Tại chuỗi sự kiện hưởng ứng Ngày Sức khỏe toàn dân 7/4, Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan cho hay Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển dịch mạnh mẽ mô hình bệnh tật, trong đó các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, ung thư, tăng huyết áp, đái tháo đường và đột quỵ trở thành nguyên nhân tử vong hàng đầu. Theo số liệu Bộ Y tế, nhóm bệnh này hiện chiếm khoảng 80% gánh nặng bệnh tật toàn quốc.
“Xu hướng bệnh tật thay đổi này là do thói quen lười vận động, ăn nhiều thịt, ít rau, ăn nhiều muối”, Bộ trưởng nói. Điều tra quốc gia STEPS, Việt Nam có khoảng 25% người trưởng thành bị tăng huyết áp, khoảng 5 triệu người mắc đái tháo đường, hơn 180.000 ca ung thư mới mỗi năm và hàng triệu người bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
Những năm gần đây số người nhập viện do đái tháo đường tăng, độ tuổi ngày càng trẻ. Trước đây bệnh đái tháo đường chỉ tấn công người hơn 40 tuổi, nhưng ngày nay thanh thiếu niên cũng bị bệnh. Nguyên nhân chủ yếu là do lối sống “nhà giàu” – tiêu thụ quá nhiều thực phẩm dẫn đến dư thừa năng lượng và lười tập thể dục. Lối sống này cũng dẫn đến tình trạng thừa cân béo phì đáng báo động.
Thực tế, xu hướng tiêu thụ thực phẩm giàu năng lượng nhưng nghèo dinh dưỡng đang gia tăng nhanh chóng, đặc biệt là thực phẩm chế biến sẵn.
Trong giai đoạn 2000-2017, lượng tiêu thụ thực phẩm đóng gói, chế biến sẵn đã tăng hơn 10 lần. Đây là nhóm thực phẩm thường chứa nhiều muối, đường, chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa – những thành phần làm gia tăng nguy cơ béo phì, rối loạn chuyển hóa và bệnh tim mạch.
Người Việt hiện tiêu thụ trung bình khoảng 8,1g muối mỗi ngày, gần gấp đôi mức khuyến nghị. Lượng đường tự do cũng ở mức 46,5g/ngày – cao hơn đáng kể so với ngưỡng an toàn.
TS.BS Hoàng Thị Đức Ngàn, Trưởng khoa Dinh dưỡng Cộng đồng, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, cho hay việc ăn quá nhiều muối được xác định góp phần làm tăng huyết áp – yếu tố nguy cơ hàng đầu của đột quỵ và bệnh tim. Không chỉ vậy, muối còn gây tổn thương thận khi làm tăng áp lực lên các vi mạch, dẫn đến nguy cơ mắc bệnh thận mạn tính.
Các chuyên gia nhận định gốc rễ của vấn đề không chỉ ở thực phẩm mà còn do thói quen sinh hoạt thiếu lành mạnh: ăn nhanh, ăn mặn, uống nhiều nước ngọt, ít vận động và thiếu kiến thức dinh dưỡng. Giải pháp không nằm ở điều trị mà phải bắt đầu từ phòng ngừa. Người dân cần chủ động điều chỉnh chế độ ăn, tăng cường rau xanh, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt, đồng thời hạn chế muối, đường và thực phẩm chế biến sẵn. Việc đọc nhãn dinh dưỡng cũng là kỹ năng quan trọng giúp kiểm soát lượng calo và thành phần nạp vào cơ thể.
Bác sĩ Vũ Quang Huy, khoa Thận tiết niệu, Bệnh viện Nội tiết Trung ương khuyến nghị người dân cần duy trì tầm soát sức khỏe định kỳ, đặc biệt với người có bệnh mạn tính phải được theo dõi thường xuyên. Đồng thời, cần xây dựng lối sống khoa học, hạn chế các yếu tố nguy cơ như sử dụng chất kích thích, thuốc lá, rượu bia, ăn uống thiếu lành mạnh và ít vận động. Đây chính là bước đi căn bản, giúp phát hiện sớm nguy cơ và kiểm soát bệnh ngay từ giai đoạn đầu.
