Từ luận văn tốt nghiệp của sinh viên Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM), một nghiên cứu về kỹ thuật mới giúp AI trả lời câu hỏi trắc nghiệm ổn định hơn được đăng trên tạp chí quốc tế Q1.
Khởi nguồn từ một luận văn tốt nghiệp đại học, công trình nghiên cứu của thầy trò khoa khoa học và kỹ thuật máy tính của trường này đã được công bố trên tạp chí quốc tế hàng đầu về trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục sau khi trải qua nhiều vòng phản biện.
Bài báo Enhancing Large Language Model Performance for Automatic Zero-Shot Multiple-Choice Question Answering via Single-Token Logit Prompting của nhóm tác giả từ Việt Nam đã được công bố trên tạp chí Computers and Education: Artificial Intelligence.
Đây là tạp chí mở thuộc Nhà xuất bản Elsevier, hiện xếp hạng Q1, đứng đầu lĩnh vực giáo dục (Education), hạng 4 trong lĩnh vực khoa học máy tính ứng dụng (Computer Science Applications) và hạng 5 lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI- Artificial Intelligence), theo SCImago.
Nhóm tác giả gồm Đặng Phú Quốc – cựu sinh viên Trường ĐH Bách khoa (đồng tác giả chính), Trần Trương Tuấn Phát – giảng viên Trường ĐH Bách khoa (đồng tác giả chính), TS Vũ Đức Lý (giảng viên Trường ĐH Quốc tế Miền Đông), Nguyễn Song Thiên Long và Võ Thị Như Quỳnh cùng là sinh viên năm thứ ba Trường ĐH Bách khoa, được PGS.TS Quản Thành Thơ – Trưởng khoa khoa học và kỹ thuật máy tính Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM) hướng dẫn.
Công trình tập trung vào đề xuất kỹ thuật viết lời nhắc (prompting) mới mang tên Single-Token Logit (STL) nhằm nâng cao độ chính xác và tính ổn định của các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) khi tự động trả lời câu hỏi trắc nghiệm (MCQ). Tác giả Đặng Phú Quốc cho biết nghiên cứu xuất phát từ luận văn tốt nghiệp đại học của anh.
“Ban đầu mình chỉ đặt mục tiêu giải quyết tốt một bài toán chuyên môn về mô hình ngôn ngữ lớn, chứ không kỳ vọng sẽ được công bố trên tạp chí thứ hạng cao. Sau khoảng 28 tháng kể từ khi bắt tay nghiên cứu, đến tháng 3-2026 công trình đã được đăng trên tạp chí Computers and Education: Artificial Intelligence”, anh Quốc chia sẻ.
Thông tin thêm, anh Trần Trương Tuấn Phát cho hay nhóm đã trải qua nhiều vòng phản biện kín hai chiều. Mỗi vòng đều yêu cầu những cải tiến đáng kể như bổ sung thí nghiệm, làm rõ cách diễn giải, củng cố định hướng nghiên cứu và tái cấu trúc bản thảo.
Việc lựa chọn nơi nộp bài được nhóm thực hiện theo gợi ý của Nhà xuất bản Elsevier. Chỉ sau khi được chấp nhận, nhóm mới có thông tin đây là tạp chí đứng đầu thế giới trong lĩnh vực giáo dục (Education). “Đó là kết quả đặc biệt mà chính nhóm tác giả cũng không ngờ tới”, PGS.TS Quản Thành Thơ nói thêm.
Từ thực tế nghiên cứu, nhóm nhận thấy hiện tượng gọi là giới hạn Multiple-Choice Symbol Binding (MCSB) làm giảm đáng kể độ tin cậy của LLM, nhất là khi ứng dụng vào chấm bài hay xây dựng ngân hàng câu hỏi của lĩnh vực giáo dục. Vì thế, nhóm đề xuất kỹ thuật Single-Token Logit (STL).
Thay vì đưa toàn bộ đáp án và yêu cầu mô hình chọn A – B – C – D như thông thường, STL tách từng đáp án riêng biệt và yêu cầu mô hình đánh giá theo dạng đúng – sai cho từng lựa chọn.
Hệ thống lần lượt hỏi “Đáp án này có đúng không?” và sử dụng xác suất của token “yes” để đánh giá mức độ phù hợp. “Cơ chế này giúp mô hình xác minh từng lựa chọn một cách độc lập, không bị chi phối bởi vị trí hay nhãn đáp án, khắc phục trực tiếp hạn chế của giới hạn MCSB”, anh Phát nói về ưu điểm của nghiên cứu.
Nghiên cứu còn tích hợp kỹ thuật Retrieval-Augmented Generation (RAG) cho phép mô hình truy xuất kiến thức bên ngoài khi cần, giúp tăng độ chính xác theo ngữ cảnh cũng như kiểm tra độ ổn định của giải pháp trong các điều kiện khác nhau.
