Dòng chảy dầu khí qua eo biển Hormuz tắc nghẽn do xung đột Trung Đông khiến giá nhiên liệu tăng vọt. Nguồn cung sản phẩm hóa dầu, vốn là đầu vào của nhiều mặt hàng như giày dép, quần áo và túi nhựa, cũng chịu nhiều ảnh hưởng.
Tác động rõ rệt nhất ở châu Á, nơi chiếm hơn một nửa sản lượng sản xuất của thế giới và phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu dầu mỏ cùng các sản phẩm liên quan.
Tại Hàn Quốc, người dân tích trữ túi đựng rác và chính phủ khuyến khích giảm thiểu vật dụng dùng một lần. Đài Loan phải thiết lập đường dây nóng cho các nhà sản xuất nhựa, trong khi nông dân dự kiến tăng giá lúa gạo vì không thể mua được túi hút chân không.
Ở Nhật Bản, khủng hoảng dầu mỏ làm dấy lên lo ngại thiếu ống nhựa y tế để bệnh nhân chạy thận nhân tạo. Các nhà sản xuất tại Malaysia cảnh báo thiếu hụt một sản phẩm phụ của dầu mỏ, đe dọa nguồn cung găng tay y tế toàn cầu.
“Mọi thứ chịu ảnh hưởng rất nhanh chóng: bia, mì, khoai tây chiên, đồ chơi, mỹ phẩm”, Dan Martin, Đồng Giám đốc bộ phận tình báo kinh doanh tại công ty tư vấn Dezan Shira & Associates, cho biết.
Nguyên nhân là nắp nhựa, thùng chứa, túi và các loại hộp đựng ngày càng khó mua. Các dẫn xuất dầu mỏ còn được dùng để sản xuất keo dán giày dép và đồ nội thất, dầu bôi trơn máy móc công nghiệp, dung môi cho sơn và quy trình làm sạch.
“Gián đoạn dầu mỏ lan truyền rất nhanh sang sản phẩm hóa dầu và hàng tiêu dùng”, ông Dan Martin nói.
Khi các nhà sản xuất phải trả nhiều tiền hơn cho năng lượng và nguyên liệu thô, họ bắt đầu đẩy chi phí lên người tiêu dùng. Biến động này tạo áp lực lên lạm phát và kìm hãm kinh tế.
Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), nếu không có xung đột, tăng trưởng toàn cầu năm nay có thể đạt 3,3%. Tuy nhiên, tổ chức này sẽ công bố điều chỉnh dự báo vào tuần sau. “Dù chiến tranh có thể định hình kinh tế toàn cầu theo nhiều cách khác nhau, nhưng tất cả đều dẫn tới giá cao hơn và tăng trưởng chậm lại”, bà Kristalina Georgieva, Giám đốc điều hành IMF, nhận định.
Dư địa ứng phó với tình trạng thiếu hụt sản phẩm từ dầu mỏ không còn nhiều. Các quốc gia bắt đầu xả kho dự trữ dầu khẩn cấp, nhưng chỉ giúp bổ sung vào nguồn cung nhiên liệu. Trong khi phần lớn thiếu hụt trong ngành sản xuất là naphtha – một sản phẩm phụ của dầu mỏ, đầu vào quan trọng cho vật liệu tổng hợp.
Các nhà sản xuất có rất ít nguồn dự trữ và không có chất thay thế naphtha. Một số công ty hóa dầu tại châu Á – nơi mua một nửa nguồn naphtha từ Trung Đông – đã cắt giảm sản lượng hoặc tuyên bố tình huống “bất khả kháng” trong những tuần gần đây.
Hàn Quốc tận dụng việc Mỹ tạm đình chỉ trừng phạt dầu và sản phẩm dầu mỏ của Nga để nhập lô naphtha đầu tiên từ Moskva, kể từ khi xung đột Ukraine nổ ra. Seoul cũng áp lệnh cấm xuất khẩu naphtha nhằm bảo vệ nguồn cung nội địa.