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh kêu gọi mỗi người dân hãy bắt đầu từ những việc nhỏ nhất, duy trì lối sống lành mạnh, rèn luyện thể chất hằng ngày, ăn uống khoa học và chủ động phòng bệnh. Bà cho biết Quốc hội đang ưu tiên hoàn thiện hệ thống pháp luật về y tế, đặc biệt trong lĩnh vực phòng bệnh và bảo hiểm y tế, hướng tới mục tiêu bảo đảm mọi người dân đều được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe một cách công bằng, hiệu quả.
Thạc sĩ - bác sĩ Phạm Ngọc Xuân Nhi, giảng viên Khoa Y học cổ truyền, Trường đại học Khoa học Sức khỏe, Đại học Quốc gia TP.HCM, chia sẻ cơ thể chúng ta đã tiêu hao một lượng lớn năng lượng nhằm duy trì các hoạt động bên trong cơ thể vận hành trong đêm xuyên suốt quá trình nghỉ ngơi, đồng thời thời gian cách bữa ăn tối từ 10 - 12 tiếng. Buổi sáng là thời điểm các hormon chính yếu bài tiết cao nhất giúp cho sự điều hòa và thực hiện các chức năng để phục vụ cho các hoạt động làm việc học tập cường độ cao trong ngày. Do đó, việc ăn sáng đủ và đúng lượng thức ăn cần thiết theo nhu cầu cơ thể sẽ hỗ trợ duy trì trạng thái tỉnh táo và tinh thần tập trung tốt hơn.
Ăn sáng no căng nghiên về yếu tố thể tích khối lượng nạp vào sẽ khác so với ăn sáng no đủ về chất mà vẫn cảm thấy nhẹ nhàng, đủ năng lượng không khiến cho cơ thể nặng nề, căng tức và còn hỗ trợ tốt hơn trong việc bảo vệ hệ tiêu hóa cũng như sức khỏe.
Mỗi bữa ăn kể cả trong bữa ăn sáng nên ngừng ăn khi cảm giác no vừa từ 70 - 80%, thay vì ăn đến no căng. Khi cơ thể tiếp nhận lượng lớn thức ăn khiến dạ dày quá "no" sẽ kích thích tăng cường bài tiết các hormon thúc đẩy việc làm trống dạ dày, tiêu hóa nhanh hơn có thể khiến cho cơ thể mau đói và dễ mất kiểm soát trong việc nạp thức ăn vào bữa tiếp theo.
"Tác hại của ăn sáng quá no gây ra bao gồm: đầy hơi, căng tức vùng bụng; việc tăng công suất tiêu hóa lượng lớn thức ăn làm cơ thể cảm thấy tăng thân nhiệt nhiều hơn; cơ thể dễ rơi vào tình trạng muốn nghỉ ngơi, thẫn thờ và kém tập trung…", bác sĩ Nhi nhấn mạnh.
Song song đó, cần chú ý cách ăn sáng đúng phù hợp như sau:
"Không nên ăn ngay khi vừa thức dậy vì hệ tiêu hóa cần thời gian thức tỉnh và phát tín hiệu cho cơ thể để thu nạp đủ năng lượng cần thiết", bác sĩ Nhi lưu ý.
Cân nhắc hạn chế ăn trái cây khi bụng đang rỗng đặc biệt đối với cá nhân có tình trạng liên quan các bệnh về dạ dày, tăng tiết axit dịch vị, trào ngược. Không ăn liên tục cùng một loại thực phẩm trong thời gian dài: việc ăn thường xuyên chỉ một loại thực phẩm sẽ dễ làm mất sự cân bằng dinh dưỡng và gây nhàm chán với món ăn đó.
Không ăn quà vặt thay bữa sáng. Các món ăn vặt sẽ không đảm bảo đủ năng lượng cung cấp cho các hoạt động của cơ thể, kèm theo đó, phần lớn các món ăn vặt sẽ có hàm lượng đường cao. Nên ăn chậm nhai kỹ.
"Để chuẩn bị bữa sáng nhanh nhẹ vừa đủ, chúng ta có thể kết hợp các nhóm thực phẩm tốt đảm bảo cung cấp năng lượng như đạm từ các loại sữa hạt, trứng, tinh bột như ngũ cốc, yến mạch, gạo lứt, khoai lang, vitamin khoáng chất từ các loại quả mọng, chuối, táo, hạt chia, chất béo lành mạnh từ bơ, phô mai…; đồ ăn hấp, chế biến ít dầu mỡ giúp no lâu, hạn chế đầy bụng, khó tiêu. Tùy nhu cầu, thể trạng, bệnh lý nền kèm theo mà mỗi cá nhân sẽ có chế độ ăn, khẩu phần và loại thực phẩm phù hợp", bác sĩ Nhi khuyến cáo.
