Mục Lục
ToggleNgân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) giảm lãi suất huy động 0,5%/năm kể từ ngày 13.4. Cụ thể, lãi suất đối với kỳ hạn có lãi suất huy động cao nhất (kỳ hạn 24 tháng) được điều chỉnh giảm 0,5%/năm xuống mức 6%/năm; các kỳ hạn khác sẽ được tiếp tục rà soát để điều chỉnh phù hợp. Với điều chỉnh này, lãi suất huy động tại tất cả các kỳ hạn của Vietcombank đều không vượt quá mức 6%/năm. Theo Vietcombank, giảm lãi suất huy động sẽ giúp các ngân hàng từng bước tối ưu chi phí vốn đầu vào, gia tăng dư địa cho việc giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ cá nhân và doanh nghiệp phát triển sản xuất – kinh doanh.
Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) giảm lãi suất huy động với mức giảm từ 0,3% đến 0,5% bắt đầu từ ngày 11.4 tùy theo kỳ hạn. Theo đó, lãi suất huy động kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng giảm 0,3%/năm, còn 6,45 – 6,65%/năm; kỳ hạn từ 15 tháng đến 36 tháng giảm mạnh 0,5%/năm, còn 6,45%/năm.
Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) giảm lãi suất ở nhiều kỳ hạn 6 – 36 tháng với mức giảm từ 0,3 – 0,5%/năm. Cụ thể, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6 – 9 tháng giảm 0,5%/năm, xuống còn 6,1%/năm; kỳ hạn 10 – 24 tháng giảm 0,3%/năm, còn 6,3%/năm. Riêng kỳ hạn 36 tháng được điều chỉnh giảm 0,5%/năm, xuống mức 5,6%/năm kể từ hôm nay.
Động thái giảm lãi suất của các ngân hàng sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chiều 9.4. Theo định hướng của NHNN, các ngân hàng thương mại đồng thuận cao việc giảm mặt bằng lãi suất huy động nhằm tạo dư địa hạ chi phí vốn cho vay cho nền kinh tế, mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp và người dân.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/ngan-hang-dong-loat-giam-lai-suat-tiet-kiem-05-nam-185260410163515804.htm

Từ sau khi hoàn thành sáp nhập, mở rộng địa giới hành chính đến nay, gần như không tuần nào, các sở chuyên ngành của TP.HCM không có văn bản khẩn gửi UBND TP để báo cáo thông tin liên quan tới việc triển khai các dự án hạ tầng trọng điểm. Nhu cầu kết nối giao thông nội đô giữa 3 cực tăng trưởng (vùng lõi TP.HCM - Bình Dương - Bà Rịa-Vũng Tàu), giải quyết bài toán ùn tắc giao thông hiện hữu, rồi kết nối tới cảng hàng không, cảng biển…, hàng loạt những bài toán cấp bách về kinh tế tạo sức ép rất lớn lên tiến độ nối thông "huyết mạch" giao thông. Đó là lý do UBND TP.HCM liên tiếp chỉ đạo đưa các dự án trong kế hoạch vào diện khẩn cấp hoặc cấp bách phải làm ngay, còn với các công trình đang "nóng máy" thì quyết liệt đẩy tiến độ tới từng dự án.
Mới nhất, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được đã đề nghị thủ trưởng các sở, ngành, chủ đầu tư và các đơn vị liên quan dồn lực bảo đảm mốc tiến độ các dự án giao thông trọng điểm trên địa bàn theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Trong đó, dự án xây dựng đường Vành đai 3 TP.HCM và dự án cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu cần hoàn thành toàn bộ, đưa vào khai thác trước 30.6. Đối với tuyến đường sắt đô thị số 2 đoạn Bến Thành - Tham Lương, lãnh đạo UBND TP.HCM yêu cầu các đơn vị đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn thành toàn bộ dự án và đưa vào vận hành trong năm 2030. Với tuyến đường sắt đô thị số 2 đoạn Bến Thành - Thủ Thiêm, Chủ tịch UBND TP yêu cầu khẩn trương tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt dự án, đảm bảo đủ điều kiện khởi công dự án trước ngày 30.4. Tuyến đường sắt Thủ Thiêm - Long Thành cũng cần đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị đầu tư dự án, phấn đấu khởi công trước ngày 30.6.