Ông Martin cho biết tình trạng khan hiếm sản phẩm từ dầu mỏ đang làm tăng chi phí đầu vào, nhất là tại các doanh nghiệp sản xuất hàng có tiêu chuẩn nghiêm ngặt như chất bán dẫn, linh kiện ôtô và bao bì y tế hoặc thực phẩm. “Doanh nghiệp gần như không có nhiều cách xoay xở, ngoài cắt giảm sản xuất và tiết kiệm năng lượng”, ông nói.
Khi các nhà sản xuất chạy đua để đảm bảo nguồn nguyên liệu, chi phí nhựa và các sản phẩm liên quan tăng mạnh. Theo nền tảng phân tích thị trường hàng hóa ICIS, giá nhựa nguyên sinh tại châu Á đã tăng tới 59%, lên mức cao kỷ lục kể từ cuối tháng 2, thời điểm Mỹ và Israel bắt đầu không kích Iran.
Một trong những nhà bán buôn bao bì nhựa lớn nhất Thái Lan đã tăng giá 10% túi nilon trong suốt, loại sử dụng phổ biến để đựng thức ăn mang đi. Truyền thông Ấn Độ đưa tin nước đóng chai đắt hơn do giá nắp nhựa tăng 4 lần kể từ xung đột Trung Đông. Nongshim – nhà sản xuất mì ăn liền lớn nhất Hàn Quốc, cho biết công ty cung cấp bao bì nhựa cho họ hiện chỉ còn khoảng một tháng nguồn cung.
Theo bà Shariene Goh, chuyên gia phân tích hóa dầu cấp cao tại ICIS, các mặt hàng tiêu dùng phụ thuộc nhiều vào bao bì nhựa, như mỹ phẩm, có thể dễ rơi vào tình trạng thiếu hụt hơn những sản phẩm chỉ sử dụng nhựa một phần. “Các doanh nghiệp có thể tận dụng lượng tồn kho hiện có, nhưng sẽ cạn dần theo thời gian. Tôi cho rằng họ có thể thiếu hụt khá sớm”, bà nói.
Theo Morgan Stanley, ngoài sản xuất 17% naphtha và 30% nhựa nguyên sinh toàn cầu, Trung Đông còn cung cấp 45% lưu huỳnh (dùng sản xuất phân bón), 33% helium (chất sử dụng trong bán dẫn, y tế và hàng không vũ trụ) và 22% urê và amoniac.
Một số nhà sản xuất hàng tiêu dùng trì hoãn mua nguyên liệu với hy vọng giá sẽ giảm nếu xung đột Trung Đông được giải quyết. Số khác tìm cách hạ chi phí bằng cách giảm lượng nhựa sử dụng.
Tại Indonesia, nơi giá nhựa tăng gấp đôi trong một tháng qua, các công ty đã giảm độ dày bao bì. Có doanh nghiệp còn cân nhắc dùng vật liệu khác như giấy, thủy tinh, nhôm hoặc nhựa tái chế. Nhưng theo Liên đoàn Bao bì Indonesia, mỗi lựa chọn đều có thách thức riêng về độ bền, tuân thủ quy định an toàn, cũng như thời gian cần thiết để điều chỉnh dây chuyền sản xuất và tìm nguồn cung mới, vốn có thể mất từ 6 tháng đến 1 năm.
Stephen Moore, nhà sáng lập MLT Analytics, cho biết việc chuyển sang các vật liệu thay thế cũng đắt đỏ. Theo ông, nguồn cung nhựa tái chế và nhựa sinh học còn hạn chế, chưa kể vật liệu sinh học đắt gấp 5-7 lần loại nguồn gốc từ dầu mỏ.
“Nếu mọi thứ ở eo biển Hormuz trở lại bình thường ngay ngày mai, tôi nghĩ cũng phải mất ít nhất vài tháng để ngành nhựa ở châu Á có thể quay lại trạng thái gần như bình thường”, ông nói.