Vụ việc một lần nữa làm dấy lên lo ngại về tình trạng thiếu hụt dịch vụ sản khoa tại các khu vực ngoài đô thị lớn ở Hàn Quốc, báo Korea Times ngày 9-4 đưa tin.
Theo Sở Cứu hỏa và Phòng chống thảm họa Daegu, cuộc gọi cấp cứu diễn ra vào lúc 2h ngày 25-3, khi thai phụ đang ở nhà bố mẹ chồng ở phía đông thành phố và bị đau bụng.
Các nhân viên y tế nhanh chóng có mặt và đề nghị Trung tâm Điều phối y tế khẩn cấp tìm bệnh viện tiếp nhận.
Tuy nhiên 16 khoa sản tại các bệnh viện trong khu vực đã từ chối bệnh nhân với nhiều lý do khác nhau, bao gồm hết giường, thiếu bác sĩ sản trực hoặc đội ngũ y tế đang xử lý các ca cấp cứu khác.
Trước tình hình đó, trung tâm điều phối buộc phải chuyển bệnh nhân đến một bệnh viện ở thành phố Asan, tỉnh Nam Chungcheong - nơi cô từng khám thai trước đó.
Quá trình vận chuyển bắt đầu lúc 3h14 và kéo dài khoảng hai giờ. Đến 5h14, thai phụ mới được tiếp nhận tại bệnh viện. Theo cơ quan chức năng, bệnh nhân khi đó vẫn trong tình trạng ổn định và chưa có dấu hiệu chuyển dạ ngay lập tức, song việc phải đi quãng đường dài trong tình huống khẩn cấp vẫn khiến dư luận Hàn Quốc lo ngại.
Sau khi điều trị, thai phụ trong tình trạng tốt và được xuất viện. Vụ việc này được xem là một phần của xu hướng đáng báo động tại Daegu, nơi ngày càng nhiều bệnh nhân phải chuyển viện đường dài do không có cơ sở y tế gần đó đủ khả năng tiếp nhận ca cấp cứu.
Số ca chuyển viện ngoài khu vực mất hơn hai giờ (tính từ lúc lực lượng cấp cứu đến hiện trường đến khi bệnh nhân tới bệnh viện) đã tăng từ bảy ca trong năm 2024 lên 13 ca trong năm ngoái.
Đáng chú ý, các trường hợp liên quan đến sản phụ khoa, nhi khoa và bệnh mạch máu não chiếm tỉ lệ lớn, phản ánh rõ tình trạng thiếu hụt dịch vụ y tế thiết yếu.
Trước đó, một sản phụ mang song thai bị chuyển dạ sớm tại Daegu ngày 28-2 đã bị bảy bệnh viện từ chối. Sau đó cô được mổ lấy thai sau bốn giờ tại một bệnh viện ở tỉnh khác. Vụ việc khiến một trong hai trẻ tử vong, em còn lại bị tổn thương não nghiêm trọng, gây phẫn nộ trong dư luận Hàn Quốc và làm dấy lên chỉ trích nhằm vào hệ thống y tế.
Trước thực trạng trên, ông Eom Jun Wook, Giám đốc Sở Cứu hỏa và Phòng chống thảm họa Daegu, cho biết sẽ tăng cường nhân lực chuyên môn cho Trung tâm Điều phối y tế khẩn cấp, đồng thời nâng cao năng lực của đội ngũ cấp cứu tại bệnh viện nhằm cải thiện khả năng xử lý các ca bệnh chuyên sâu.
"Bối cảnh già hóa dân số, đô thị hóa nhanh và thay đổi lối sống như hút thuốc, thừa cân béo phì, ít vận động được xem là những yếu tố góp phần làm tăng số ca mắc", PGS.TS.BS. Bùi Diệu, Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, nói tại Hội thảo khoa học về Ung thư (Oncology Summit) do AstraZeneca Việt Nam phối hợp Hội Ung Thư tổ chức, hôm 11/4.
