Tại khu vực miền Nam, từ ngày 1 đến ngày 3.4, ông Cao Quang Quỳnh, Thành viên Hội đồng thành viên EVN, cùng lãnh đạo Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), lãnh đạo Trung tâm điều độ Hệ thống điện miền Nam (SSO) đã làm việc với UBND Tây Ninh, UBND TP.Cần Thơ và các sở ngành liên quan. Qua đó, ngành Điện và chính quyền địa phương đã quán triệt và thể hiện rõ tinh thần phối hợp chặt chẽ, cùng đồng hành để đảm bảo cung ứng điện trong cao điểm nắng nóng và cả năm 2026; đồng thời quyết tâm tháo gỡ khó khăn, vướng mắt để đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình lưới điện trên địa bàn.
Nhằm đảm bảo cung ứng điện trong mùa nắng nóng và cả năm 2026, bên cạnh các giải pháp quản lý, vận hành, các đơn vị Điện lực tại Tây Ninh và TP.Cần Thơ đặc biệt chú trọng đến công tác tiết kiệm điện, điều chỉnh phụ tải.
Theo đó, các đơn vị đã ký thỏa thuận tiết kiệm điện với các khách hàng lớn; phối hợp Sở Công thương, các cơ quan sở ngành và đoàn thể địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền tiết kiệm điện; theo dõi, đánh giá định kỳ kết quả thực hiện các chỉ tiêu tiết kiệm điện hằng tháng để kịp thời chấn chỉnh; triển khai hiệu quả công tác điều chỉnh phụ tải (DR), dịch chuyển phụ tải tự nguyện; làm việc với khách hàng để huy động máy phát điện diesel trong tình huống khẩn cấp của hệ thống điện…
Hiện, ngành Điện đã và đang chủ động triển khai các giải pháp, nỗ lực đảm bảo cung ứng đủ điện phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và đời sống nhân dân. Tuy nhiên, trước tình hình nắng nóng đến sớm ở cả ba miền, thậm chí gay gắt tại khu vực miền Nam, tình hình chiến sự Trung Đông và bất ổn chính trị trên thế thế giới làm đứt gãy chuỗi cung ứng, ảnh hưởng đến an ninh năng lượng.
Ông Bùi Quốc Hoan, Phó tổng giám đốc EVNSPC cho biết, để đảm bảo cung ứng điện trong năm 2026, đặc biệt trước mùa khô, EVN, EVNSPC rất cần sự phối hợp chặt chẽ, vào cuộc mạnh mẽ hơn nữa của chính quyền các địa phương và khách hàng sử dụng điện trong triển khai 4 giải pháp trọng tâm: Quyết liệt trong sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả; khuyến khích lắp đặt điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu, kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS);đẩy mạnh chương trình dịch chuyển phụ tải vào các giờ cao điểm; tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ các công trình điện trên địa bàn, nhất là các công trình trọng điểm, cấp bách tăng khả năng cấp điện cho các địa phương.
Theo ông Nguyễn Mạnh Tùng, Giám đốc SSO, thời gian qua, được sự chỉ đạo từ các cấp thẩm quyền, SSO đã phối hợp với EVNSPC, các Công ty Điện lực phía Nam xây dựng, tham mưu và được UBND các tỉnh phê duyệt, ban hành danh sách phụ tải cấp điện ưu tiên, phương án cấp điện trong tình huống mất cân đối cung cầu hệ thống… Đây là cơ sở quan trọng để SSO, EVNSPC vận hành hệ thống điện an toàn, ổn định trong thời gian tới.
Khẳng định EVN sẽ nỗ lực tối đa để đảm bảo cung ứng điện cho phát triển kinh tế xã hội, sinh hoạt của nhân dân của các địa phương trong năm 2026, ông Cao Quang Quỳnh, Thành viên Hội đồng thành viên EVN, mong tiếp tục nhận sự hỗ trợ, phối hợp chặt chẽ hơn nữa của lãnh đạo UBND, cơ quan, sở ngành các tỉnh, thành phố….
Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, đặc biệt yêu cầu tăng trưởng 2 con số, EVN, EVNSPC đã ưu tiên dành nguồn lực đầu tư phát triển lưới điện trên địa bàn tỉnh Tây Ninh và TP.Cần Thơ. Tuy nhiên, hiện còn rất nhiều công trình đang gặp rào cản trong công tác giải phóng mặt bằng và vướng mắc thủ tục đầu tư, ảnh hưởng đến tiến độ, trong đó có nhiều công trình trọng điểm, cấp bách đảm bảo điện cho địa phương. Do đó, ngành Điện rất cần sự vào cuộc quyết liệt hơn nữa của chính quyền các địa phương trong việc tháo gỡ những rào cản, vướng mắc nhằm đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình, nâng cao năng lực cung ứng điện.
Lãnh đạo EVN cũng kiến nghị chính quyền địa phương quan tâm, có chỉ đạo quyết liệt để người dân, doanh nghiệp, cũng như các cơ quan, ban ngành tại các tỉnh, thành phố thực hiện nghiêm Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 30/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà. Mục tiêu đặt ra là tiết kiệm 3% tổng sản lượng điện tiêu thụ, riêng các tháng cao điểm (tháng 4,5,6) phải phấn đấu đạt trên 10%; trong đó, nhóm cơ quan công sở yêu cầu phải tiết kiệm tối thiểu 5% so với cùng kỳ; nhóm chiếu sáng công cộng tiết kiệm tối thiểu 30% so với cùng kỳ; và nhóm thương mại dịch vụ tiết kiệm tối thiểu 50% phần chiếu sáng quảng cáo…
Là một trong những tỉnh có tăng trưởng phụ tải điện cao của khu vực phía Nam, trong đó thành phần công nghiệp – xây dựng chiếm tỉ trọng tới 71,63% điện thương phẩm, ông Nguyễn Hồng Thanh, Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Tây Ninh, đánh giá cao tinh thần chủ động, tích cực của EVN và các đơn vị trực thuộc trong việc chuẩn bị kỹ lượng, bài bản các phương án đảm bảo điện cho địa phương.
Phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc với EVN, ông Nguyễn Hồng Thanh yêu cầu cơ quan, sở ban ngành của tỉnh xây dựng kế hoạch thực hiện đồng bộ, phân định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đầu mối, từ đó sớm thống nhất, triển khai văn bản phối hợp giữa ngành Điện và địa phương làm căn cứ kiểm tra, giám sát trong quá trình triển khai. Đặc biệt, cần bám sát chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, thực hiện nghiêm yêu cầu “năm rõ, sáu rõ” trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
Đánh giá cao sự chủ động của EVN, EVNSPC và các đơn vị liên quan trong việc triển khai các giải pháp đảm bảo điện năm 2026, cũng như mùa khô sắp tới, ông Vương Quốc Nam, Phó chủ tịch UBND TP.Cần Thơ cho biết, thành phố đặt quyết tâm tăng trưởng 2 con số, kéo theo nhu cầu điện sẽ tăng trưởng mạnh. Để đảm bảo cung ứng đủ điện phục vụ phát triển kinh tế xã hội, chính quyền thành phố cam kết đồng hành cùng ngành Điện trong việc tháo gỡ những rào cản, vướng mắc, đặc biệt là công tác giải phóng mặt bằng các công trình điện trên địa bàn.
Lãnh đạo TP.Cần Thơ yêu cầu Sở Công thương, các cơ quan, Sở ngành liên quan trên địa bàn và Công ty Điện lực TP.Cần Thơ phối hợp chặt chẽ, trách nhiệm nhằm đẩy mạnh thực hiện sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong năm 2026.
