Mục Lục
ToggleKỳ nghỉ lễ dài ngày hay như mùa hè là thời điểm mà nhiều gia đình thường tổ chức các đợt đi du lịch xa nhà. Bên cạnh việc đóng gói hành lý và kiểm tra danh sách thiết bị cần thiết, mọi người cũng không nên bỏ qua nhiệm vụ không kém quan trọng: xem xét những thiết bị nào đang cắm điện tại nhà.
Việc rút phích cắm một số thiết bị trước khi rời đi không chỉ giúp tiết kiệm điện mà còn đảm bảo an toàn cho ngôi nhà của mình. Trong số này, có nhóm thiết bị không an toàn khi cắm điện liên tục và nhóm thiết bị tiêu thụ điện không cần thiết.
Một trong những lý do quan trọng nhất để rút phích cắm thiết bị là nguy cơ quá nhiệt hoặc cháy nổ, chẳng hạn các thiết bị nhà bếp như nồi chiên không dầu và lò nướng bánh mì tiềm ẩn rủi ro, không chỉ vì tiêu thụ điện năng lớn mà còn do dễ tích tụ bụi bẩn, có thể dẫn đến cháy nổ.
Mặc dù máy điều hòa không dễ gây cháy nổ, nhưng sự tăng giảm điện áp đột ngột có thể khiến máy quá tải và gây hư hỏng. Để đảm bảo an toàn, người dùng có thể sử dụng các thiết bị thông minh để điều khiển máy điều hòa từ xa, nhưng cần phải vận hành chúng một cách an toàn.
Ngoài vấn đề an toàn, một số thiết bị điện tử cũng nên được rút phích cắm trước khi rời khỏi nhà để tiết kiệm điện. Ví dụ, máy tính để bàn nếu để ở chế độ chờ có thể gặp sự cố nếu xảy ra mất điện, dẫn đến hư hỏng linh kiện. Các thiết bị có pin sạc lớn, như pin lithium-ion, cũng cần được rút phích cắm để tránh quá nhiệt và giảm hiệu suất theo thời gian.
Cuối cùng, tivi và các thiết bị giải trí khác cũng nên được rút phích cắm. Mặc dù tiêu thụ điện năng ở chế độ chờ không cao, nhưng vẫn có nguy cơ hư hỏng nếu xảy ra hiện tượng tăng điện áp.
Việc rút phích cắm các thiết bị này không chỉ giúp tiết kiệm điện mà còn bảo vệ an toàn cho ngôi nhà của mọi người trong thời gian vắng mặt. Hãy nhớ kiểm tra kỹ lưỡng trước khi rời đi để có một kỳ nghỉ thật thoải mái và an toàn.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/cac-thiet-bi-nen-rut-dien-truoc-khi-roi-nha-di-du-lich-185260405143425887.htm

Sau cuộc chạy đua không gian những năm 1960 và 1970, hoạt động thám hiểm Mặt Trăng của nhân loại chững lại. Nhưng sự quan tâm toàn cầu được khơi dậy khoảng 10 năm trước với hàng loạt sự kiện.
Năm 2017, Tổng thống Mỹ Donald Trump chỉ đạo NASA khởi động chương trình Artemis để đưa con người quay lại Mặt Trăng. Năm 2019, tàu Hằng Nga 4 của Trung Quốc hạ cánh thành công xuống phía xa Mặt Trăng (mặt luôn khuất khi nhìn từ Trái Đất), đánh dấu lần đầu tiên có tàu đáp xuống phía này trong lịch sử nhân loại. Song song, các nỗ lực du hành vũ trụ tư nhân từ công ty như Blue Origin của Jeff Bezos hay SpaceX của Elon Musk phát triển mạnh.
Ngày 1/4, thế giới tiếp tục dồn sự chú ý cho Mặt Trăng khi NASA phóng thành công tàu Orion chở phi hành đoàn Artemis II, đưa con người trở lại thiên thể này, bước đầu chỉ bay vòng thay vì hạ cánh. Điều này khiến nhiều người đặt câu hỏi vì sao sau nửa thế kỷ, Mỹ mới triển khai sứ mệnh Mặt Trăng dù công nghệ đã tiến bộ vượt bậc kể từ Apollo 17, chuyến tàu chở người đổ bộ Mặt Trăng cuối cùng năm 1972 trong chương trình Apollo của NASA.