Hiện, mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng 180.000 ca ung thư mới và hơn 120.000 ca tử vong do ung thư. Tỷ suất mắc - tử vong ở mức 150,8 và 99 trên 100.000 dân, phản ánh gánh nặng bệnh tật ngày càng gia tăng đối với hệ thống y tế cũng như toàn xã hội. Theo dự báo gánh nặng ung thư toàn cầu đăng trên tạp chí The Lancet, số ca ung thư tại Việt Nam có thể tăng 60-70% trong khoảng 25 năm tới.
Các loại ung thư phổ biến gồm vú, gan, phổi, đại trực tràng và dạ dày. Xu hướng trẻ hóa ở một số bệnh như ung thư vú và ung thư đại trực tràng, đặt ra thách thức mới về tầm soát sớm, chẩn đoán và điều trị.
Tỷ lệ tử vong do ung thư ở Việt Nam cao do bệnh thường được phát hiện ở giai đoạn muộn, dẫn đến hiệu quả điều trị hạn chế. Ngoài ra, những ung thư phổ biến nhất ở người Việt lại là loại có tiên lượng xấu như ung thư gan,phổi.
Dưới áp lực gánh nặng ung thư ngày càng gia tăng và xu hướng trẻ hóa bệnh nhân tại Việt Nam, PGS Diệu cho rằng ứng dụng các tiến bộ y học không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả điều trị.
"Thúc đẩy y học chính xác, với trọng tâm là cá thể hóa phác đồ điều trị, mở ra một kỷ nguyên chăm sóc y tế dựa trên bằng chứng và đặc điểm riêng của từng người bệnh", PGS Diệu nói. Chìa khóa cho kỷ nguyên này nằm ở việc triển khai các kỹ thuật chẩn đoán tiên tiến. Ví dụ, sinh thiết lỏng trong xét nghiệm sinh học phân tử, kết hợp hạ tầng dữ liệu số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chẩn đoán, theo dõi.
Tại hội nghị, TS.BS Jomtana Siripaibun, Giám đốc Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Chulabhorn (Thái Lan) cho hay thúc đẩy hội chẩn đa chuyên khoa (MDT) số hóa và sinh thiết lỏng là nền tảng cho cá thể hóa điều trị ung thư bằng y học chính xác. Các nghiên cứu quốc tế cho thấy bệnh nhân ung thư có thể cải thiện thời gian sống thêm hơn 15 tháng nếu áp dụng MDT vào chẩn đoán và điều trị so với không áp dụng.
Tuy nhiên, có nhiều nguyên nhân dẫn tới việc vận hành MDT chưa được thường quy, trong đó có thiếu hạ tầng số khiến dữ liệu bị phân tán. Giải pháp được các chuyên gia quốc tế chia sẻ nằm ở việc triển khai các nền tảng MDT số hóa, kết nối trực tiếp với hồ sơ bệnh án điện tử để theo dõi kết quả điều trị theo thời gian thực.
MDT là chiến lược sống còn trong điều trị ung thư, và chuyển đổi số là điều kiện bắt buộc để mô hình này vận hành bền vững. "Khi triển khai nền tảng MDT số hóa kết nối dữ liệu lâm sàng, chúng tôi ghi nhận quy trình chuẩn bị ca bệnh hiệu quả hơn và hồ sơ điều trị đầy đủ, nhất quán hơn", bà nói. Điều quan trọng là bắt đầu từ một nhóm bệnh ưu tiên và một quy trình hội chẩn chuẩn, theo dõi đầy đủ, để từng bước xây dựng năng lực hệ thống cho chăm sóc ung thư hiện đại.
Còn TS.BS Chien-Feng Li, Trưởng khoa Giải phẫu bệnh lâm sàng và Xét nghiệm Trung tâm Y tế Chi Mei, Giáo sư Trường Y khoa, Đại học Quốc gia Sun Yat-sen, Đài Loan, đánh giá những tiến bộ trong sinh thiết lỏng và trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo nên chuyển đổi mang tính bước ngoặt trong chẩn đoán và điều trị ung thư. Cách tiếp cận này giúp lựa chọn điều trị phù hợp hơn cho từng người bệnh và tối ưu hóa hiệu quả điều trị, chăm sóc.