Mục Lục
ToggleTổng thanh tra Chính phủ Nguyễn Quốc Đoàn 51 tuổi, quê tỉnh Ninh Bình; tiến sĩ Luật; Ủy viên Trung ương Đảng các khóa 13, 14.
Ông từng giữ các chức vụ Phó tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Bộ Công an; Giám đốc Công an tỉnh Thừa Thiên Huế – nay là TP Huế. Tháng 7/2020, ông làm Phó bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, sau đó được chỉ định giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn năm 2021.
Tháng 12/2024, ông được bổ nhiệm làm Phó chánh án Tòa án nhân dân Tối cao. Cuối năm 2025, ông được phân công giữ chức Phó tổng thanh tra thường trực Thanh tra Chính phủ trước khi được Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm giữ chức Tổng thanh tra Chính phủ.
Thanh tra Chính phủ là cơ quan ngang bộ, thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên phạm vi cả nước.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong 54 tuổi, quê Phú Thọ; tiến sĩ Kinh tế, cử nhân Quản trị kinh doanh công nghiệp, cử nhân Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước; Ủy viên Trung ương Đảng các khóa 13, 14.
Ông có khoảng 20 năm công tác tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Lào Cai, từ chuyên viên đến Giám đốc Sở. Sau đó, ông giữ các chức vụ Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai giai đoạn 2015-2020 và Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai giai đoạn 2020-2025.
Đầu năm 2025, ông được điều động làm Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc. Sau khi Vĩnh Phúc, Hòa Bình và Phú Thọ sáp nhập tháng 7/2025, ông giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ mới. Ba tháng sau, ông tiếp tục được điều động làm Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình. Từ đầu tháng 3/2026, ông giữ chức Phó chủ nhiệm Thường trực Văn phòng Chính phủ.
Văn phòng Chính phủ là cơ quan ngang bộ, giúp việc Chính phủ và Thủ tướng; có chức năng tham mưu tổng hợp, điều phối hoạt động chung của Chính phủ, Thủ tướng, phó thủ tướng; kiểm soát thủ tục hành chính; bảo đảm thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành và điều kiện vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Chính phủ.
Sơn Hà

Quan điểm trên được PGS-TS Vũ Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Giao thông Vận tải - Đại học Việt Đức, nêu tại tọa đàm về bài toán phát triển xe buýt ở TP HCM do Tạp chí Doanh Nhân Sài Gòn và Viện Sáng kiến Việt Nam tổ chức ngày 15/4. Sự kiện diễn ra trong bối cảnh thành phố chuẩn bị miễn phí xe buýt để khuyến khích người dân chuyển sang phương tiện công cộng.
"Mức độ cung cấp hạ tầng và số lượng xe buýt trên đầu người ở TP HCM quá thấp, trở thành một trong những điểm yếu lớn nhất của hệ thống", ông Tuấn nói. So với các đô thị tương đồng như Jakarta hay Bangkok - nơi có khoảng 900-1.000 xe buýt trên mỗi triệu dân để đáp ứng 15-20% nhu cầu đi lại, TP HCM hiện mới đạt chưa tới 1/3 mức này.
Theo ông Tuấn, sau khi sáp nhập Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, dân số TP HCM tăng lên khoảng 14-15 triệu người, song toàn hệ thống mới có hơn 2.400 xe buýt. Quy mô này khiến nhiều khu vực vẫn "trắng" dịch vụ, buộc người dân tiếp tục phụ thuộc xe cá nhân. Vì vậy, tỷ lệ đáp ứng của giao thông công cộng chỉ đạt khoảng 4-5%, kể cả khi tính thêm metro Bến Thành - Suối Tiên.
Với tỷ lệ trên, ông cho rằng hệ thống hiện mới dừng ở mức đáp ứng nhu cầu đi lại tối thiểu cho nhóm yếu thế hoặc người không có phương tiện riêng, chưa đủ sức cạnh tranh với xe cá nhân.
Để nâng tỷ lệ đảm nhận lên 15-20% theo mục tiêu, cùng với phát triển thêm metro, TP HCM cần mở rộng số lượng xe buýt ít nhất gấp 3 lần, lên khoảng 14.000-15.000 xe. Mục tiêu là tăng độ phủ, giúp người dân dễ tiếp cận và hình thành thói quen sử dụng, từ đó chính sách miễn vé mới phát huy hiệu quả.
TS Huỳnh Thế Du, thành viên Viện Sáng kiến Việt Nam, cũng cho rằng quy mô vận tải công cộng chủ lực của thành phố hiện quá thấp so với nhu cầu. Toàn hệ thống mới có gần 20 km metro và hơn 2.400 xe buýt; thậm chí so với một số giai đoạn trước, số lượng xe còn bị thu hẹp.