Mỹ chuyển trọng tâm khám phá không gian
Chương trình Apollo là kết quả của cuộc đua không gian thời Chiến tranh Lạnh mà Mỹ tin việc giành thắng lợi trước đối thủ Liên Xô sẽ có ý nghĩa chiến lược quan trọng.
Cuộc đua bắt đầu năm 1957 với ba "khoảnh khắc thất bại" của Mỹ. Đầu tiên là việc Liên Xô bất ngờ phóng Sputnik 1, vệ tinh nhân tạo đầu tiên trên thế giới, ngày 4/10/1957. Một tháng sau, Sputnik 2 đưa động vật đầu tiên lên vũ trụ - con chó mang tên Laika. Tháng 12 cùng năm, Mỹ cố gắng phóng vệ tinh đầu tiên Vanguard Test Vehicle 3, nhưng tên lửa chở vệ tinh phát nổ ngay trên sóng truyền hình trực tiếp, làm dấy lên lo ngại rằng Mỹ đã tụt hậu đáng kể so với đối thủ.
Liên Xô đã thắng những vòng đầu của cuộc đua không gian. Nước này thậm chí đưa người lên vũ trụ trước với phi hành gia Yuri Gagarin vào tháng 4/1961. Tuy nhiên, đặt chân lên Mặt Trăng mới là đích đến cuối cùng.
Tầm quan trọng của mục tiêu được phản ánh trong ngân sách dành cho NASA. Vào thời kỳ đỉnh cao của chương trình Apollo, khoản này chiếm 4,4% tổng ngân sách liên bang. Ngày nay, con số chỉ còn chưa đến 0,4%.
Cuối cùng, Mỹ chiến thắng cuộc đua khi Neil Armstrong và Buzz Aldrin hạ cánh xuống Mặt Trăng bằng tàu Apollo 11 tháng 7/1969. Sau đó, thêm 5 chuyến đổ bộ thành công nữa tiếp nối, khẳng định vị thế cường quốc vũ trụ của Mỹ.
Tuy nhiên, nước này được cho là không còn động lực quay lại sau loạt thành tựu tốn kém. "Nhiều người nghĩ kiểu 'Chúng ta đã làm những gì tổng thống John F. Kennedy muốn. Chúng ta đánh bại Liên Xô và vẫn là cường quốc công nghệ của thế giới. Vậy sao còn cần quay lại?'", Ed Stewart, quản lý bảo tàng tại Trung tâm Không gian và Tên lửa Mỹ, nói với Space.
Ngay trước chuyến bay của Apollo 17 vào tháng 12/1972, Quốc hội Mỹ cắt giảm ngân sách của NASA, hủy bỏ các nhiệm vụ tiếp theo và chuyển trọng tâm sang tàu con thoi. Tổng thống Richard Nixon, nhậm chức vào tháng 1/1969, cũng ủng hộ một chương trình không gian tiết kiệm hơn và muốn phát triển tàu con thoi. Sau đó, Mỹ tập trung vào quỹ đạo Trái Đất tầm thấp và xây dựng trạm vũ trụ thay vì trở lại Mặt Trăng.
Ngày nay, để bù đắp cho kinh phí hạn chế, NASA tăng cường hợp tác với công ty tư nhân để chế tạo những bộ phận quan trọng cho các nhiệm vụ Mặt Trăng, dù cách tiếp cận này có thể gặp khó khăn trong giai đoạn đầu.