Khi thử nghiệm trên ba bộ dữ liệu khoa học chuẩn gồm ARC, OpenBookQA và SciQ, STL cho kết quả ngang bằng hoặc vượt trội so với nhiều phương pháp phổ biến với mức cải thiện lên tới 11 điểm phần trăm trong một số cấu hình, đồng thời giảm đáng kể chi phí tính toán.
Về tiềm năng ứng dụng, kỹ thuật STL có thể hỗ trợ giáo viên rà soát đề thi, tự động gợi ý đáp án cho câu hỏi chưa có lời giải, hỗ trợ chấm bài và phát triển các hệ thống học tập thông minh có khả năng giải thích kết quả đánh giá.
Theo PGS.TS Quản Thành Thơ, công bố không chỉ đóng góp xuất sắc về mặt giá trị học thuật đối với các nghiên cứu trong lĩnh vực LLM mà còn cho thấy việc nâng cao độ tin cậy của AI không nhất thiết phải đến từ mô hình lớn hơn hay kiến trúc phức tạp. “Đôi khi chỉ một thay đổi nhỏ trong cách thiết kế lời nhắc (prompt) cũng có thể tạo ra khác biệt lớn trong ứng dụng thực tế”, ông Thơ nhận định.
Liên quan đến vụ phụ huynh vào trường đánh học sinh 10 roi, ngày 7/4, thông tin từ UBND xã Lương Thế Trân (tỉnh Cà Mau) cho biết, xã đã giao Phòng Văn hoá - Xã hội chủ trì tổ chức kiểm điểm đối với Hiệu trưởng Trường Tiểu học Phú Hưng A.
Còn đối với 2 giáo viên chủ nhiệm và bộ môn chứng kiến vụ việc, xã yêu cầu hiệu trưởng tổ chức kiểm điểm, xử lý trách nhiệm theo thẩm quyền.
Trước đó nhà trường đã yêu cầu 2 giáo viên này làm tường trình sự việc, đồng thời tạm dừng đứng lớp trực tiếp đối với 2 giáo viên, điều chuyển sang thực hiện các công tác văn phòng.
Nhà trường cũng yêu cầu phụ huynh học sinh cam kết không tái phạm hành vi xâm phạm thân thể học sinh trong khuôn viên trường học; giáo dục lại hai học sinh; tăng cường nhắc nhở giáo viên và bảo vệ giám sát chặt chẽ việc phụ huynh ra vào trường trong các khung giờ cao điểm.
Theo lãnh đạo xã Lương Thế Trân, các đơn vị đang thực hiện kiểm điểm theo quy trình, sau khi có kết quả sẽ báo cáo về UBND xã.
Như Dân trí đã đưa tin, trước đó em K.V.G.H. có hành vi đánh em H.L.N.Y. (cùng học chung lớp 3 tại Trường Tiểu học Phú Hưng A). Giáo viên chủ nhiệm đã mời phụ huynh 2 bên làm việc và thống nhất hòa giải.
Phụ huynh của em Y. đã đưa ra yêu cầu rằng nếu em H. tiếp tục đánh em Y. thì "phải chịu đánh 10 roi". "Giao kèo" này đã được bà ngoại của em H. và chính em H. chấp nhận.
Vào chiều 25/3, em H. và em Y. tiếp tục xảy ra mâu thuẫn dẫn đến va chạm. Sau khi nghe con kể lại sự việc, phụ huynh em Y. đã liên hệ với gia đình em H. để xử lý.
Phụ huynh của em Y. sau đó đã thực hiện việc đánh em H. 10 roi theo "giao kèo" thống nhất trước đó, với sự chứng kiến của giáo viên và bà ngoại em H..
Vào 8 giờ 30 sáng nay (11.4), Báo Thanh Niên phối hợp với Bộ GD-ĐT tổ chức chương trình Tư vấn mùa thi 2026 tại Trường ĐH Cửu Long.
Chương trình diễn ra đồng thời ở các kênh: thanhnien.vn, fanpage Facebook, kênh YouTube, TikTok Báo Thanh Niên.
Tham dự trực tiếp chương trình có khoảng 4.500 học sinh lớp 11 và 12 của gần 30 trường THPT tại nhiều địa phương: Vĩnh Long, An Giang, Cà Mau, Đồng Tháp và TP.Cần Thơ.
Rộn ràng ngày hội Tư vấn mùa thi sáng nay tại Trường ĐH Cửu Long
ảnh: Duy Anh
Từ ngày 17.4 đến hết ngày 21.4, các trường THPT sẽ tổ chức cho thí sinh là học sinh đang học lớp 12 thử đăng ký dự thi trực tuyến trên Hệ thống quản lý thi của Bộ GD-ĐT. Có thể nói, đây là thời gian rất quan trọng với học sinh lớp 12 nói riêng và thí sinh thi tốt nghiệp THPT, xét tuyển vào ĐH nói chung. Trước thời điểm này, chuyên gia tuyển sinh đến từ các trường ĐH sẽ có những lời khuyên, thông tin lưu ý cần thiết với thí sinh cách đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT và xét tuyển vào ĐH năm nay.