Bên cạnh đó, TP.HCM đang đặt yêu cầu khởi công 3 siêu cảng biển tỉ USD gồm Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ; Cảng tổng hợp và container Cái Mép Hạ (giai đoạn 1) và Cảng Cái Mép Gemadept - Terminal Link (giai đoạn 2) ngay trong tháng này để chào mừng kỷ niệm 51 năm ngày đất nước thống nhất (30.4.1975 - 30.4.2026). Dịp này, dự án Trung tâm Chính trị - Hành chính mới tại Thủ Thiêm và Công viên, quảng trường ven sông tại Bến Nhà Rồng cũng sẽ chính thức được khởi công. Sau khởi công, tiến độ các siêu công trình này cũng rất "căng" khi đa số đều đặt mục tiêu hoàn thành trong giai đoạn 2028 - 2030.
Không chỉ các sở, ngành chạy đua với tiến độ, hàng loạt doanh nghiệp (DN) tư nhân đăng ký nghiên cứu hay đề xuất đầu tư các dự án trọng điểm của TP.HCM cũng phải bật trạng thái "khẩn" cho tất cả các đầu việc. Đơn cử, Liên danh Tập đoàn Đầu tư và Phát triển Công nghiệp Becamex - CTCP (Becamex) - Công ty CP Tập đoàn Trường Hải (Thaco) trong văn bản gửi UBND TP.HCM đề xuất nghiên cứu 2 tuyến metro nối từ trung tâm TP.HCM tới trung tâm hành chính Bình Dương cam kết tối đa trong 3 tháng sẽ hoàn thiện phương án đầu tư, nếu được chấp thuận giao dự án sẽ hoàn thành các thủ tục pháp lý ngay trong năm nay, đảm bảo đủ điều kiện khởi công vào quý 1/2027 và hoàn thành đưa vào khai thác vận hành cả hai tuyến vào năm 2030.
Liên danh Tập đoàn Đèo Cả - Trí Tín kiến nghị thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường trên cao dọc Vành đai 2 phía nam (đường Nguyễn Văn Linh) cũng cam kết dồn mọi nguồn lực triển khai ngay trong năm nay để hoàn thành vào năm 2029.
Có thể thấy, không khí "hầm hập" đang bao trùm toàn ngành xây dựng của TP.HCM.
Đáng nói, nếu như trước đây các dự án chỉ lo không đủ vốn và mặt bằng để khởi công thì hiện nay, nỗi lo lớn nhất của Sở Xây dựng chính là các dự án khởi công nhanh nhưng không có đủ nhiên liệu, vật liệu xây dựng để làm.
Theo thống kê mới nhất của Sở NN-MT TP.HCM, trong giai đoạn 2026 - 2030, có 64 dự án triển khai trên toàn địa bàn TP nhưng nguồn cung vật liệu đang thiếu so với nhu cầu.
Riêng trong năm nay, đối với đá xây dựng, nhu cầu khoảng hơn 28 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ hơn 23 triệu m3, thiếu 4,5 triệu m3; cát xây dựng nhu cầu 15,56 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ 0,69 triệu m3, thiếu 14,87 triệu m3. Đối với cát san lấp, nhu cầu khoảng 52,89 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ 2,30 triệu m3. Tương tự, đất san lấp nhu cầu khoảng 23,67 triệu m3 nhưng công suất đang khai thác chỉ 12,69 triệu m3, thiếu 11 triệu m3.
Trong khi đó, tình hình nhu cầu và khả năng cung ứng vật liệu xây dựng giai đoạn 2027 - 2030 cho 46 dự án trọng điểm cũng không khả quan. Đơn cử cát xây dựng dù nhu cầu cần đến 61,3 triệu m3 nhưng khả năng cung ứng chỉ được 3 triệu m3, thiếu đến 58,3 triệu m3. Hay cát san lấp, nhu cầu cho 46 dự án trọng điểm đến hơn 177 triệu m3 nhưng chỉ đáp ứng được hơn 2 triệu m3, còn thiếu đến hơn 175 triệu m3.