Thách thức kỹ thuật
Sứ mệnh lên Mặt Trăng cũng gặp phải thách thức về kỹ thuật. Vệ tinh tự nhiên này cách Trái Đất khoảng 400.000 km, và thực tế có hơn một nửa nỗ lực đổ bộ Mặt Trăng kết thúc thất bại. Khi bay qua môi trường chân không, tàu vũ trụ phải đối phó với biến động nhiệt độ, phụ thuộc bộ phận nào quay về phía Mặt Trời. Chúng cũng thường tiếp xúc với tia vũ trụ, những hạt bức xạ truyền từ Mặt Trời hoặc không gian sâu, có thể dễ dàng nung nóng thiết bị điện tử không được bảo vệ tốt.
Mặt Trăng có bề rộng bằng khoảng 1/4 Trái Đất với lực hấp dẫn yếu hơn nhiều nên rất khó tiến vào quỹ đạo. Địa hình gồ ghề, miệng hố lỗ chỗ và những yếu tố khác khiến lực hấp dẫn không đồng nhất. "Khi bay quanh Mặt Trăng, cuối cùng tàu vũ trụ sẽ đâm xuống bề mặt do lực hấp dẫn không đều làm rối quỹ đạo. Vì vậy, bạn cần định vị để biết chính xác mình đang ở đâu và điều chỉnh theo thời gian thực", Phillip Metzger, nhà khoa học hành tinh ở Đại học Central Florida, giải thích trên Bloomberg.
Khác với Trái Đất có khí quyển giúp giảm tốc cho tàu vũ trụ lao trở về, Mặt Trăng hầu như không có khí quyển. Để hạ cánh, mọi tàu đều phải sử dụng một dạng động cơ nào đó để giảm tốc. Tàu cần đốt động cơ chuẩn xác để gần như dừng lại ngay phía trên bề mặt, nếu không sẽ đâm thẳng xuống dưới. Tất cả quá trình trên đòi hỏi nắm rõ địa điểm mà tàu sắp hạ cánh.
People đánh giá, trải qua hàng thập kỷ, phần lớn công nghệ trong chương trình Apollo đã lỗi thời. Theo John Thornton, CEO công ty Astrobotic Technology (Mỹ), nhiều chuyên gia từng xây dựng và vận hành hệ thống thời Apollo không còn làm việc trong lĩnh vực này, dẫn đến mất đi rất nhiều kiến thức.
"Toàn bộ thế hệ đó đã rời khỏi ngành. Chúng ta đang học lại cách làm, nhưng với công nghệ mới và khác biệt", ông nói với Live Science.
Nhiều thách thức kỹ thuật trong kỷ nguyên mới cũng làm trì hoãn việc quay lại Mặt Trăng, như phát triển bộ đồ du hành vũ trụ, giải quyết vấn đề với tấm chắn nhiệt của tàu và xây dựng hệ thống hạ cánh mới. Khi khởi động lại kế hoạch và bắt tay vào nghiên cứu, các công nghệ mới cũng cần nhiều năm để phát triển và thử nghiệm trước khi được chứng nhận đảm bảo an toàn và đủ điều kiện bay.
Cuộc đua Mặt Trăng thời hiện đại
Một điểm giống với Apollo là Artemis cũng có đối thủ theo sát. Thay vì cạnh tranh với chương trình của Liên Xô vài chục năm trước, Artemis cạnh tranh với chương trình Mặt Trăng của Trung Quốc. Nước này có tàu hạ cánh thành công ở phía xa và là quốc gia duy nhất đạt được thành tựu đó, đồng thời đang nỗ lực đưa phi hành gia đáp xuống gần cực nam Mặt Trăng khoảng năm 2030.
Nhưng khác với Apollo, Artemis không chỉ hướng đến "cắm cờ và để lại dấu chân" với những chuyến ghé thăm và nghiên cứu ngắn hạn 1-3 ngày mà muốn thiết lập sự hiện diện lâu dài của con người, đồng thời tạo bước đệm cho việc khám phá Sao Hỏa.
Nhiệm vụ đầu tiên, chuyến bay không người lái Artemis I, được tiến hành tháng 11/2022, sau hàng loạt đợt hoãn và hủy phóng. Nhiệm vụ tiếp theo, Artemis II, đang diễn ra suôn sẻ, dự kiến trở về và hạ cánh ngoài khơi San Diego lúc 20h07 ngày 10/4 (7h07 ngày 11/4 giờ Hà Nội).