Quý đầu năm, Việt Nam xuất khẩu 122,93 tỷ USD hàng hóa, theo Cục Thống kê. Con số này cao hơn 19,1% so với cùng kỳ năm ngoái và mở rộng nhanh hơn mức tăng 10,6% của quý I/2025.
Tuy nhiên, việc duy trì phong độ tăng trưởng này trong ba quý còn lại không dễ, do xung đột tại Trung Đông khiến giá nhiên liệu, vận tải và kéo theo là nguyên vật liệu đầu vào leo thang.
Khảo sát chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 3 của S&P Global cho biết một nửa doanh nghiệp được hỏi phản ánh chi phí đầu vào tháng qua tăng nhanh nhất kể từ tháng 4/2022. Họ phản ứng bằng cách nâng giá bán, với tốc độ cao nhất gần 15 năm, khiến đơn đặt hàng xuất khẩu mới quay đầu giảm.
Ông Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market Intelligence, chỉ ra diễn biến này phản ánh "những ảnh hưởng ngay lập tức và đáng kể" mà các nhà sản xuất tại Việt Nam phải đối diện.
Đáng chú ý, doanh nghiệp nội địa có dấu hiệu "ngấm đòn" trước. Trong kim ngạch xuất khẩu quý vừa qua, khu vực kinh tế trong nước chỉ góp 24,47 tỷ USD, giảm 16,6%. Trong khi, FDI và dầu thô gánh 80% kế quả, tăng trưởng 33,3%.
Khảo sát kết quả sản xuất kinh doanh quý I của Cục Thống kê cũng chỉ ra khối FDI đang lạc quan nhất, với 71,7% đánh giá tình hình tốt hơn và giữ ổn định. Ở khối doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, tỷ lệ này lần lượt là 69,5% và 68,3%.
Ông Phạm Văn Việt, Chủ tịch HĐQT Công ty Việt Thắng Jean, xác nhận giá cả nguyên liệu và chi phí vận chuyển đều tăng. "Đã có dấu hiệu gián đoạn chuỗi cung ứng khi một số nhà cung cấp chỉ xác nhận đơn hàng mà không cam kết ngày giao hoặc giá cả", ông kể trong sự kiện gần đây.
Ngay cả với những ngành xuất khẩu không phụ thuộc nguyên liệu nước ngoài như trái cây, Chủ tịch Vina T&T Nguyễn Đình Tùng cho biết vẫn không tránh khỏi áp lực. "Chúng tôi cũng phải đối mặt với chi phí xăng dầu, kéo theo cơ sở hạ tầng logistics, vật tư và bao bì từ nhà cung cấp tăng", ông chỉ ra.
Để hạn chế tác động, duy trì đầu ra, một số doanh nghiệp tìm cách điều chỉnh sản phẩm và hướng đi của đơn hàng. Ông Tùng chỉ ra chiến sự làm tăng cước tàu và kéo dài thời gian vận chuyển đi châu Âu hoặc Mỹ tăng thêm 15 ngày.
Do đó, ông tập trung thêm vào các sản phẩm chế biến sâu để giảm phụ thuộc vào hàng tươi và chuyển đổi từ các thị trường xa sang các thị trường gần để giảm chi phí vận chuyển và tránh vùng xung đột. Hay Việt Thắng Jean trước đây xuất khẩu sang EU và Mỹ chiếm 60%, nhưng đã điều tiết giảm xuống còn khoảng 44%.
Doanh nghiệp vẫn cần thêm hỗ trợ. Khảo sát nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Cục Thống kê chỉ ra 48,7% doanh nghiệp kiến nghị ưu tiên kiểm soát và bình ổn giá năng lượng, nhằm giảm áp lực đầu vào.
Cùng với đó, sớm có giải pháp hỗ trợ tín dụng, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp nông nghiệp, nhỏ và vừa, đang gặp khó trong xoay xở vốn lưu động. Đồng thời, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, tăng khả năng tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi biến động bên ngoài.
