Việt Nam đang đẩy mạnh đầu tư công, phát triển hạ tầng, mở rộng khu công nghiệp, phát triển các khu đô thị và tăng cường thu hút dòng vốn FDI, song song với thúc đẩy chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng.
Chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp, SME hiện diện ở hầu hết các mắt xích của chuỗi giá trị, từ việc tham gia đấu thầu những gói thầu xây dựng dự án hạ tầng, bất động sản quy mô vừa và nhỏ, đến các nhà thầu phụ, doanh nghiệp cung ứng vật liệu, thiết bị, dịch vụ xây dựng, logistics và vận tải hỗ trợ. Mỗi SME đều góp phần bảo đảm tiến độ và hiệu quả của các công trình hạ tầng, khu công nghiệp và đô thị trên khắp cả nước.
Thực tế cho thấy, Chính phủ cũng đang đẩy mạnh cơ chế để SME tham gia sâu hơn, mở ra cơ hội để doanh nghiệp nội địa từng bước phát triển và nâng cao năng lực. Tuy nhiên, phía sau những công trình hạ tầng và dự án quy mô lớn là một chuỗi cung ứng phức tạp, nơi dòng tiền, tiến độ và năng lực tài chính của từng mắt xích đều có tác động đến toàn cục.
Bài toán đặt ra không chỉ là “có cơ hội tham gia hay không”, mà là làm thế nào để SME có đủ nền tảng tài chính và năng lực vận hành nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của dự án.
Trước áp lực về dòng tiền và tiến độ khắt khe, vai trò của ngân hàng ngày càng mở rộng, không chỉ dừng lại ở việc cung cấp tín dụng đơn lẻ mà còn trở thành đối tác tài chính chiến lược, tham gia điều phối dòng vốn, bảo lãnh nghĩa vụ và tối ưu dòng tiền trong toàn chuỗi cung ứng. Đây là nền tảng quan trọng giúp SME – dù ở khâu đấu thầu, thi công, cung ứng hay logistics có thể tham gia hiệu quả và bền vững vào công cuộc kiến thiết quốc gia.
Với định hướng đồng hành dài hạn cùng cộng đồng SME kiến tạo “Việt Nam mới”, Techcombank – một trong những ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu tại Việt Nam đã phát triển hệ sinh thái giải pháp tài chính toàn diện, được “may đo” theo nhu cầu của SME, đặc biệt là các doanh nghiệp tham gia dự án hạ tầng, bất động sản và chuỗi cung ứng trọng điểm.
Một trong những điểm nhấn là giải pháp bảo lãnh siêu tốc với thời gian phát hành chỉ trong vòng một giờ – thuộc nhóm nhanh nhất thị trường hiện nay. Giải pháp giúp doanh nghiệp kịp thời hoàn thiện hồ sơ, chủ động tham gia các gói thầu có yêu cầu tiến độ gấp.
Bên cạnh đó, Techcombank áp dụng chính sách miễn phí bảo lãnh dự thầu, hỗ trợ SME tiết giảm chi phí ngay từ giai đoạn tiếp cận dự án. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng, việc giảm áp lực chi phí ban đầu được xem là lợi thế đáng kể, góp phần nâng cao khả năng trúng thầu của doanh nghiệp.
Song song với bảo lãnh, Techcombank triển khai giải pháp tín dụng ứng vốn nhanh không cần tài sản đảm bảo, với tỷ lệ ký quỹ có thể lên tới 0%* theo chính sách từng thời kỳ. Giải pháp mang lại nguồn lực tài chính linh hoạt, giúp SME bổ sung vốn lưu động, đáp ứng yêu cầu về năng lực tài chính trong quá trình triển khai dự án mà không phải “chôn” vốn vào tài sản bảo đảm – vốn là rào cản phổ biến đối với nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Việc tiếp cận vốn nhanh và linh hoạt giúp doanh nghiệp duy trì dòng tiền ổn định trong suốt vòng đời dự án, từ giai đoạn trúng thầu, thi công cho đến nghiệm thu và thanh toán.