Theo ông, dù thành phố đang có tham vọng mở rộng mạnh, mức tăng cần đủ lớn, có thể gấp 3-4 lần mới tạo chuyển biến rõ rệt.
Ông Du đánh giá chính sách miễn vé sẽ tạo tác động tích cực, nhưng để đạt hiệu quả tổng thể cần thêm các giải pháp "kéo" người dân sử dụng: nâng chất lượng dịch vụ, bảo đảm xe đúng giờ, tần suất cao, sạch sẽ, an toàn, đồng thời tối ưu độ phủ để người dân chỉ cần đi bộ khoảng 500 m là tiếp cận được trạm dừng.
Ngoài ra, xe buýt cần kết nối tốt hơn với metro, xe đạp và hạ tầng đi bộ; hệ thống vé phải thông minh, liên thông và mở rộng thanh toán điện tử. Về dài hạn, thành phố cần đẩy nhanh TOD và ứng dụng công nghệ để hình thành hệ sinh thái giao thông công cộng hiệu quả.
Song song với đó là các giải pháp "đẩy" như thu phí ùn tắc, tăng phí đỗ xe hoặc điều chỉnh thuế nhiên liệu nhằm hạn chế xe cá nhân.
Tại tọa đàm, Phó giám đốc Sở Xây dựng TP HCM Bùi Hòa An cho biết thành phố hiện có 180 tuyến xe buýt, chủ yếu nằm ở địa bàn trước sáp nhập nên phân bổ chưa đều. Ngoài độ phủ hạn chế, hệ thống còn bất cập về khả năng đúng giờ, kết nối và tiếp cận.
Một trong những giải pháp quan trọng, theo ông, là tổ chức làn ưu tiên xe buýt trên một số trục lớn để cải thiện tốc độ và tính đúng giờ. Khi dịch vụ ổn định và thuận tiện hơn, xe buýt mới có thể từng bước thay đổi thói quen dùng xe cá nhân.
Bổ sung thêm, ông Phạm Ngọc Dũng, Giám đốc Trung tâm Quản lý giao thông công cộng, cho biết thành phố đang rà soát, điều chỉnh lại mạng lưới, đồng thời phát triển các tuyến xe quy mô nhỏ, sử dụng phương tiện xanh để đi sâu vào khu dân cư, giúp người dân tiếp cận thuận tiện hơn.
Một trong những hướng mới đang được nghiên cứu là DRT (giao thông đáp ứng theo nhu cầu). Mô hình sử dụng xe nhỏ từ 9-16 chỗ, vận hành linh hoạt về lộ trình và thời gian, phù hợp các tuyến đường hẹp, khu vực hẻm - nơi xe buýt cỡ lớn khó tiếp cận.
Ngoài ra, thành phố cũng dự kiến mở thêm nhiều tuyến kết nối các khu vực mở rộng như Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ) và sân bay Long Thành, qua đó tăng độ phủ toàn hệ thống.
Tin Gốc: Vnexpress

Tại hội nghị, đại diện Ban Tổ chức Trung ương đã công bố quyết định của Ban Bí thư về việc điều động, phân công và bổ nhiệm nhân sự Ban Chính sách, chiến lược Trung ương.
Theo đó, điều động, bổ nhiệm ông Nguyễn Ngọc Tuấn, nguyên Phó bí thư Thành ủy nhiệm kỳ 2020 - 2025, nguyên Chủ tịch HĐND thành phố nhiệm kỳ 2021 - 2026, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội khóa XV TP.Hà Nội giữ chức Phó ban Chính sách, chiến lược Trung ương.
Ông Nguyễn Ngọc Tuấn sinh ngày 24.9.1966, quê Hải Phòng, tiến sĩ kinh tế, kỹ sư thủy lợi.
Hội nghị cũng thông báo quyết định của Bộ Chính trị về việc phân công, bổ nhiệm ông Trần Hồng Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, cơ quan thuộc Chính phủ giữ chức Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng); kiêm giữ chức Phó ban Chính sách, chiến lược Trung ương.
Ông Trần Hồng Thái sinh ngày 4.8.1974, quê Hà Tĩnh, có trình độ chuyên môn GS-TS chuyên ngành khoa học trái đất và toán học.
Hội nghị cũng thông báo quyết định của Bộ Chính trị về việc phân công, bổ nhiệm ông Lê Văn Lợi, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, cơ quan thuộc Chính phủ giữ chức Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam là đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; kiêm giữ chức Phó ban Chính sách, chiến lược Trung ương.