Liên danh nhà đầu tư gồm Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước TP.HCM (HFIC), Công ty CP Cơ điện lạnh ( REE Group) và VinaCapital Group vừa đề xuất rót 1,15 tỉ USD xây dựng tòa tháp tài chính 99 tầng (IFC-99F HCMC) tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm. Dự án được kỳ vọng trở thành biểu tượng của Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC-HCMC).
Cụ thể, theo đề xuất gửi UBND TP.HCM và Cơ quan điều hành Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.HCM, Liên danh sẽ thành lập một công ty cổ phần với 3 cổ đông để phát triển, vận hành và khai thác dự án. Diện tích đất xây dựng dự kiến tòa nhà biểu tượng 99 tầng là 10.000 m2, bao gồm 5 tầng hầm (50.000 m2 sàn) và 99 tầng nổi với tổng diện tích sàn xây dựng 350.000 m2. Tổng vốn đầu tư dự kiến khoảng 1,15 tỉ USD, trong đó vốn chủ sở hữu chiếm 20% (tương đương 230 triệu USD), phần còn lại huy động từ nguồn vay và khách hàng.
Trong cơ cấu góp vốn, REE Group chiếm tỷ lệ lớn nhất với 43% (gần 99 triệu USD), tiếp đến là VinaCapital với 24% (hơn 55 triệu USD) và HFIC dự kiến góp 33% vốn, tương đương 75,9 triệu USD thông qua quyền sử dụng đất, có thể quy đổi thành diện tích sàn văn phòng nếu vượt giá trị cam kết. Liên danh này cũng kiến nghị thành phố ngoài chức năng chính văn phòng, cho phép cơ cấu diện tích dành cho căn hộ chức năng ở và khách sạn cao cấp. Đây là yếu tố tạo sự sinh động 24/7 cho khu lõi tài chính. Đồng thời kiến nghị được phân kỳ nộp tiền sử dụng đất trong 3 năm; áp dụng mức giá đất tương đương dự án Lotte Thủ Thiêm (ước tính 350 triệu đồng/m2) nhằm bù đắp suất đầu tư cực lớn của tòa nhà biểu tượng và duy trì lợi thế cạnh tranh quốc tế...
Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.HCM đã chính thức ra mắt từ ngày 11.2. Khi đó, các thành viên sáng lập đã được trao chứng nhận gồm Tập đoàn Sovico; Ngân hàng TMCP Quân đội (MB); Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank); Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB); Công ty CP Sơn Kim Capital; Tập đoàn VinaCapital và Nasdaq. Bên cạnh đó là các thành viên chiến lược gồm Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam Á Bank), Công ty đầu tư tài chính Nhà nước TP.HCM, Đại học Kinh tế TPHCM, Liên minh kinh tế On-chain economy, Tập đoàn Gemadept và Tikok.
Ngày 7.4, Chủ tịch HĐTV EVN Đặng Hoàng An chủ trì cuộc họp với các Chủ tịch, Tổng giám đốc công ty điện lực, lãnh đạo Ban Quản lý dự án Điện 1 bàn giải pháp triển khai BESS trên lưới điện.
Theo ông Đặng Huy Cường, Thành viên HĐTV EVN, đến năm 2025, tổng công suất BESS được đầu tư trên toàn cầu khoảng 300.000 MW, cho thấy BESS đang trở thành xu thế tất yếu trong quá trình chuyển dịch năng lượng.
Tại Việt Nam, khi tỷ trọng năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn điện ngày càng cao, BESS sẽ phát huy hiệu quả rõ ràng trong việc nâng cao tính ổn định của hệ thống điện. BESS góp phần phủ đỉnh phụ tải, qua đó có thể giảm hoặc thay thế một phần nhu cầu đầu tư vào các nguồn điện chạy đỉnh truyền thống và có thể hỗ trợ cung cấp điện, giảm nguy cơ quá tải trong các giai đoạn cao điểm...