Không chỉ tập trung vào bài toán vốn, Techcombank còn đẩy mạnh các giải pháp chuyển đổi số nhằm hỗ trợ SME nâng cao hiệu quả vận hành. Thông qua nền tảng Techcombank Business và dịch vụ bảo lãnh trực tuyến kết nối với Cổng mua sắm công quốc gia, doanh nghiệp có thể giảm đáng kể thời gian xử lý thủ tục, tối ưu chi phí và nâng cao tính chủ động trong quản lý tài chính.
Các sản phẩm bổ trợ như thẻ tín dụng doanh nghiệp cũng giúp SME linh hoạt hơn trong thanh toán, hỗ trợ quản lý chi tiêu và dòng tiền ngắn hạn trong quá trình triển khai dự án.
Chia sẻ về định hướng đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp, ông Henry Lam – Giám đốc Cao cấp Ngân hàng số Bán lẻ, Techcombank cho biết: “Mỗi doanh nghiệp SME là một mảnh ghép quan trọng trong bức tranh phát triển của “Việt Nam mới”. Thông qua việc đồng hành cùng doanh nghiệp từ tiếp cận cơ hội, triển khai dự án đến vận hành bền vững, Techcombank mong muốn trở thành đối tác lâu dài giúp doanh nghiệp tăng trưởng, tối ưu vận hành, và nâng cao năng lực cạnh tranh, phù hợp với định hướng của Chính phủ trong việc phát huy vai trò trung tâm của khối doanh nghiệp tư nhân trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”.
Với sự thấu hiểu đặc thù ngành và nhu cầu tài chính theo từng giai đoạn dự án, Techcombank tập trung đồng hành cùng hai nhóm SME trọng tâm: các doanh nghiệp trực tiếp tham gia đấu thầu dự án hạ tầng, bất động sản; và các nhà thầu, nhà cung ứng trong chuỗi giá trị của các công trình trọng điểm. Thông qua việc kết nối nguồn lực tài chính, thúc đẩy số hóa và tối ưu dòng tiền, ngân hàng hỗ trợ doanh nghiệp chủ động nắm bắt cơ hội tăng trưởng, tham gia sâu hơn vào tiến trình phát triển kinh tế – xã hội.
Trước đó, tại Techcombank Investment Summit 2025 với chủ đề “Việt Nam mới – Tầm nhìn kiến tạo giá trị”, Techcombank tái khẳng định cam kết đồng hành cùng khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là cộng đồng SME, nhằm khơi thông nguồn lực và chung tay xây dựng một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Song song với vai trò là đơn vị thu xếp vốn cho nhiều doanh nghiệp lớn trong các lĩnh vực kinh tế trọng điểm, việc phát triển các giải pháp chuyên biệt cho SME được ngân hàng xác định là một trong những hành động cụ thể để hiện thực hóa cam kết này.
Doanh nghiệp quan tâm đến các giải pháp dành cho SME có thể truy cập website của Techcombank hoặc liên hệ hotline 1800 6556 để được tư vấn chi tiết.
* Áp dụng theo chính sách và quy định của Techcombank, có thể thay đổi theo từng thời kỳ.
Phát họa bức tranh tổng thể của ngành cà phê Việt Nam, ông Nguyễn Thành Tài, Ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA) nói: Năm 2025, xuất khẩu cà phê đạt khoảng 1,59 triệu tấn, giá trị kim ngạch 9 tỉ USD nhưng xuất khẩu nguyên liệu vẫn là chủ yếu. phân khúc cà phê rang xay, hòa tan và phối trộn đạt hơn 1,4 tỉ USD nhưng phần lớn nằm trong tay của các doanh nghiệp FDI.
Để nâng cao kim ngạch xuất khẩu, chế biến sâu là con đường trực tiếp nhất. Thực tế, các sản phẩm chất lượng cao đòi hỏi nguồn nguyên liệu đồng đều, có khả năng truy xuất và đạt chuẩn. Vì vậy, càng đi sâu vào chế biến, doanh nghiệp càng buộc phải đầu tư bài bản cho vùng trồng, khâu sơ chế, logistics và hệ thống dữ liệu qua đó nâng cao giá trị cà phê nguyên liệu Việt Nam.