Các dự án chưa triển khai đã lo, các công trình đang trong giai đoạn tăng tốc về đích còn khổ gấp nhiều lần vì "vừa chạy vừa chờ". Cụ thể, dự án Vành đai 3 TP.HCM đoạn phía tây theo kế hoạch phải thông xe kỹ thuật chậm nhất ngày 31.12.2025, hướng tới khai thác toàn tuyến vào 30.4.2026. Tuy nhiên, mốc hoàn thành đã được điều chỉnh tới trước ngày 30.6.2026. Dù vậy, ghi nhận thực tế trên công trường cho thấy nhiều đoạn tuyến vẫn còn ngổn ngang, thậm chí chưa hoàn tất đắp cát gia tải, vốn là khâu then chốt thường kéo dài 6 - 9 tháng.
Theo Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông TP.HCM - chủ đầu tư, các nhà thầu muốn thi công nhanh cũng không được vì vừa làm vừa phải chờ nguồn nguyên vật liệu "nhỏ giọt". Riêng nhu cầu đá của dự án lên tới 88.000 m3 nhưng hiện mới chỉ cung cấp được khoảng 26.000 m3. Tổng nhu cầu đá cho 5 gói thầu phía tây trong năm 2026 lên tới khoảng 1,2 triệu m3 nhưng nguồn cung từ các mỏ hiện còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu tăng tốc thi công.
Tương tự, cả 10 gói thầu tại dự án cải tạo kênh Tham Lương - Bến Cát - rạch Nước Lên đều đang chậm so với hợp đồng do vật tư cát, đá khan hiếm, giá tăng cao làm ảnh hưởng đến kế hoạch thi công của các nhà thầu. Công trình hiện cần khoảng 180.850 tấn bê tông nhựa, nhưng đến nay mới chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu. Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị TP.HCM (chủ đầu tư) lo ngại mục tiêu hoàn thành toàn bộ dự án vào cuối năm 2026 đang bị đe dọa.
Áp lực thiếu nguyên vật liệu còn nhân lên gấp nhiều lần khi các công trình đang phải gồng mình vượt "bão" giá dầu. Một số nhà thầu cho biết chi phí vận hành máy móc mỗi ngày đã tăng gấp đôi khiến họ phải "cắn răng" chịu lỗ để giữ tiến độ. Chưa kể, giá dầu tăng kéo theo giá nhựa đường tăng đột biến (gần 32%), giá các loại vật liệu như cát, đá, gạch cũng tăng từ 13,5 - 23,3% do chi phí khai thác và vận chuyển đường thủy/đường bộ leo thang. Đó là lý do nhiều gói thầu không thể duy trì phương thức "3 ca, 4 kíp" như trước vì càng làm càng lỗ. Một số đơn vị thậm chí phải tạm dừng các mũi thi công không cấp thiết để chờ điều chỉnh giá. Tiến độ các dự án trọng điểm từ khó chuyển hẳn sang ì ạch.
Trước tình trạng nói trên, Sở NN-MT TP.HCM đã đưa ra hàng loạt giải pháp cho năm 2026 để tăng cung. Đối với 4,5 triệu m3 đá xây dựng còn thiếu, giải pháp được đề xuất là nâng công suất khai thác tại 11 mỏ có chất lượng đá tốt và chủ đầu tư có đủ năng lực khai thác tại Bà Rịa-Vũng Tàu và Bình Dương (cũ). Dự kiến sau khi nâng công suất, các công trình sẽ có thêm hơn 7 triệu m3 đá, vượt nhu cầu. Đối với 14,87 triệu m3 cát xây dựng còn thiếu, có thể nâng công suất khai thác tại 10 mỏ, đáp ứng được 5,95 triệu m3. Số 8,92 triệu m3 còn lại có thể đẩy nhanh tiến độ từ việc nạo vét 22 hồ của TP. Tương tự, 25,96 triệu m3 cát san lấp còn thiếu cũng đã có kế hoạch chi tiết nạo vét từ nguồn sông nào, tận thu hồ ở đâu, nếu không đủ có thể thay thế bằng cách xay đá, rửa cát biển…
Như vậy, sau khi thực hiện các giải pháp huy động thêm thì đá xây dựng, cát xây dựng, đất san lấp có thể đáp ứng 100% nhu cầu, chỉ riêng cát san lấp vẫn thiếu khoảng 24,6 triệu m3 (46,5%) trong năm 2026. Riêng giai đoạn 2027 - 2030, sau khi thực hiện các giải pháp huy động thêm thì đá xây dựng và đất san lấp có thể đáp ứng 100% nhu cầu. Song, cát xây dựng vẫn thiếu 17,17 triệu m3 (tương ứng 28%), cát san lấp thiếu đến 170,74 triệu m3 (96%).