Nếu không có vấn đề lớn nào phát sinh trong Artemis II, NASA sẽ thử nghiệm tàu Orion và các trạm đổ bộ Mặt Trăng trên quỹ đạo Trái Đất trong nhiệm vụ Artemis III năm 2027. Cơ quan này đặt mục tiêu thực hiện chuyến đổ bộ của con người lên Mặt Trăng vào năm 2028 với nhiệm vụ Artemis IV. Đến thập niên 2030, họ kỳ vọng bắt đầu phát triển khu định cư, robot tự hành và trạm chở hàng, hướng đến thiết lập sự hiện diện bền vững trên bề mặt thiên thể này.
Jared Isaacman, Giám đốc NASA, cho biết: "NASA cam kết một lần nữa làm được điều gần như bất khả thi, đó là quay lại Mặt Trăng trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống Trump kết thúc, xây dựng căn cứ trên Mặt Trăng, thiết lập sự hiện diện lâu dài và thực hiện những việc cần thiết khác nhằm đảm bảo vị trí dẫn đầu của Mỹ trong lĩnh vực không gian".
Thu Thảo tổng hợp
Tin Gốc: https://vnexpress.net/tai-sao-sau-54-nam-my-moi-quay-lai-mat-trang-5059699.html
Khoa Học Công Nghệ
Thị trường mã hóa tài sản chục tỉ USD đi kèm nhiều thách thức

Theo dự báo từ Boston Consulting Group (BCG), thị trường mã hóa tài sản thực toàn cầu có thể đạt mốc 19.000 tỉ USD vào năm 2033. Việt Nam được đánh giá là thị trường mã hóa tài sản thực (RWA - Real World Asset) có dư địa tăng trưởng lớn với tiềm năng kỳ vọng đạt 70 - 80 tỉ USD vào năm 2030.
Trong bối cảnh Việt Nam đang chuẩn bị triển khai thí điểm các sàn giao dịch tài sản mã hóa, trung tướng Đặng Vũ Sơn - nguyên Trưởng ban, Ban Cơ yếu Chính phủ, cố vấn cấp cao Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam (VBA) nhận định, cơ hội lớn nhất của Việt Nam không chỉ là đi nhanh mà phải đi đúng ngay từ đầu. Cách tiếp cận bài bản về thể chế, tiêu chuẩn và quản trị sẽ quyết định khả năng tham gia sâu vào cấu trúc tài chính số mới.
Dù mang lại triển vọng, lĩnh vực này vẫn tiềm ẩn sự phức tạp cao. Ông Nghiêm Minh Hoàng, Trưởng ban RWA (thuộc Câu lạc bộ Đầu tư Tài sản số Việt Nam - VIDA) chỉ ra rằng các sản phẩm RWA phải đối mặt với 12 rủi ro chính, được phân thành 3 nhóm: rủi ro tài sản cơ sở, rủi ro cấu trúc tài chính và rủi ro công nghệ. Cụ thể, rủi ro tài sản cơ sở khi nhà đầu tư không nắm quyền sở hữu pháp lý trực tiếp, phụ thuộc vào bên lưu ký và khó thu hồi tài sản nếu đơn vị phát hành gặp sự cố.
Thứ hai, rủi ro cấu trúc tài chính như khoảng trống bảo chứng, bất cân xứng lợi ích và nguy cơ phát hành token vượt quá tài sản thực. Cuối cùng, rủi ro công nghệ và thị trường bao gồm thanh khoản không thực, hạn chế quy đổi, lỗi hệ thống và khung pháp lý chưa hoàn thiện. Đáng chú ý, việc đánh giá quá cao vai trò của blockchain dễ dẫn tới định giá sai về công nghệ, khi hệ thống chỉ đảm bảo dữ liệu, không xác minh tài sản ngoài chuỗi.