"Bên cạnh đó, chế biến sâu còn mở ra dư địa phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành cà phê. Một chuỗi giá trị hiện đại không chỉ dừng ở hạt cà phê mà còn khai thác hiệu quả các phụ phẩm như cascara, vỏ quả, sinh khối… Đây là lĩnh vực giàu tiềm năng nhưng vẫn chưa được khai thác tương xứng tại Việt Nam", ông Tài nhận định.
Ông Trần Văn Công, Tham tán Nông nghiệp Việt Nam xác nhận, Châu Âu là thị trường tiêu thụ cà phê Việt Nam nhiều nhất nhiều người dân EU, kể cả một số cán bộ công chức cũng không biết gì về cà phê Việt Nam. Nguyên nhân vì Việt Nam chủ yếu xuất cà phê nhân vào thị trường nàynên sản phẩm không có thương hiệu dẫn đến người tiêu dùng thông thường không ai biết gì về cà phê Việt Nam.
Theo ông Công, EU hiện là một trong 2 trung tâm tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới quy mô thị trường trên 26 tỉ USD và sản lượng hàng năm khoảng 2,7 triệu tấn. Đây là thị trường có sức mua rất lớn, với mức tiêu thụ bình quân gần 20 kg/ người/ năm nhưng Việt Nam mới xuất khẩu sang EU khoảng 580.000 tấn, đạt kim ngạch 3,2 tỉ USD, đứng thứ hai sau Brazil. Việt Nam mạnh ở khâu đầu chuỗi - cung cấp nguyên liệu,nhưng còn hạn chế ở các khâu có giá trị gia tăng cao, dẫn đến việc bỏ lỡ nhiều cơ hội nâng cao giá trị. "Những con số trên cho thấy tiềm năng, cơ hội và dư địa cho hạt cà phê Việt Nam còn rất lớn nếu biết cách đầu tư khai thác hiệu quả ở phân khúc chế biến sâu nhằm tạo ra giá trị gia tăng", ông Công lưu ý.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Đức Hưng, Giám đốc Công ty CP SX-TM-XNK Cà phê Napoli cho biết, tính chung cả nước, Việt Nam ước có khoảng 10.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cà phê nhưng ít doanh nghiệp mạnh và đặc biệt không có doanh nghiệp mạnh trên thị trường quốc tế. Trong khi như cả Trung Quốc chỉ có khoảng 500 doanh nghiệp, nhưng có rất nhiều doanh nghiệp tên tuổi. Tại Mỹ, số lượng doanh nghiệp cũng không nhiều nhưng đa số đều có năng lực cạnh tranh cao.
Ông Thái Anh Tuấn Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2.9 Đắk Lắk (Simexco Daklak) một trong những doanh nghiệp xuất khẩu cà phê lớn nhất Việt Nam hiện nay nói rằng: Để phát triển chế biến sâu, doanh nghiệp cần hội đủ ba yếu tố: vốn, công nghệ và thị trường. Doanh nghiệp phải đáp ứng đúng nhu cầu thị trường, đồng thời có nguồn cung ổn định từ các HTX. Hiện nay, hoạt động xuất khẩu được thực hiện theo các tiêu chuẩn quốc tế, với hệ thống truy xuất nguồn gốc đầy đủ. Người mua có thể truy xuất đến từng container, từng hộ nông dân và vùng trồng cụ thể. Đây là điều kiện quan trọng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Nhưng vấn đề đầu tư vào công nghệ chế biến, xây dựng và phát triển thị trường gắn với thương hiệu sản phẩm riêng thì cần phải có vốn lớn và lộ trình phù hợp. Hiện doanh nghiệp đang lựa chọn thị trường phù hợp, triển khai từng bước chắc chắn trước khi đầu tư mạnh vào chế biến sâu.