Một số giải pháp dài hơi hơn cũng được đặt ra. Là Phó chủ tịch Hội Dệt may - Thêu đan TP HCM, ông Phạm Văn Việt chỉ ra chuỗi cung ứng ngành này chưa tối ưu nên chi phí sản xuất cao hơn các nước khác khoảng 20%. Cùng với đó, công nghệ chưa tiên tiến khiến giá thành cao hơn từ 10-12% so với các nước đối thủ.
Khi giá đầu vào tăng vọt bào mòn thêm biên lợi nhuận mỏng manh, ông cho rằng cần nhanh chóng tăng liên kết chuỗi trong nước để chủ động nguồn nguyên liệu; đồng thời, cần cải thiện và thay đổi công nghệ để giảm giá thành.
Cuộc xung đột cũng làm tăng mối quan tâm đến các phương án vận tải giảm hoặc không phát thải. Ông Nhữ Đình Thiện, Tổng thư ký Hiệp hội Đại lý, Môi giới và Dịch vụ hàng hải Việt Nam khuyến nghị tăng đầu tư cho hoạt động thủy nội địa.
Chuyên gia chỉ ra Việt Nam có hơn 80.000 km sông ngòi, với khoảng 40.000 km có thể khai thác vận tải, nhưng vận tải thủy nội địa đóng góp chưa tới 20% sản lượng. Ông Thiện ví dụ việc vận chuyển một container ra khu vực Cái Mép bằng đường bộ có thể mất 4-5 triệu đồng và tốn nhiều thời gian do kẹt xe. Trong khi, một xà lan có thể chở từ 100 đến 200 container, giúp cắt giảm chi phí đáng kể.
Phương tiện điện cũng được tính đến. "Chúng tôi đang cố gắng chuyển đổi cơ sở hạ tầng logistics từ sử dụng xăng dầu sang dùng điện và lắp thêm các tấm pin mặt trời", ông Nguyễn Đình Tùng tại Vina T&T, cho biết.
Đã có triển vọng cho hướng đi này. Tại một hội nghị kinh doanh mới đây, ông Kevin Stuart Burrell, Giám đốc Điều hành khu vực Mekong của A.P. Moller - Maersk, cho biết đã đạt được chi phí vận hành đội xe tải điện bằng với xe xăng sau ba tháng thử nghiệm tại Việt Nam, dù chi phí đầu tư ban đầu gấp 2,5 lần xe xăng.
Theo ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP HCM, việc hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với thách thức của xung đột Trung Đông không chỉ dừng ở các giải pháp ngắn hạn, mà cần hướng đến xây dựng một môi trường kinh doanh thực sự thuận lợi, nơi doanh nghiệp có thể yên tâm đầu tư dài hạn, đổi mới và phát triển bền vững.
"Đồng thời, Việt Nam cần có những cơ chế cụ thể hơn để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình chuyển đổi, đặc biệt là về tài chính, công nghệ và nguồn nhân lực", ông nói tại một diễn đàn kinh tế tháng trước.
Nhiều doanh nghiệp năng lượng tái tạo vừa công bố tình hình tài chính năm 2025 ghi nhận kết quả kinh doanh không mấy khả quan, thậm chí nhiều doanh nghiệp thua lỗ.
Cụ thể, Công ty cổ phần Năng lượng Hồng Phong 1 (HP1C) - chủ đầu tư nhà máy điện mặt trời Hồng Phong 1A công suất 150MW (Bình Thuận cũ) vừa công bố tình hình tài chính năm 2025, với khoản lỗ sau thuế hơn 180,7 tỷ đồng.
Trong khi đó, năm 2024, doanh nghiệp này ghi nhận mức lãi 71,3 tỷ đồng. Tại thời điểm cuối năm 2025, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp giảm từ 1.254 tỷ đồng xuống còn 1.073 tỷ đồng.
Hệ số nợ/vốn chủ sở hữu tăng từ 2,83 lên 3,2 lần, với tổng nợ phải trả lên tới gần 3.439 tỷ đồng. Dư nợ trái phiếu chiếm hơn 2.100 tỷ đồng.