Ông Lê Văn Lợi sinh ngày 10.12.1974, quê Nghệ An, có trình độ chuyên môn GS-TS triết học.
Phát biểu tại hội nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị mong muốn các tân phó ban sẽ phát huy tốt nhất năng lực sở trường, kinh nghiệm công tác, đoàn kết thống nhất cùng tập thể lãnh đạo ban tập trung triển khai có hiệu quả việc xây dựng các đề án trình Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị trong năm 2026 và trong cả nhiệm kỳ.
Đặc biệt, thực hiện tốt mô hình hoạt động mới theo quyết định của Bộ Chính trị về chức năng nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của hai Viện Hàn lâm, gắn kết hiệu quả hoạt động của hai Viện Hàn lâm với công tác nghiên cứu, tham mưu chiến lược của Ban Chính sách, chiến lược Trung ương.
Như vậy, lãnh đạo Ban Chính sách, chiến lược Trung ương hiện có 13 nhân sự, gồm: 1 trưởng ban, 1 phó ban thường trực, 9 phó ban và 2 phó ban kiêm nhiệm.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/ban-chinh-sach-chien-luoc-trung-uong-co-them-3-pho-ban-185260408184259832.htm
Thời Sự
Dự báo dân số Việt Nam giảm mạnh: Đừng đổ lỗi cho phụ nữ ‘lười sinh con’

Giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Bí thư Thành ủy TP.HCM bác bỏ quan điểm cho rằng phụ nữ TP.HCM nói riêng, phụ nữ Việt Nam nói chung “lười sinh con”. Ông cho rằng đây là cách nhìn lệch bản chất, quy trách nhiệm cho phụ nữ thay vì nhìn thẳng vào những rào cản kinh tế - xã hội đang chi phối quyết định sinh con.
Ông nhận định phụ nữ hôm nay không quay lưng với thiên chức làm mẹ. Họ chỉ đang cân nhắc rất thực tế giữa khát vọng có con với áp lực cơm áo, nhà ở, công việc và chi phí nuôi dạy con: “Họ làm như vậy là đúng quy luật của cuộc sống hiện nay: không nuôi con được tử tế thì đừng sinh con, khác với quan niệm hơn 100 năm trước: trời sinh voi, trời sinh cỏ”.
Ông Nhân nhấn mạnh mức sinh thấp không phải do phụ nữ “lười sinh con”, mà vì nhiều gia đình chưa có đủ điều kiện tối thiểu để sinh và nuôi con tử tế.
Khi người lao động chưa có mức lương đủ sống - tức mức lương thấp nhất cho phép một gia đình có 2 người đi làm có thể nuôi 2 vợ chồng và 2 con đàng hoàng, cho con đi học đến 18 tuổi và học được một nghề - thì việc họ không sinh con hoặc chỉ sinh 1 con là điều dễ hiểu.
Ông phân tích, ở nhiều nước, chỉ khoảng 55 - 65% lao động đạt mức lương bằng hoặc cao hơn lương đủ sống; còn lại 35 - 45% ở dưới ngưỡng này. Với nhóm thu nhập đó, chuyện sinh và nuôi đủ hai con đến 18 tuổi gần như vượt quá khả năng. Khi thu nhập không theo kịp chi phí nhà ở, giáo dục, y tế và sinh hoạt, lựa chọn trì hoãn sinh con hoặc không sinh thêm không phải là sự ích kỷ, mà là một tính toán hợp lý.
Theo ông Nhân, phụ nữ còn bị ràng buộc bởi bất bình đẳng giới: thời gian làm việc kéo dài, gánh nặng việc nhà và chăm con vẫn chủ yếu dồn lên vai phụ nữ. Cùng với đó là nỗi lo việc làm bấp bênh, thu nhập tăng chậm, kết hôn muộn, sinh con muộn và môi trường lao động ở nhiều nơi chưa thật sự thân thiện với phụ nữ sinh con, nuôi con.
Dẫn lại khảo sát tại Nhật Bản, ông Nhân cho biết khi hôn nhân và sinh con đi kèm gánh nặng việc nhà, chăm con, chăm sóc cha mẹ lớn tuổi và nguy cơ ảnh hưởng con đường nghề nghiệp, nhiều phụ nữ sẽ suy giảm động lực kết hôn, sinh con. Bản chất của hiện tượng ấy không phải là “lười sinh con”, mà là phản ứng trước những áp lực xã hội và bất bình đẳng giới tích tụ trong thời gian dài.