Giám đốc Sở NN-MT TP.HCM Nguyễn Toàn Thắng thông tin: Ngoài các biện pháp trên, Sở cũng đề nghị Thành ủy, UBND TP.HCM chấp thuận cho nâng công suất khai thác mỏ theo Nghị quyết số 66.4. Đồng thời, có cơ chế điều phối nguồn vật liệu, ưu tiên và nâng tỷ lệ cung cấp cho các công trình sử dụng vốn ngân sách của TP, kể cả đối với các mỏ được cấp phép khai thác phục vụ mục đích thương mại. Đồng thời, nguồn vật liệu tăng thêm từ việc "mở rộng, xuống sâu, thông moong, thông vách" được ưu tiên 100% cho các công trình vốn ngân sách của TP. Trường hợp các công trình không có nhu cầu sử dụng thì chủ mỏ mới được phép bán thương mại.
Ông Phan Tấn Đạt, Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Khoáng sản TP.HCM, nhìn nhận TP.HCM được xác định là cực tăng trưởng quan trọng đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số của cả nước. Vì vậy, các dự án cầu đường, hạ tầng cảng, xây dựng đô thị đã, đang và sẽ được triển khai không đơn thuần là xây dựng thêm vài con đường, cây cầu mà là thực hiện một cuộc "đại tu cấu trúc" để thoát khỏi chiếc áo hạ tầng đã quá chật chội, bước vào kỷ nguyên phát triển mới cùng dân tộc. Do đó, các dự án nếu chậm trễ sẽ đánh mất "thời điểm vàng" để TP.HCM chuyển mình. TP cần tập trung quyết liệt đưa ra những giải pháp tháo nút thắt nguồn vật liệu xây dựng để các công trình quan trọng đảm bảo tiến độ, giảm thiểu phát sinh chi phí vốn đầu tư.
Ông Đạt kiến nghị TP nhanh chóng cấp phép nâng công suất tối đa cho các mỏ đang khai thác. Các mỏ cần được phép xuống sâu vì càng xuống sâu thì chất lượng đá càng tốt, tận thu được tối đa, tránh lãng phí nguồn tài nguyên đá xây dựng đang có. Đối với các mỏ đã khai thác hết công suất hoặc còn nhiều trữ lượng đã được cấp giấy phép thì Sở NN-MT và các sở ngành liên quan cần tiếp tục tạo điều kiện hỗ trợ cho DN sớm hoàn thành hồ sơ thủ tục để trình UBND TP xem xét cấp giấy phép điều chỉnh tăng công suất theo nghị Quyết 66.4/2025.
Với các mỏ đã có văn bản chấp thuận chủ trương thăm dò xuống sâu, cho phép được thực hiện ngay hồ sơ thủ tục để xin cấp giấy phép thăm dò, phê duyệt trữ lượng và hoàn thành hồ sơ theo quy định để được cấp giấy phép khai thác khoáng sản mà không cần phải chờ việc khoanh định khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản. Song song, giải quyết ngay việc ưu tiên cho các DN đang hoạt động khai thác khoáng sản theo giấy phép đang còn hiệu lực được phép mở rộng xuống sâu mà không phải chờ việc khoanh định khu vực không đấu giá quyền khai thác.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/khan-cap-day-tien-do-loat-cong-trinh-trong-diem-185260409220935784.htm
Kinh Tế
EVN chủ động làm việc với tỉnh phía Nam để bảo đảm cung ứng điện năm 2026

Tại khu vực miền Nam, từ ngày 1 đến ngày 3.4, ông Cao Quang Quỳnh, Thành viên Hội đồng thành viên EVN, cùng lãnh đạo Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), lãnh đạo Trung tâm điều độ Hệ thống điện miền Nam (SSO) đã làm việc với UBND Tây Ninh, UBND TP.Cần Thơ và các sở ngành liên quan. Qua đó, ngành Điện và chính quyền địa phương đã quán triệt và thể hiện rõ tinh thần phối hợp chặt chẽ, cùng đồng hành để đảm bảo cung ứng điện trong cao điểm nắng nóng và cả năm 2026; đồng thời quyết tâm tháo gỡ khó khăn, vướng mắt để đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình lưới điện trên địa bàn.