Dưới góc độ kỹ thuật, TS Đỗ Văn Thuật, Giám đốc Giải pháp và Kiến trúc Blockchain tại công ty 1Matrix, nhấn mạnh thách thức trọng tâm là đảm bảo tính xác thực giữa tài sản thực vật lý và dữ liệu trên chuỗi. Điều này đòi hỏi sự tích hợp giữa các cổng dữ liệu thực (oracle) đáng tin cậy, quy trình kiểm toán độc lập và khả năng đồng bộ giá theo thời gian thực.
Còn theo ông Lương Duy Phước, Giám đốc phân tích Công ty Chứng khoán Kafi, yếu tố quyết định sự thành bại không nằm ở công nghệ mà ở năng lực quản trị rủi ro. Đối với các nhà đầu tư, rủi ro lớn nhất là chưa hiểu đúng bản chất cấu trúc của sản phẩm. Do đó, thị trường đòi hỏi sự minh bạch tuyệt đối về quyền tài sản, cơ chế bảo chứng và khả năng thanh khoản thực tế nhằm duy trì niềm tin và bảo vệ người tham gia trước những biến động phức tạp của tài sản kỹ thuật số.

Đáng chú ý, khác với các giai đoạn sàng lọc công nghệ thông thường, dòng tiền lần này không đổ dồn về một vài "kẻ thắng cuộc". Vốn đầu tư đang tỏa ra khắp hệ sinh thái, nâng đỡ cả những cách tiếp cận lượng tử mới mẻ vẫn còn ở giai đoạn đầu chu kỳ phát triển.
Ngày 17-2, công ty nghiên cứu vi tính lượng tử Infleqtion (Mỹ) chính thức giao dịch trên sàn chứng khoán New York thông qua một thương vụ mua lại với mục đích đặc biệt (SPAC) trị giá khoảng 1,8 tỉ USD, huy động thêm hơn 540 triệu USD. Một tháng sau, Horizon Quantum (Singapore) lên sàn Nasdaq qua thương vụ SPAC tương tự, thu về khoảng 120 triệu USD.
Đến cuối tháng 3, đến lượt Xanadu Quantum Technologies (Canada) - công ty từng công bố thương vụ SPAC trị giá 3,6 tỉ USD hồi tháng 11-2025 - chính thức giao dịch trên sàn Nasdaq.
Theo Reuters, cùng thời điểm, IQM Quantum Computers (Phần Lan) công bố nhận khoản tài trợ vốn 50 triệu euro (57,6 triệu USD) từ các quỹ do Tập đoàn BlackRock quản lý, ngay trước thềm thương vụ niêm yết kép tại Mỹ và Helsinki với định giá khởi điểm 1,8 tỉ USD.
Làn sóng đầu tư trên cho thấy khi cơn sốt trí tuệ nhân tạo (AI) còn chưa hết nóng, giới đầu tư đã bắt đầu tìm đến những công nghệ "tương lai" hơn nữa.
Ông Velu Sinha - chuyên gia tại công ty tư vấn Bain & Company (Mỹ) - nhận định với CNBC ngày 30-3: "Câu chuyện đã chuyển từ một dự án khoa học sang vấn đề thương mại, và các công ty đang tận dụng đúng cửa sổ thời cơ này".
Theo ước tính của Bain, quy mô thị trường máy tính lượng tử khi trưởng thành hoàn toàn có thể đạt 100 - 250 tỉ USD - đủ lớn để thuyết phục dòng vốn "kiên nhẫn" bỏ qua những biến động ngắn hạn.
Cơn sốt trên thị trường vốn không phải vô cớ. Trong 18 tháng qua, công nghệ máy tính lượng tử đã chứng kiến hàng loạt đột phá kỹ thuật, đặc biệt ở mảng sửa lỗi lượng tử - rào cản vốn được xem là gai góc nhất của ngành.
Tháng 4-2024, Microsoft và Quantinuum (Mỹ) công bố chạy thành công hơn 14.000 thí nghiệm liên tiếp không lỗi, tạo ra 4 qubit logic đáng tin cậy từ chỉ 30 qubit vật lý. Thành tựu này được giới chuyên môn mô tả là "những qubit logic đáng tin cậy nhất từng được ghi nhận". Ông Ilyas Khan, Giám đốc sản phẩm Quantinuum, khẳng định kỹ thuật này "đã rút ngắn lộ trình ít nhất hai năm".