Ông Nguyễn Quang Bình, chuyên gia thị trường cà phê nhận định: Doanh nghiệp trong nước cũng chưa nhận được sự hỗ trợ tương xứng, đặc biệt từ hệ thống ngân hàng - lực lượng có vai trò quan trọng trong việc kết nối và duy trì chuỗi cung ứng. Trong khi đó, khối doanh nghiệp nước ngoài (FDI) được hậu thuẫn mạnh từ hệ thống tài chính để giữ vững vị trí trong chuỗi.
TS Đỗ Việt Hà, Phó Chủ tịch Hiệp hội nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cũng khẳng định: Nếu so với gạo hay thủy sản chính sách cho cà phê vẫn chưa tương xứng. "Một ngành đạt giá trị xuất khẩu đến 9 tỉ USD nhưng lại chưa có chính sách riêng để tiếp tục phát triển mạnh hơn nữa là vấn đề cần lưu ý", ông Hà trăn trở.
Nhà báo Tô Đình Tuân, Tổng biên tập Báo Người Lao Động, nhấn mạnh: Nếu thúc đẩy chế biến sâu hiệu quả, theo hướng chuẩn mực và nghiêm túc, ngành cà phê Việt Nam không chỉ dừng lại ở mức 8 - 9 tỉ USD mà trong vài năm tới hoàn toàn có thể hướng đến những cột mốc hàng chục tỉ USD. Để đạt được những kỷ lục mới, cần xác định chế biến sâu là một trục chiến lược quốc gia, với sự tham gia của doanh nghiệp, các cơ quan, ban ngành, các đơn vị liên quan và cả cơ quan truyền thông. Bên cạnh đó, cần tạo cú hích về tài chính cho doanh nghiệp, vì đây là điểm nghẽn lớn nhất. Muốn vậy, cần có chính sách miễn, giảm thuế; giảm thuế nhập khẩu máy móc. Ngoài ra cần phát triển vùng nguyên liệu chuẩn hóa. Nếu không có nguồn nguyên liệu đạt chuẩn thì không thể phát triển chế biến sâu.
Trong những năm vừa qua, BAF đang tích cực mở rộng trang trại chăn nuôi heo tại các tỉnh Nam Trung bộ và Tây nguyên. Nhà máy cám Bình Định khi đi vận hành sẽ cung ứng thức ăn chăn nuôi chủ yếu cho hệ thống trang trại của BAF tại khu vực này.
Cùng với 2 nhà máy khác đang đặt tại Tây Ninh phục vụ cho miền Nam và Nghệ An cho miền Bắc, việc vận hành thêm 1 nhà máy cám mới không chỉ là sự mở rộng về quy mô - hạ tầng, mà còn cho thấy chiến lược có tính hệ thống "trang trại ở đâu, nhà máy thức ăn mở rộng đến đó" của BAF.
Theo đại diện BAF, đối với chăn nuôi, chi phí sản xuất thức ăn chăn nuôi chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu giá thành sản phẩm đầu ra (thịt). Việc đặt nhà máy cám tại khu vực gần các trang trại giúp doanh nghiệp rút ngắn khoảng cách vận chuyển và các chi phí logistics khác, từ đó tối ưu về mặt quản trị vận hành và chi phí sản xuất.
Quan trọng hơn, nhà máy cho phép BAF chủ động nguồn thức ăn cho các trang trại trong khu vực, không phụ thuộc vào các nguồn cung thương mại từ bên ngoài, đảm bảo tính liên tục, ổn định và đồng nhất về mặt chất lượng trong quá trình chăn nuôi. Bên cạnh đó, miền Trung - Tây nguyên cũng là khu vực gặp khó khăn hơn về mặt vận chuyển với đặc thù địa hình và hạ tầng giao thông. Vì vậy, việc sở hữu nhà máy tại địa trí phù hợp không chỉ giúp giảm chi phí mà còn tăng khả năng phản ứng nhanh với nhu cầu thực tế từ hệ thống trang trại.
Sau khi đưa nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi Bình Định vào vận hành, BAF sẽ nâng tổng mức công suất tối đa của 3 nhà máy cám lên tương đương 750.000 tấn/năm. Trong đó, 2 nhà máy Tây Ninh và Nghệ An đã được cấp chứng nhận GLOBAL G.A.P. (Bộ tiêu chuẩn quốc tế về an toàn vệ sinh thực phẩm, quy trình sản xuất, và phát triển bền vững toàn cầu) và FSSC 22000 (Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm toàn diện).