Nhằm đảm bảo cung ứng điện trong mùa nắng nóng và cả năm 2026, bên cạnh các giải pháp quản lý, vận hành, các đơn vị Điện lực tại Tây Ninh và TP.Cần Thơ đặc biệt chú trọng đến công tác tiết kiệm điện, điều chỉnh phụ tải.
Theo đó, các đơn vị đã ký thỏa thuận tiết kiệm điện với các khách hàng lớn; phối hợp Sở Công thương, các cơ quan sở ngành và đoàn thể địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền tiết kiệm điện; theo dõi, đánh giá định kỳ kết quả thực hiện các chỉ tiêu tiết kiệm điện hằng tháng để kịp thời chấn chỉnh; triển khai hiệu quả công tác điều chỉnh phụ tải (DR), dịch chuyển phụ tải tự nguyện; làm việc với khách hàng để huy động máy phát điện diesel trong tình huống khẩn cấp của hệ thống điện…
Hiện, ngành Điện đã và đang chủ động triển khai các giải pháp, nỗ lực đảm bảo cung ứng đủ điện phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân. Tuy nhiên, trước tình hình nắng nóng đến sớm ở cả ba miền, thậm chí gay gắt tại khu vực miền Nam, tình hình chiến sự Trung Đông và bất ổn chính trị trên thế thế giới làm đứt gãy chuỗi cung ứng, ảnh hưởng đến an ninh năng lượng.
Ông Bùi Quốc Hoan, Phó tổng giám đốc EVNSPC cho biết, để đảm bảo cung ứng điện trong năm 2026, đặc biệt trước mùa khô, EVN, EVNSPC rất cần sự phối hợp chặt chẽ, vào cuộc mạnh mẽ hơn nữa của chính quyền các địa phương và khách hàng sử dụng điện trong triển khai 4 giải pháp trọng tâm: Quyết liệt trong sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả; khuyến khích lắp đặt điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu, kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS);đẩy mạnh chương trình dịch chuyển phụ tải vào các giờ cao điểm; tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ các công trình điện trên địa bàn, nhất là các công trình trọng điểm, cấp bách tăng khả năng cấp điện cho các địa phương.
Theo ông Nguyễn Mạnh Tùng, Giám đốc SSO, thời gian qua, được sự chỉ đạo từ các cấp thẩm quyền, SSO đã phối hợp với EVNSPC, các Công ty Điện lực phía Nam xây dựng, tham mưu và được UBND các tỉnh phê duyệt, ban hành danh sách phụ tải cấp điện ưu tiên, phương án cấp điện trong tình huống mất cân đối cung cầu hệ thống… Đây là cơ sở quan trọng để SSO, EVNSPC vận hành hệ thống điện an toàn, ổn định trong thời gian tới.
Khẳng định EVN sẽ nỗ lực tối đa để đảm bảo cung ứng điện cho phát triển kinh tế xã hội, sinh hoạt của nhân dân của các địa phương trong năm 2026, ông Cao Quang Quỳnh, Thành viên Hội đồng thành viên EVN, mong tiếp tục nhận sự hỗ trợ, phối hợp chặt chẽ hơn nữa của lãnh đạo UBND, cơ quan, sở ngành các tỉnh, thành phố….
Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đặc biệt yêu cầu tăng trưởng 2 con số, EVN, EVNSPC đã ưu tiên dành nguồn lực đầu tư phát triển lưới điện trên địa bàn tỉnh Tây Ninh và TP.Cần Thơ. Tuy nhiên, hiện còn rất nhiều công trình đang gặp rào cản trong công tác giải phóng mặt bằng và vướng mắc thủ tục đầu tư, ảnh hưởng đến tiến độ, trong đó có nhiều công trình trọng điểm, cấp bách đảm bảo điện cho địa phương. Do đó, ngành Điện rất cần sự vào cuộc quyết liệt hơn nữa của chính quyền các địa phương trong việc tháo gỡ những rào cản, vướng mắc nhằm đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình, nâng cao năng lực cung ứng điện.