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Công thương tại Thông báo kết luận số 198/TB-BCT ngày 8.8.2025, để đáp ứng nhu cầu phụ tải đỉnh, đảm bảo khả năng cung ứng điện năm 2026 và các năm tiếp theo, EVN giao các Tổng công ty, đơn vị chủ động đầu tư lắp đặt BESS trên lưới điện.
Bà Đỗ Nguyệt Ánh, Chủ tịch HĐTV Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC), cho biết qua rà soát, khảo sát, các trạm biến áp 110 kV có khả năng triển khai BESS với tổng công suất có thể lắp đặt khoảng 530 MW, với thời gian lưu trữ 2 giờ, tương đương 1.060 MWh.
EVNNPC đã trao đổi, phối hợp với Công ty Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO), trong giai đoạn 1 đầu tư BESS với tổng công suất 305 MW, dự kiến hoàn thành cuối tháng 6 và tiếp tục triển khai những năm tới.
EVN giao Tổng công ty Điện lực TP.Hà Nội (EVNHANOI) phát triển BESS với tổng công suất 275 MW. EVNHANOI đang thí điểm triển khai BESS với công suất 50 MW tại 5 trạm biến áp.
Ông Nguyễn Phước Đức, Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), cho biết đơn vị đang làm việc với các doanh nghiệp để nghiên cứu, triển khai BESS tại đảo Phú Quý. Trên lưới truyền tải điện, Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia dự kiến đến tháng 1.2027 sẽ hoàn tất lắp đặt 100 MW BESS đầu tiên tại các trạm biến áp. Ban Quản lý dự án Điện 1 (EVNPMB1) được EVN giao nghiên cứu đầu tư BESS với tổng quy mô từ 300 - 500 MW, đến nay đã khảo sát và bước đầu xác định 4 vị trí tiềm năng tại miền Bắc.
Trong Quy hoạch điện 8 điều chỉnh, pin lưu trữ năng lượng đến năm 2030 đạt từ 10.000 - 16.300 MW. Theo EVN, triển khai các dự án BESS vẫn đang đối mặt với một số khó khăn, cần sớm được tháo gỡ từ quy hoạch, loại hình đầu tư, đến lựa chọn vị trí lắp đặt, hệ thống tiêu chuẩn - quy chuẩn áp dụng… Ngoài ra, vấn đề an toàn cháy nổ trong lắp đặt, vận hành BESS đặt ra yêu cầu đặc biệt nghiêm ngặt.
Chủ tịch HĐTV EVN Đặng Hoàng An nhấn mạnh, phát triển BESS được xác định là một trong những giải pháp quan trọng trong quá trình vận hành và phát triển hệ thống điện. Có ưu điểm nổi bật với thời gian triển khai lắp đặt nhanh, dù chi phí đầu tư hiện vẫn ở mức tương đối cao nhưng khi đặt trong tương quan tổng thể với các nguồn điện truyền thống, BESS không hẳn kém lợi thế, đặc biệt nếu xét đến các giá trị về tính linh hoạt và hiệu quả vận hành hệ thống.
Chủ tịch HĐTV EVN yêu cầu các đơn vị cần nhìn nhận BESS trong tổng thể nhiều vai trò và chức năng, không chỉ giới hạn ở 2 mục tiêu là phủ đỉnh phụ tải và giảm quá tải hệ thống điện; và cần xây dựng lộ trình phát triển BESS bài bản, đồng bộ, bảo đảm hiệu quả đầu tư.
EVN sẽ cùng Viện Năng lượng và NSMO kiến nghị Bộ Công thương xem xét, tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, chính sách để tạo điều kiện triển khai BESS trên diện rộng.
Theo Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong giai đoạn 2026 - 2030 cần khoảng 38,5 triệu tỉ đồng. Trong đó, vốn nhà nước là 8,51 triệu tỉ đồng, phần còn lại sẽ phải huy động từ khu vực tư nhân và nước ngoài.