Nhà máy Bình Định cũng đang được đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng hiện đại, chuyển đổi số, quản trị trên nền tảng công nghệ SAP ERP và vận hành sản xuất dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế đồng bộ với toàn hệ thống.
Trong mô hình phát triển Feed - Farm - Food, thức ăn chăn nuôi không đơn thuần là yếu tố đầu vào của vật nuôi, mà là nền tảng quyết định đến năng suất, chất lượng thành phẩm và hiệu quả kinh tế của toàn chuỗi sản xuất. Với BAF, an toàn thực phẩm chính là kết quả của toàn chuỗi vận hành hiệu quả, và Feed (sản xuất thức ăn chăn nuôi) chính là một mắt xích khởi đầu không thể thiếu, được doanh nghiệp đầu tư theo hướng chủ động và kiểm soát chặt chẽ.
Cụ thể, chủ động thông qua việc BAF tự nghiên cứu và phát triển công thức cám thuần thực vật, thay vì sử dụng các công thức thương mại sẵn có trên thị trường. Thành phần sử dụng trong cám thuần thực vật của BAF loại bỏ hoàn toàn các nguyên liệu từ động vật, thay bằng các nguyên liệu thực vật giàu dinh dưỡng như ngô, lúa mì, lúa mạch, khô dầu đậu nành, dầu cám gạo… kết hợp cùng khoáng hữu cơ, các axit amin thiết yếu giúp vật nuôi tăng khả năng hấp thu, tăng miễn dịch tự nhiên, hỗ trợ tiêu hóa hoạt động hiệu quả và giảm các nguy cơ bệnh tật.
Công thức được xây dựng bám sát với nhu cầu thực tế từ hệ thống trang trại giúp kiểm soát chất lượng theo một tiêu chuẩn đồng bộ và linh hoạt điều chỉnh dinh dưỡng phù hợp. Song song đó, doanh nghiệp cũng thiết lập quy trình kiểm soát nghiêm ngặt đối với nguyên liệu đầu vào. Từ khâu lựa chọn, kiểm định đến bảo quản, tất cả đều được thực hiện theo tiêu chuẩn nhằm đảm bảo độ an toàn và tính đồng nhất của sản phẩm thức ăn chăn nuôi.
Chiến lược dinh dưỡng cám không chỉ dừng lại ở bài toán chi phí, mà còn gắn trực tiếp với mục tiêu tạo ra nguồn thực phẩm sạch và an toàn cho thị trường. Khi thức ăn chăn nuôi được kiểm soát chặt chẽ từ đầu vào, sức khỏe vật nuôi cũng được đảm bảo, tạo nền tảng cho các sản phẩm thịt đạt tiêu chuẩn cao hơn khi đến tay người tiêu dùng.
Ngành nông nghiệp Việt Nam đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa, minh bạch về quy trình sản xuất, nguồn gốc sản phẩm, có tính quyết định trong việc nâng cao giá trị sản phẩm và củng cố niềm tin của thị trường. Từ việc xây dựng nền tảng năng lực sản xuất theo vùng đến chủ động kiểm soát dinh dưỡng và chất lượng đầu vào, BAF đang từng bước xây dựng một hệ thống vận hành đồng bộ và bền vững.
Ngày 7.4, Chủ tịch HĐTV EVN Đặng Hoàng An chủ trì cuộc họp với các Chủ tịch, Tổng giám đốc công ty điện lực, lãnh đạo Ban Quản lý dự án Điện 1 bàn giải pháp triển khai BESS trên lưới điện.
Theo ông Đặng Huy Cường, Thành viên HĐTV EVN, đến năm 2025, tổng công suất BESS được đầu tư trên toàn cầu khoảng 300.000 MW, cho thấy BESS đang trở thành xu thế tất yếu trong quá trình chuyển dịch năng lượng.