Tương tự, Công ty cổ phần Năng lượng Hồng Phong 2 - chủ đầu tư dự án Nhà máy điện mặt trời Hồng Phong 1B công suất 100MW (Bình Thuận cũ) cũng ghi nhận khoản lỗ hơn 97 tỷ đồng trong năm 2025, trái ngược với mức lãi hơn 55 tỷ đồng của năm trước.
Vốn chủ sở hữu doanh nghiệp giảm từ hơn 1.019 tỷ đồng xuống còn hơn 922 tỷ đồng, trong khi tổng nợ phải trả tăng lên hơn 1.671 tỷ đồng.
Theo báo cáo tài chính năm 2025 vừa công bố, Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Điện mặt trời KN Vạn Ninh - chủ đầu tư Dự án Nhà máy điện mặt trời KN Vạn Ninh (Khánh Hòa) ghi nhận lãi sau thuế giảm từ hơn 45 tỷ đồng xuống còn hơn 26 tỷ đồng, tương đương mức giảm khoảng 42%.
Tổng nợ phải trả tại cuối năm 2025 ở mức 1.276 tỷ đồng, dù đã giảm khoảng 84 tỷ đồng so với năm trước. Trái phiếu doanh nghiệp tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nợ với hơn 808 tỷ đồng, toàn bộ là trái phiếu phát hành riêng lẻ trong nước.
Ở chiều ngược lại, một số doanh nghiệp điện tái tạo vẫn duy trì được lợi nhuận. Chẳng hạn, Công ty cổ phần điện gió Bắc Phương - chủ đầu tư Nhà máy điện gió Đông Hải 1 giai đoạn 2 (Bạc Liêu cũ) ghi nhận lãi sau thuế năm 2025 đạt hơn 48 tỷ đồng, tăng gần 12% so với năm 2024.
Tương tự, Công ty cổ phần điện gió Phong Liệu - chủ đầu tư dự án nhà máy điện gió Phong Liệu tại Quảng Trị ghi nhận lãi sau thuế năm 2025 đạt hơn 163,6 tỷ đồng, tăng hơn 14% so với năm 2024.
Công ty cổ phần Ea Súp 1 - chủ đầu tư Nhà máy Điện mặt trời Ea Súp 1 (Đắk Lắk) ghi nhận lợi nhuận sau thuế năm 2025 đạt hơn 66,3 tỷ đồng, tăng nhẹ so với mức gần 65 tỷ đồng của năm 2024.
Trong khi đó, Công ty cổ phần Ea Súp 3 - chủ đầu tư dự án Nhà máy điện mặt trời Ea Súp 3 (Đắk Lắk) - ghi nhận lợi nhuận sau thuế hơn 278 tỷ đồng trong năm 2025, giảm mạnh so với mức hơn 459 tỷ đồng của năm trước đó.
Tại đại hội cổ đông thường niên của Ngân hàng Quốc tế Việt Nam (VIB) ngày 8/4, mô hình quản trị cốt lõi HAGT được ông Vỹ nhấn mạnh trong chiến lược của nhà băng.
Theo ông, trí tuệ nhân tạo là một trong 4 yếu tố của mô hình này, có vai trò là đòn bẩy cấp số nhân cho năng lực nhân sự. Ba năm qua, VIB liên tiếp ghi nhận số lượng nhân sự giảm. Từ mức 11.800 người vào cuối 2023 giảm nhẹ về 11.300 người vào cuối 2024, và tinh giảm về 9.900 người vào cuối năm ngoái.
Nhân sự tại nhà băng, theo ông Vỹ, hướng tới chuyên môn vững và văn hóa chủ động cao. Theo đó, mỗi cá nhân nhận diện được yếu tố tạo ra kết quả và có năng lực ra quyết định hiệu quả.
Hai yếu tố còn lại của mô hình quản trị được lãnh đạo VIB nhắc tới là các công cụ công nghệ hàng đầu nhằm nâng cao hiệu quả vận hành và bản đồ điều hướng - tức là ngôn ngữ tư duy giúp cấu trúc hóa các sáng kiến theo cùng một logic.
