thần tốc, không chỉ giúp bình ổn tâm lý thị trường mà còn trực tiếp kiềm chế lạm phát trong bối cảnh áp lực chi phí đầu vào tăng cao. Đặc biệt, Chỉ thị 09 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển giao thông điện được PGS-TS Nguyễn Thường Lạng ví như "cơn mưa đúng lúc", giúp định hướng rõ ràng cho các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp trong việc ứng phó thách thức trước mắt, đồng thời chuẩn bị cho chiến lược dài hạn.
"Việc tăng cường tiết kiệm năng lượng được xem là giải pháp "hai trong một" khi vừa giúp giảm áp lực lên nguồn cung, vừa trực tiếp cắt giảm chi phí cho nền kinh tế. Có thể thấy, từ các biện pháp ngắn hạn đến định hướng dài hạn về cung ứng, dự trữ nguyên, nhiên liệu, các quyết định đều được đưa ra rất nhanh, linh hoạt, bám sát thực tiễn. Các quyết sách không chỉ hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô trong biến động ngắn hạn của thị trường năng lượng mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược của những người lãnh đạo đất nước tiến tới một mô hình tăng trưởng bền vững hơn trong tương lai", PGS-TS Nguyễn Thường Lạng nhận xét.
Kết quả tăng trưởng quý 1 khả quan nhưng các chuyên gia kinh tế cũng cho rằng trong quý 2/2026, kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là tác động từ các biến động địa chính trị thế giới, dịch bệnh, thiên tai khó dự báo. Với sự kiên định từ Đảng và Chính phủ về việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên thì nhiệm vụ của các quý còn lại trong năm rất nặng nề. PGS-TS Nguyễn Thường Lạng lưu ý trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, chính sách tài khóa và tiền tệ cần phải phối hợp nhịp nhàng, vừa định hướng, vừa khuyến khích phát triển, phù hợp chiến lược tăng trưởng của đất nước. Cách triển khai cũng phải linh hoạt, nới lỏng có kiểm soát để vừa thúc đẩy sản xuất và đầu tư, vừa bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Cụ thể, cần tập trung thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khuyến khích đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học - công nghệ và chuyển đổi số. Các công cụ như thuế, chi tiêu công, đặc biệt là đầu tư công, phải được sử dụng hiệu quả, có trọng tâm, ưu tiên các lĩnh vực công nghệ chiến lược, thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm và hình thành các ngành kinh tế mũi nhọn.
Quan trọng hơn, cần nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế, nhất là về công nghệ; nếu phụ thuộc vào bên ngoài sẽ khó đạt tốc độ phát triển nhanh và bền vững. Chính sách tài khóa, tiền tệ cần hướng tới xây dựng năng lực nội sinh vững mạnh, từ công nghệ, mô hình phát triển đến nguồn lực và phương thức tổ chức. Nhà nước cần nhanh chóng đầu tư mạnh mẽ vào khoa học, công nghệ, tập trung giải quyết những vấn đề then chốt, đặc biệt là 11 công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ trọng điểm. Sau đó, ứng dụng rộng rãi trong sản xuất, dịch vụ và đời sống. Đây là nền tảng để nâng cao năng suất, hiệu quả và xây dựng mô hình phát triển thông minh, bền vững. Bên cạnh đó, cần tập trung vào "đại dự án", "đại tập đoàn" và "đại vùng kinh tế" có sức lan tỏa lớn, khả năng kết nối mạng lưới rộng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu và cập nhật xu hướng công nghệ, phát triển toàn cầu. Những dự án trọng điểm sẽ trở thành hạt nhân dẫn dắt, tạo mô hình phát triển thông minh, sáng tạo và nâng cao chất lượng tăng trưởng. PGS-TS Nguyễn Thường Lạng nhấn mạnh: "Đây sẽ là những "động lực của động lực", dẫn dắt VN bước vào kỷ nguyên tăng trưởng mới với tốc độ và hiệu quả chưa từng có".
Đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân cho rằng để đảm bảo đạt mục tiêu tăng trưởng cao đã đề ra, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác phân cấp phân quyền cho các địa phương. Chính phủ phải có niềm tin và để địa phương quyết, địa phương làm và địa phương tự chịu trách nhiệm. Việc này song hành với hoàn thiện thể chế sẽ tháo gỡ được các điểm nghẽn lâu nay của nền kinh tế. Từ đó giúp các bộ ngành hay tỉnh, thành tránh được tình trạng có tiền nhưng không tiêu được, các dự án đầu tư công sẽ được triển khai kịp thời, đúng tiến độ. Đặc biệt, Chính phủ cần triển khai kịp thời 3 đột phá chiến lược đã đề ra tại Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV. Đó là đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, đột phá về nguồn nhân lực và đột phá về hạ tầng. Đồng thời, phát triển khoa học - công nghệ, chuyển đổi số vẫn là chiến lược xuyên suốt để tạo động lực cho các ngành kinh tế tăng tốc đi lên. Song song đó, Chính phủ cũng cần bám sát các nghị quyết của Bộ Chính trị ban hành trong điều hành kinh tế - xã hội. Tất cả những hoạt động cần phải được thực hiện nhanh hơn, thực chất hơn để tạo ra sự đồng lòng của cả nước. Từ đó có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng cao, thực chất và bền vững mà Đảng đã đề ra.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/kinh-te-viet-nam-kien-cuong-vuot-bao-to-185260405224630168.htm

Từ đầu năm tới nay, giá vàng thế giới biến động trồi sụt rất khó lường. Đầu năm, giá vàng tăng vọt lên mức cao nhất vào ngày 29.1 là gần 5.600 USD/ounce. Đầu tháng 3, giá vàng dao động 5.200 - 5.400 USD/ounce, sau đó có tăng, có giảm, xu hướng giảm là chính.
Giá vàng dần "thủng" các ngưỡng kháng cự quan trọng như 5.000 USD/ounce, 4.500 USD/ounce, thấp nhất ngày 23.3, có thời điểm ghi nhận giá dưới 4.200 USD/ounce.
Từ cú giảm sâu đó tới nay, giá vàng lình xình có lên, có xuống, song không quay lại mức 5.000 USD/ounce, cao nhất khoảng 4.800 USD/oune. Giá vàng đóng cửa tuần này ở 4.676 USD/ounce.
Nhìn lại lịch sử thị trường vàng, TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân phân tích, có thể nhận diện một số chu kỳ điển hình "tăng đỉnh - sập sâu - đi ngang kéo dài".
Đợt thứ nhất là sau đỉnh năm 1980. Vàng khi đó tăng mạnh do lạm phát cao và bất ổn địa chính trị, nhưng bước ngoặt đến khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) thực hiện chính sách thắt chặt quyết liệt, đẩy lãi suất lên mức rất cao. Kết quả, vàng sụp đổ mạnh, bước vào giai đoạn "ngủ đông" kéo dài gần 2 thập kỷ, đến đầu những năm 2000 mới thực sự hồi phục.
Đợt thứ hai là chu kỳ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Vàng đạt đỉnh lịch sử năm 2011 nhờ các gói nới lỏng định lượng (QE) và lãi suất thấp kéo dài.
Tuy nhiên, từ năm 2013, khi Fed phát tín hiệu thu hẹp QE, thị trường đảo chiều mạnh, vàng giảm sâu và mất khoảng 30 - 40% giá trị trong vòng vài năm, sau đó đi ngang tích lũy khá dài trước khi bước vào chu kỳ tăng mới.
Đợt thứ ba mang tính ngắn hạn hơn là giai đoạn 2020 - 2022. Sau khi đạt đỉnh trong đại dịch Covid-19 nhờ chính sách tiền tệ siêu nới lỏng, vàng nhanh chóng điều chỉnh khi lạm phát tăng cao buộc các ngân hàng T.Ư quay lại chu kỳ thắt chặt. Dù mức giảm không kéo dài hàng thập kỷ, nhưng vẫn cho thấy rõ tính nhạy cảm của vàng với lãi suất thực.