Cuối năm 2024, chip Willow của Google trở thành hệ thống đầu tiên chứng minh nguyên lý "sửa lỗi dưới ngưỡng": càng tăng số qubit vật lý thì tỉ lệ lỗi của qubit logic càng giảm thay vì tăng lên như trước. Đến tháng 11-2025, IBM công bố chip Loon, khẳng định thiết kế này đã vạch ra con đường để có máy tính lượng tử đưa vào thực tiễn vào năm 2029.
Những tiến bộ kỹ thuật đó đang bắt đầu thẩm thấu vào ứng dụng thực tế. Tháng 9-2025, Ngân hàng HSBC công bố kết quả thử nghiệm dùng máy tính lượng tử IBM Heron để dự đoán xác suất khớp lệnh trong giao dịch trái phiếu doanh nghiệp châu Âu. Kết quả cho thấy cho độ chính xác cải thiện đến 34% so với phương pháp cổ điển.
Trong lĩnh vực y dược, theo phân tích của McKinsey, máy tính lượng tử có thể mô phỏng cấu trúc phân tử ở cấp độ mà siêu máy tính cổ điển chỉ có thể tính gần đúng, hứa hẹn rút ngắn quy trình sàng lọc thuốc từ nhiều năm xuống còn vài tháng.
Các hãng dược lớn như Roche, Boehringer Ingelheim và Moderna đã hợp tác với các công ty lượng tử như IBM hoặc PsiQuantum để thăm dò mô phỏng phân tử, phản ứng hóa học và các bài toán liên quan đến phát triển thuốc, bao gồm cả các ứng dụng cho bệnh Alzheimer và mRNA.
Dù mới ở giai đoạn nghiên cứu, McKinsey cho rằng các bước thử nghiệm này đang định hình "điểm khởi đầu" của ngành dược lượng tử trong thập niên tới.
Tuy vậy máy tính lượng tử vẫn còn một chặng đường dài phía trước. Ông Sinha cảnh báo ngưỡng để chứng minh "lợi thế lượng tử thương mại" đầu tiên là khoảng 100 qubit logic - mức mà toàn ngành dự kiến chỉ đạt được trong giai đoạn 2028 - 2029.
"Để có tác động quy mô lớn như khám phá thuốc mới hay tối ưu logistics toàn cầu, chúng ta cần 1.000 đến 10.000 qubit logic, nhiều khả năng phải đến giữa thập niên 2030", ông Sinha chỉ ra.
Phản ứng thị trường cũng cho thấy tiềm năng ngành vẫn còn phải "chứng minh bản thân". Hầu hết cổ phiếu các công ty lượng tử đều biến động mạnh sau khi mới niêm yết, có mã giảm hai con số chỉ vài tuần sau ngày lên sàn.
Ông Marc Einstein, Giám đốc nghiên cứu tại Counterpoint Research, cho rằng viễn cảnh mỗi gia đình sở hữu một máy tính lượng tử trên bàn làm việc "có lẽ còn cách xa nhiều thập niên". Trong bối cảnh đó, mô hình lượng tử dưới dạng dịch vụ (Quantum-as-a-Service) có thể là bước đầu tiên để người dùng "chạm" đến công nghệ này.
Mô hình này tương tự cách hầu hết người dùng AI hiện nay không tự vận hành các trung tâm dữ liệu tại nhà. Thay vào đó, các tập đoàn lớn sở hữu hạ tầng lượng tử và cho doanh nghiệp, nhà nghiên cứu khác truy cập từ xa.
Cuộc đua máy tính lượng tử, vì thế, chưa phải là cuộc đua tốc độ, mà là cuộc đua bền bỉ. Những diễn biến nóng đầu năm 2026 chỉ là vạch khởi đầu của một hành trình rất dài phía trước.
Tin Gốc: https://tuoitre.vn/lan-song-may-tinh-luong-tu-sau-con-sot-ai-20260410231901369.htm