Năm ngoái, nhà băng này gia tăng đào tạo nhân sự với hơn 461.000 giờ, tương đương trung bình 44,7 giờ cho mỗi người. Ngân hàng cấp hơn 12.900 chứng chỉ năng lực số, đồng thời đào tạo hơn 800 lãnh đạo và chuyên gia theo khung tư duy "bản đồ điều hướng tổng quát" nhằm tạo ra ngôn ngữ chung trong thực thi chiến lược xuyên suốt các cấp.
Với mô hình quản trị này, ông Vỹ cho biết ngân hàng sẽ đẩy nhanh quá trình thử nghiệm và liên tục cho ra các sản phẩm mới. "Mỗi tuần, mỗi tháng có hàng trăm sáng kiến được đề xuất, trong đó ngân hàng chọn lọc để triển khai 5-7 sáng kiến nổi bật mỗi tháng", ông cho biết.
Ông Đặng Khắc Vỹ cũng nhìn nhận giai đoạn 2024-2025 là nhịp "chững lại cần thiết" sau chu kỳ tăng trưởng nhanh 5-7 năm. Tương tự với chu kỳ phát triển của con người hay tổ chức nào, ông đánh giá hai năm qua là cơ hội cho đội ngũ lãnh đạo và nhân viên VIB học hỏi và tiếp tục thích nghi để duy trì cuộc đua dài hơi hơn.
Chia sẻ thêm về kinh tế vĩ mô năm nay, ông Lê Quang Trung, Giám đốc Khối Nguồn vốn và ngoại hối VIB, nhận định bối cảnh quốc tế tiếp tục tạo áp lực lên điều hành trong nước. Theo ông, nếu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) không cắt giảm lãi suất năm nay, trong khi giá năng lượng duy trì quanh mức 80-120 USD mỗi thùng, khả năng nới lỏng chính sách tiền tệ là thấp.
Việc Fed duy trì lãi suất cao sẽ gây áp lực lên tỷ giá và dòng vốn. Trong 3 tháng đầu năm, dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) đã rút khoảng 3.000 tỷ đồng khỏi Việt Nam. Khi lãi suất tại Mỹ neo ở mức cao, áp lực lên đồng nội tệ gia tăng, đồng nghĩa Việt Nam cần duy trì mặt bằng lãi suất đủ hấp dẫn để giữ chân dòng tiền trong nước. Tỷ giá được dự báo có thể mất giá khoảng 3-5% trong kịch bản này.
Trước diễn biến đó, đại diện VIB cho biết ngân hàng không theo đuổi chiến lược huy động bằng mọi giá, dù một số nhà băng quy mô nhỏ đang đẩy lãi suất huy động lên tới 9% một năm. Thay vào đó, VIB tập trung vào các trụ cột sản phẩm và dịch vụ, phát triển nền tảng "transactional banking" nhằm thu hút tiền gửi bền vững.
Theo ông Trung, mặt bằng lãi suất có thể chịu áp lực tới hết quý III trước khi dần ổn định từ quý IV. Khoảng chênh lệch giữa huy động và tín dụng của hệ thống hiện vào khoảng 1,6 triệu tỷ đồng. Khi lãi suất tăng, dòng tiền gửi sẽ được cải thiện, giúp thu hẹp khoảng cách này trong vòng 3-6 tháng tới.
Năm nay, VIB đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 11.550 tỷ đồng, tăng 27% so với năm 2025. Dư nợ tín dụng dự kiến tăng trưởng khoảng 15%, phù hợp định hướng điều hành thận trọng của Ngân hàng Nhà nước.
Bên cạnh đó, nhà băng này tiếp tục chi trả cổ tức tổng tỷ lệ gần 19%, gồm 9% bằng tiền mặt, 9,5% bằng cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu và 0,24% cổ phiếu theo chương trình cho người lao động (ESOP). Sau khi hoàn tất, vốn điều lệ dự kiến tăng từ 34.000 tỷ đồng lên hơn 37.300 tỷ đồng.