Phát biểu tại hội thảo "40 năm đổi mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế" chiều 13.4, tại Hà Nội, bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước), cho biết, tín dụng ngân hàng hiện vẫn đang đóng vai trò rất quan trọng trong hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Đến cuối năm 2024, tổng tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 18,17 triệu tỉ đồng, tăng 19,07% so với năm 2023. Trong đó, tín dụng cho doanh nghiệp chiếm khoảng 48%; tín dụng cho cá nhân, hộ gia đình và hộ kinh doanh chiếm khoảng 46%.
"Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng tín dụng hiện đang cao hơn tốc độ huy động vốn, qua đó tiềm ẩn rủi ro thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Cuối năm 2024, tín dụng tăng 19,07%, trong khi huy động vốn chỉ tăng khoảng 14,5%. Đến cuối tháng 3 năm nay, tín dụng tăng khoảng 2,45%, nhưng huy động mới chỉ tăng khoảng 0,31%.
Ngành ngân hàng cam kết sẽ tiếp tục đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế, song nếu nền kinh tế phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng, mô hình tăng trưởng sẽ thiếu bền vững", bà Tùng lưu ý.
Theo bà Tùng, thời gian qua, dù có nhiều giải pháp nhằm nâng hạng thị trường vốn, quy mô thị trường vẫn hạn chế. Cần phát triển thêm các nguồn vốn khác như quỹ đầu tư, để hỗ trợ doanh nghiệp theo những mô hình linh hoạt hơn.
Để đáp ứng nhu cầu vốn rất lớn cho giai đoạn tăng trưởng mới, bà Nguyễn Thúy Hạnh, Tổng giám đốc Standard Chartered Việt Nam, cho rằng, Việt Nam cần nhìn bài toán nguồn lực theo 2 cấu phần chính: vốn chủ sở hữu và vốn nợ.
Với vốn chủ sở hữu, cần đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước, đồng thời thúc đẩy tái cấu trúc doanh nghiệp gắn với thị trường chứng khoán để tạo thêm hàng hóa chất lượng cho thị trường.
Song song, Việt Nam cần thu hút mạnh hơn FDI, hướng tới các nhà đầu tư lớn, dài hạn. Việc thị trường chứng khoán tiến gần mục tiêu nâng hạng cũng sẽ mở thêm dư địa cho dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế.
"Một nguồn lực quan trọng khác là vốn trong dân cư, kể cả các tài sản đang nằm trong vàng. Nếu khơi thông tốt nguồn lực này, khu vực kinh tế tư nhân sẽ có thêm dư địa phát triển rất lớn", bà Hạnh nói.
Khá lưu tâm khía cạnh Chính phủ dẫn dắt việc thành lập các quỹ đầu tư quốc gia, ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch HĐQT FiinGroup, phân tích, hiện Việt Nam đã có đề án thành lập quỹ nhà ở quốc gia.
Sẽ rất tốt cho giải bài toán vốn nếu Chính phủ có thể nghiên cứu và xem xét mô hình như: quỹ đầu tư hạ tầng nhằm giải bài toán vốn dài hạn cho các nhóm dự án hạ tầng; quỹ tăng trưởng quốc gia nhằm hỗ trợ trực tiếp cho mục tiêu huy động vốn cho tăng trưởng kinh tế cao như một số nước đã làm...
Nhấn mạnh hiện vấn đề lớn khi các dự án tiếp cận vốn ngoài ngân hàng là tính hấp dẫn còn thấp, theo vị này, phải nhanh chóng cải thiện điều này. Kinh nghiệm quốc tế là không nên làm dự án riêng lẻ mà gộp danh mục dự án.
"Về cải cách thị trường vốn, hiện Bộ Tài chính đã có đề án tái cơ cấu nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Hiệu quả triển khai sẽ cao hơn nếu như phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp vào chiều sâu, để nhiều doanh nghiệp ngoài ngân hàng tham gia hơn...", ông Thuân nói.