"Điểm chung của các chu kỳ này là vàng thường đạt đỉnh khi chính sách tiền tệ ở trạng thái nới lỏng cực độ, và sụt giảm khi chu kỳ thắt chặt bắt đầu. Sau cú sốc giảm, thị trường thường bước vào giai đoạn tích lũy dài do thiếu động lực tăng mới", ông Nhân nói.
Các đợt "sập giá" của vàng luôn có một số điểm tương đồng mang tính quy luật, nhưng bối cảnh hiện nay xuất hiện những khác biệt đáng lưu ý.
Vai trò của các ngân hàng T.Ư trong việc mua ròng vàng đang lớn hơn nhiều so với các chu kỳ trước, tạo ra lực đỡ dài hạn.
Cạnh đó, thế giới đang bước vào giai đoạn phân mảnh tài chính và xu hướng giảm phụ thuộc vào USD, khiến vàng tiếp tục được coi là tài sản dự trữ chiến lược, chứ không đơn thuần là công cụ đầu cơ.
Rủi ro địa chính trị hiện nay mang tính kéo dài, khó dự báo hơn, làm cho nhu cầu phòng ngừa rủi ro chưa thể suy giảm hoàn toàn.
"Kịch bản giá vàng sập sâu và đi ngang như sau năm 1980 hoàn toàn có thể lặp lại về mặt ngắn hạn hoặc trung hạn nếu lãi suất duy trì cao lâu hơn dự kiến. Tuy nhiên, xác suất xuất hiện một chu kỳ suy giảm kéo dài hàng thập kỷ thấp hơn, bởi nền tảng cầu của vàng hiện đã đa dạng, bền vững hơn", ông Nhân dự báo.
Về trung và dài hạn, theo ông Nhân, yếu tố chi phối mang tính quyết định tới giá vàng vẫn là chính sách của Fed.
Diễn biến gần đây cho thấy, khi lạm phát còn dai dẳng, Fed có xu hướng duy trì lãi suất cao hơn kỳ vọng, làm tăng lợi suất thực và gây áp lực lên vàng. Ngược lại, nếu chu kỳ nới lỏng quay trở lại vào cuối năm 2026, đây sẽ là yếu tố quan trọng giúp vàng phục hồi. Các yếu tố hỗ trợ vàng dài hạn vẫn hiện hữu.
Đa số tổ chức lớn đang đưa ra vùng dự báo khá rộng cho năm 2026. Kịch bản cơ sở, giá vàng dao động quanh 4.000 - 5.000 USD/ounce; trong khi các kịch bản tích cực hơn có thể hướng tới 5.400 - 6.000 USD nếu xuất hiện chu kỳ giảm lãi suất và rủi ro địa chính trị leo thang. Ngược lại, nếu lãi suất duy trì cao kéo dài, vùng 3.800 - 4.200 USD sẽ đóng vai trò đáy cân bằng.
"Tóm lại, vàng vẫn được hỗ trợ trong dài hạn nhưng biên độ biến động sẽ lớn hơn, phụ thuộc chặt chẽ vào chu kỳ chính sách tiền tệ. Kịch bản lập đỉnh mới trong năm 2026 là khả thi, nhưng không còn mang tính một chiều như giai đoạn 2024 - 2025", ông Nhân nhận định.
TS Đào Lê Trang Anh, giảng viên cao cấp ngành tài chính (Đại học RMIT Việt Nam), cũng cho rằng, về dài hạn, các nền tảng hỗ trợ cho vàng vẫn còn, bao gồm bất ổn địa chính trị, rủi ro nợ công toàn cầu, nhu cầu đa dạng hóa dự trữ của ngân hàng T.Ư và vai trò phòng ngừa rủi ro hệ thống của vàng trong danh mục đầu tư.
"Năm nay, mặt bằng dự báo hiện khá phân hóa. Kịch bản thận trọng đặt vùng giá xoay quanh 4.600 - 5.000 USD/ounce. Trong kịch bản các rủi ro vĩ mô và chính sách tiếp tục hiện hữu, giá vàng hoàn toàn có thể kiểm định các vùng đỉnh mới. Vùng giá tiềm năng được nhiều nhà phân tích nhắc tới quanh 5.500 - 6.200 USD/ounce, dù biến động sẽ còn rất lớn", bà Trang Anh nói.