Tại Việt Nam, khi tỷ trọng năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn điện ngày càng cao, BESS sẽ phát huy hiệu quả rõ ràng trong việc nâng cao tính ổn định của hệ thống điện. BESS góp phần phủ đỉnh phụ tải, qua đó có thể giảm hoặc thay thế một phần nhu cầu đầu tư vào các nguồn điện chạy đỉnh truyền thống và có thể hỗ trợ cung cấp điện, giảm nguy cơ quá tải trong các giai đoạn cao điểm...
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Công thương tại Thông báo kết luận số 198/TB-BCT ngày 8.8.2025, để đáp ứng nhu cầu phụ tải đỉnh, đảm bảo khả năng cung ứng điện năm 2026 và các năm tiếp theo, EVN giao các Tổng công ty, đơn vị chủ động đầu tư lắp đặt BESS trên lưới điện.
Bà Đỗ Nguyệt Ánh, Chủ tịch HĐTV Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC), cho biết qua rà soát, khảo sát, các trạm biến áp 110 kV có khả năng triển khai BESS với tổng công suất có thể lắp đặt khoảng 530 MW, với thời gian lưu trữ 2 giờ, tương đương 1.060 MWh.
EVNNPC đã trao đổi, phối hợp với Công ty Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO), trong giai đoạn 1 đầu tư BESS với tổng công suất 305 MW, dự kiến hoàn thành cuối tháng 6 và tiếp tục triển khai những năm tới.
EVN giao Tổng công ty Điện lực TP.Hà Nội (EVNHANOI) phát triển BESS với tổng công suất 275 MW. EVNHANOI đang thí điểm triển khai BESS với công suất 50 MW tại 5 trạm biến áp.
Ông Nguyễn Phước Đức, Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), cho biết đơn vị đang làm việc với các doanh nghiệp để nghiên cứu, triển khai BESS tại đảo Phú Quý. Trên lưới truyền tải điện, Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia dự kiến đến tháng 1.2027 sẽ hoàn tất lắp đặt 100 MW BESS đầu tiên tại các trạm biến áp. Ban Quản lý dự án Điện 1 (EVNPMB1) được EVN giao nghiên cứu đầu tư BESS với tổng quy mô từ 300 - 500 MW, đến nay đã khảo sát và bước đầu xác định 4 vị trí tiềm năng tại miền Bắc.
Trong Quy hoạch điện 8 điều chỉnh, pin lưu trữ năng lượng đến năm 2030 đạt từ 10.000 - 16.300 MW. Theo EVN, triển khai các dự án BESS vẫn đang đối mặt với một số khó khăn, cần sớm được tháo gỡ từ quy hoạch, loại hình đầu tư, đến lựa chọn vị trí lắp đặt, hệ thống tiêu chuẩn - quy chuẩn áp dụng… Ngoài ra, vấn đề an toàn cháy nổ trong lắp đặt, vận hành BESS đặt ra yêu cầu đặc biệt nghiêm ngặt.
Chủ tịch HĐTV EVN Đặng Hoàng An nhấn mạnh, phát triển BESS được xác định là một trong những giải pháp quan trọng trong quá trình vận hành và phát triển hệ thống điện. Có ưu điểm nổi bật với thời gian triển khai lắp đặt nhanh, dù chi phí đầu tư hiện vẫn ở mức tương đối cao nhưng khi đặt trong tương quan tổng thể với các nguồn điện truyền thống, BESS không hẳn kém lợi thế, đặc biệt nếu xét đến các giá trị về tính linh hoạt và hiệu quả vận hành hệ thống.
Chủ tịch HĐTV EVN yêu cầu các đơn vị cần nhìn nhận BESS trong tổng thể nhiều vai trò và chức năng, không chỉ giới hạn ở 2 mục tiêu là phủ đỉnh phụ tải và giảm quá tải hệ thống điện; và cần xây dựng lộ trình phát triển BESS bài bản, đồng bộ, bảo đảm hiệu quả đầu tư.
EVN sẽ cùng Viện Năng lượng và NSMO kiến nghị Bộ Công thương xem xét, tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, chính sách để tạo điều kiện triển khai BESS trên diện rộng.