Từ những phân tích đó, ông Nhân nhấn mạnh, đừng hỏi vì sao phụ nữ “lười sinh con”, mà phải hỏi vì sao xã hội vẫn chưa tạo đủ điều kiện để họ yên tâm sinh con.
Giáo sư Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh, nếu không giải được bài toán thu nhập thì rất khó kỳ vọng người dân sinh đủ 2 con, dù có thêm nhiều biện pháp hỗ trợ khác.
Ông phân tích, năm 2023, lương tối thiểu ở TP.HCM khoảng 4,96 triệu đồng/tháng; lương đủ sống khoảng 10 triệu đồng/tháng - tức cao gấp 2,14 lần lương tối thiểu. Khoảng cách này cho thấy mức lương sàn hiện nay về cơ bản chỉ đủ để một người lao động tự nuôi bản thân, không thể nuôi con cái.
Ông nhận định, muốn một gia đình đạt mức sinh thay thế (tức sinh đủ 2 con) thì mỗi người đi làm phải đạt mức lương đủ sống, nghĩa là một cặp vợ chồng cần tổng thu nhập khoảng 20 triệu đồng/tháng mới có cơ sở nuôi 2 con đến tuổi trưởng thành.
Để làm rõ vai trò của tiền lương, giáo sư dẫn số liệu tuyển dụng tại TP.HCM giai đoạn 2021 - 2024. Phần lớn việc làm vẫn tập trung ở nhóm thu nhập thấp, trong khi số vị trí có thu nhập cao chiếm tỷ lệ không nhiều. Từ mặt bằng lương đó, ông ước tính số con bình quân mà lực lượng lao động này có thể sinh và nuôi chỉ khoảng 1,4 - 1,45 con.
Đáng chú ý, mức sinh thực tế của TP.HCM từ 2021 - 2024 cũng chỉ quanh ngưỡng 1,4 con/phụ nữ. Theo ông Nhân, sự trùng khớp này cho thấy rất rõ: khi thu nhập chưa đạt mức lương đủ sống cho một gia đình 4 người, thì mức sinh của địa phương rất khó tăng.
Bên cạnh đó, giáo sư cho biết TP.HCM đang nỗ lực giải quyết tình trạng mức sinh thấp. Theo đó, thành phố đã triển khai chính sách hỗ trợ 5 triệu đồng cho phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi; đồng thời hỗ trợ 2 triệu đồng cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh thuộc hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, người sống tại xã đảo khi thực hiện tầm soát trước sinh và sơ sinh.
Theo ông, đây là sự khích lệ cần thiết. Tuy vậy, để cải thiện mức sinh một cách bền vững, cần đồng thời tiếp tục hoàn thiện các giải pháp nền tảng, nhất là những vấn đề đang tác động trực tiếp đến quyết định sinh con của người dân.
Từ kinh nghiệm của những nước có mức sinh thấp kéo dài như Nhật Bản, Hàn Quốc, ông chỉ ra nhiều quốc gia đã chi rất lớn để khuyến khích kết hôn, sinh con nhưng mức sinh vẫn tiếp tục giảm. Theo ông, nguyên nhân là người trẻ vẫn phải đối mặt với hàng loạt rào cản: thu nhập không đủ nuôi 2 con, giá nhà quá cao, thiếu trường mầm non công lập, bất bình đẳng giới trong việc nhà và môi trường lao động chưa thân thiện với phụ nữ có con.
Ở chiều ngược lại, tại Indonesia, khi lo ngại mức sinh ở các đô thị lớn như Jakarta đã xuống 1,8 và có nguy cơ giảm sâu thì Indonesia bắt đầu triển khai hàng loạt chính sách thân thiện với gia đình.
Indonesia đã phát triển 3.700 trung tâm gia đình bền vững để tư vấn làm cha mẹ, khuyến khích người cha chia sẻ chăm con và việc nhà, hỗ trợ bữa ăn miễn phí cho trẻ nhỏ và học sinh, đơn giản hóa thủ tục tiếp cận chính sách gia đình… Đồng thời, thúc đẩy chương trình xây 3 triệu căn nhà mỗi năm để giảm áp lực nhà ở cho người trẻ.
Từ những kinh nghiệm đó, giáo sư Nhân cho rằng muốn thay đổi mức sinh một cách bền vững thì không thể chỉ dừng ở hỗ trợ ngắn hạn, mà phải tạo được nền tảng sống đủ vững cho người trẻ: thu nhập đủ sống, nhà ở phù hợp, dịch vụ giữ trẻ, an sinh y tế - xã hội và môi trường làm việc thân thiện với phụ nữ sinh con, nuôi con.