Trong khi đó, cuối tuần qua, học sinh vừa hoàn thành đợt 1 kỳ thi đánh giá năng lực của ĐH Quốc gia TP.HCM để xét tuyển vào các trường ĐH, CĐ. Điểm của kỳ thi này có giá trị như thế nào đối với việc xét tuyển vào ĐH năm nay, thí sinh có nên tiếp tục tham dự đợt 2 của kỳ thi này không khi thời điểm này trùng với lịch thi học kỳ 2?
Nội dung quan trọng của chương trình là phần tư vấn chuyên sâu của đại diện các trường ĐH xung quanh kỳ thi và xét tuyển năm 2026, giải đáp băn khoăn về lựa chọn ngành học, trường học phù hợp với bản thân. Với tình hình xét tuyển ĐH năm nay, thí sinh cần lưu ý những điều gì để trúng tuyển đúng ngành, trường yêu thích?
Đây là thông tin GS-TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục Việt Nam nêu ra trong một hội thảo quốc tế tại Hà Hội, sáng 8.4.
"Theo khảo sát, họ làm việc khoảng 10 tiếng/ngày, đến trường từ khi mới mở cửa và ra về khi đã đóng cửa trường. Nhiều thầy cô phản ánh họ chỉ chăm sóc con người khác, không có thời gian chăm sóc con mình và gia đình", GS Lê Anh Vinh nói.
Từ đó ông Vinh cho rằng, cần phải thiết kế chế độ làm việc linh hoạt, phù hợp với nhóm giáo viên mầm non trên cả nước. Cần có kinh phí để chi trả cho giáo viên, bảo mẫu trong việc đón sớm, trả muộn…
Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục Việt Nam cũng nhấn mạnh cần thay đổi trong cách bảo đảm quyền của trẻ em. Phải tiếp cận theo hướng quyền của trẻ em là những thứ chúng ta không thể lấy đi của trẻ chứ không phải những gì chúng ta có thể mang lại cho trẻ.
Đại diện một số cơ sở mầm non tư thục cũng nêu thực trạng tuyển dụng giáo viên khó khăn và không ổn định. Nhiều giáo viên trẻ nghỉ sau sinh cũng nghỉ việc luôn với lý do con họ không có người chăm sóc.
Chỉ 23% cơ sở mầm non tiếp nhận trẻ dưới 2 tuổi
Bà Helle Buchhave, Trưởng nhóm toàn cầu về giới, Ngân hàng Thế giới cũng nêu những thông tin đáng chú ý, như: chỉ 23% cơ sở mầm non công lập nhận trẻ dưới 2 tuổi, so với 66% ở khu vực tư thục; 11% trường mầm non công lập có số trẻ vượt quá khả năng tiếp nhận chính thức. Có địa phương như tỉnh An Giang, các xã có khu công nghiệp không có cơ sở nào dành cho trẻ dưới 3 tuổi.
59% người sử dụng nhóm chăm sóc trẻ theo gia đình (FCG) đánh giá mức độ kích thích, phát triển chưa đạt kỳ vọng; 66% không hài lòng với cơ sở vật chất của FCG. Đã ghi nhận các trường hợp bạo hành tại các cơ sở nhóm chăm sóc trẻ độc lập (ICG) và FCG ở khu công nghiệp.
75% bà mẹ có con dưới 2 tuổi hiện chưa sử dụng dịch vụ chăm sóc trẻ em, nhưng sẽ sử dụng dịch vụ có đăng ký với chi phí hợp lý nếu có sẵn. Điều này cho thấy nhu cầu là có, nhưng nguồn cung chưa đáp ứng.
Theo báo cáo, chỉ 8% cơ sở mầm non công lập hoạt động sau 18 giờ, so với hơn 33% ở khu vực tư/ICG và 40% ở FCG. Chỉ 7% cung cấp dịch vụ vào thứ bảy. Trong khi, công nhân làm việc theo ca tại các khu công nghiệp đòi hỏi dịch vụ phải linh hoạt vào buổi tối và cuối tuần.
Chỉ 1,6% trẻ em di cư diện KT4 được tiếp cận dịch vụ công lập, so với 34% ở nhóm thường trú. Trẻ em di cư có khả năng tiếp cận dịch vụ công lập thấp hơn 27 - 30 lần. Đây là mức chênh lệch lớn nhất về công bằng tiếp cận...
Bà Helle Buchhave cũng đề xuất nhiều giải pháp, trong đó chính sách đãi ngộ giáo viên, xây thêm trường công lập, chính sách khuyến khích khu vực trường ngoài công lập tồn tại và phát triển,...