Lãnh đạo EVN cũng kiến nghị chính quyền địa phương quan tâm, có chỉ đạo quyết liệt để người dân, doanh nghiệp, cũng như các cơ quan, ban ngành tại các tỉnh, thành phố thực hiện nghiêm Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 30/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà. Mục tiêu đặt ra là tiết kiệm 3% tổng sản lượng điện tiêu thụ, riêng các tháng cao điểm (tháng 4,5,6) phải phấn đấu đạt trên 10%; trong đó, nhóm cơ quan công sở yêu cầu phải tiết kiệm tối thiểu 5% so với cùng kỳ; nhóm chiếu sáng công cộng tiết kiệm tối thiểu 30% so với cùng kỳ; và nhóm thương mại dịch vụ tiết kiệm tối thiểu 50% phần chiếu sáng quảng cáo...
Là một trong những tỉnh có tăng trưởng phụ tải điện cao của khu vực phía Nam, trong đó thành phần công nghiệp - xây dựng chiếm tỉ trọng tới 71,63% điện thương phẩm, ông Nguyễn Hồng Thanh, Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Tây Ninh, đánh giá cao tinh thần chủ động, tích cực của EVN và các đơn vị trực thuộc trong việc chuẩn bị kỹ lượng, bài bản các phương án đảm bảo điện cho địa phương.
Phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc với EVN, ông Nguyễn Hồng Thanh yêu cầu cơ quan, sở ban ngành của tỉnh xây dựng kế hoạch thực hiện đồng bộ, phân định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đầu mối, từ đó sớm thống nhất, triển khai văn bản phối hợp giữa ngành Điện và địa phương làm căn cứ kiểm tra, giám sát trong quá trình triển khai. Đặc biệt, cần bám sát chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, thực hiện nghiêm yêu cầu "năm rõ, sáu rõ" trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
Đánh giá cao sự chủ động của EVN, EVNSPC và các đơn vị liên quan trong việc triển khai các giải pháp đảm bảo điện năm 2026, cũng như mùa khô sắp tới, ông Vương Quốc Nam, Phó chủ tịch UBND TP.Cần Thơ cho biết, thành phố đặt quyết tâm tăng trưởng 2 con số, kéo theo nhu cầu điện sẽ tăng trưởng mạnh. Để đảm bảo cung ứng đủ điện phục vụ phát triển kinh tế xã hội, chính quyền thành phố cam kết đồng hành cùng ngành Điện trong việc tháo gỡ những rào cản, vướng mắc, đặc biệt là công tác giải phóng mặt bằng các công trình điện trên địa bàn.
Lãnh đạo TP.Cần Thơ yêu cầu Sở Công thương, các cơ quan, Sở ngành liên quan trên địa bàn và Công ty Điện lực TP.Cần Thơ phối hợp chặt chẽ, trách nhiệm nhằm đẩy mạnh thực hiện sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong năm 2026.
Kinh Tế
Đề xuất nâng ngưỡng thu nhập xác định người phụ thuộc lên 3 - 4,5 triệu đồng

Theo quy định hiện hành, người ngoài độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động (bị khuyết tật, không có khả năng lao động) được xác định là người phụ thuộc để giảm trừ gia cảnh khi tính thuế thu nhập cá nhân phải đáp ứng điều kiện: không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1 triệu đồng.
Theo dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của luật Thuế thu nhập cá nhân (dự kiến có hiệu lực từ 1.7) mà Bộ Tài chính lấy ý kiến mới đây, để được xác định là người phụ thuộc, người ngoài độ tuổi lao động và người trong độ tuổi lao động (không có khả năng lao động), đều phải đáp ứng điều kiện: không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá mức theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính (chưa xác định cụ thể là bao nhiêu - PV).
Trao đổi với Thanh Niên, nhiều chuyên gia cho rằng, Bộ Tài chính cần nhanh chóng có dự thảo thông tư hướng dẫn chi tiết để lấy ý kiến cho kịp thời. Trong đó, ngưỡng thu nhập nêu trên cần nâng lên gấp nhiều lần.
Ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng (Trường đại học Nguyễn Trãi), phân tích: mức 1 triệu đồng/tháng không phản ánh đầy đủ khả năng tự đảm bảo nhu cầu thiết yếu của một cá nhân.
Điều này dẫn đến thực tế, có những trường hợp người nộp thuế đang trực tiếp hỗ trợ, nuôi dưỡng người thân với mức chi phí đáng kể, nhưng lại chưa được ghi nhận tương xứng trong chính sách giảm trừ.
Một số cơ sở có thể tham chiếu khi xác định ngưỡng mới có thể tính đến là: chuẩn nghèo và cận nghèo hiện hành, mức chi tiêu tối thiểu, cũng như tương quan với mức giảm trừ gia cảnh.
"Nâng ngưỡng thu nhập lên khoảng 3 triệu đồng/tháng có thể được xem là phương án cân bằng. Mức này đủ để phản ánh rõ hơn tình trạng phụ thuộc về kinh tế, đồng thời vẫn giữ được khoảng cách cần thiết để đảm bảo tính chọn lọc của chính sách", vị này đề xuất.
Luật sư Nguyễn Văn Được, Tổng giám đốc Công ty TNHH Kế toán và tư vấn thuế Trọng Tín, Ủy viên thường trực Hội Tư vấn thuế Việt Nam, cũng cho rằng, có thể tính toán nâng ngưỡng căn cứ tiêu chí đo lường chuẩn nghèo đa chiều quốc gia (chọn thu nhập bình quân theo chuẩn nghèo khu vực thành thị) hoặc theo lương cơ sở.
Hiện tại, lương cơ sở là 2,34 triệu đồng/tháng. Ở khu vực đô thị, thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình ở mức 2 triệu đồng/người/tháng được xác định là hộ nghèo; từ năm 2027, mức này nâng lên 2,8 triệu đồng/người/tháng.
Như vậy, có thể nâng ngưỡng từ 1 triệu đồng lên 2,34 triệu đồng hoặc 2,8 triệu đồng, giai đoạn sau đó áp dụng thả nổi để điều chỉnh tự động.
Theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán thuế Keytas, bình quân lương tối thiểu vùng áp dụng từ 2026, tương ứng mức 4,5 triệu đồng/người/tháng có thể cân nhắc là ngưỡng thu nhập xác định người phụ thuộc cho giai đoạn mới.
Khi mức giảm trừ gia cảnh thay đổi theo từng giai đoạn, ngưỡng thu nhập xác định người phụ thuộc có thể thay đổi tương ứng với sự thay đổi của lương tối thiểu vùng.
Tại dự thảo nghị định, nội dung mới được Bộ Tài chính đề xuất là: đối tượng "cá nhân khác" (không phải vợ, chồng, cha, mẹ, con) được tính là người phụ thuộc phải đáp ứng 4 điều kiện dưới đây:
Thu nhập không vượt quá mức do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định; thuộc danh sách hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo theo quy định pháp luật; được người nộp thuế trực tiếp chu cấp, nuôi dưỡng với mức tối thiểu bằng mức giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc; có xác nhận theo quy định.
Ông Được nhìn nhận, những điều kiện nêu trên khá chặt chẽ, có thể gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng.
Nhiều địa phương đang hướng tới mục tiêu xóa hộ nghèo, hộ cận nghèo. Việc dựa hoàn toàn vào tiêu chí này có thể phát sinh tình trạng, những trường hợp thực tế khó khăn nhưng không còn nằm trong danh sách hộ nghèo theo chuẩn hành chính.
Ở khía cạnh yêu cầu chứng minh chi phí nuôi dưỡng thực tế, nếu quy định quá chi tiết, như bắt buộc phải có giao dịch chuyển tiền hoặc chứng từ chi trả hàng tháng với mức tối thiểu bằng mức giảm trừ gia cảnh sẽ làm phát sinh thêm thủ tục, gây khó cho cả người nộp thuế và cơ quan quản lý.
"Thay vì yêu cầu người phụ thuộc phải thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo, quá cứng nhắc trong chứng minh chi phí nuôi dưỡng, có thể xem xét cơ chế xác nhận của chính quyền địa phương hoặc các hình thức cam kết phù hợp", ông Được đề xuất.

